Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2019

SUỐT ĐỜI GẶP MAY


Buổi sáng đi làm, Chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, Chị nghĩ:
“May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao”.
Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút. Bà phó phòng nói rằng Giám đốc cho gọi Chị. Chị nghĩ:

“Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.

Nhưng không có một lời khiển trách nào cả. Sếp gặp Chị để mong Chị thông cảm rằng, lẽ ra hôm nay Chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty. Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên Chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.

Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ:
“Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công hàng chục nghìn tỷ đồng, nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực. Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may. Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông Giám đốc tài ba và rất tử tế”.
Buổi chiều, Chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của Chị.

🌾Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, Chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay. Khi nghe chồng kể chuyện này, Chị nghĩ:
“Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”. Và chị lại làm một bữa để ăn mừng cái may của gia đình mình.

Chị xin nghỉ việc ở công ty, ra lập doanh nghiệp riêng. Thương trường như chiến trường. Ban đầu vất vả lắm. Ngược xuôi chèo lái con thuyền công ty. Nhưng chị luôn giữ một tâm thái lạc quan tích cực như vậy. Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông. Dần dà, công ty làm ăn khấm khá. Chị có dư của ăn của để.

Bữa Chị mua căn biệt thự, nhờ người bạn làm nghề điện nước đến lắp đặt toàn bộ hệ thống chiếu sáng trong và ngoài nhà. Chẳng ngờ, người bạn sinh lòng tham, lắp cho chị toàn bóng đèn hàng chợ nhưng tính với chị giá trên trời. Được dăm bữa, bóng đèn dở chứng, cái sáng cái tối. Ánh sáng chuyển màu, cái màu trắng cái màu vàng. Chị gọi ông bạn vàng kia thì mất hút. Chị chẳng lấy làm buồn. Chị bảo: "Cũng may không mua đèn của hắn để lắp cho showroom mà chị sắp khai trương. May mà có cậu em Thần Đèn tình cờ xuất hiện và thiết kế lại toàn bộ ánh sáng cho nhà chị. Nhà chị đẹp hơn, lung linh hơn rồi".

🌾Đến một ngày, Chị phát hiện chồng có bồ. Anh chị chia tay. Chị nói với anh lúc đứng ở cổng tòa: "Thôi vậy cũng may. May mà biết sớm để rồi kết thúc sớm. May mà con mình cũng đã đủ lớn để hiểu chuyện của bố mẹ nó và không oán trách ai cả".

🍁🍁🍁Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may. Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà những người sống quanh chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài.

Giờ đây tuy đã gần 50 tuổi rồi nhưng trông chị vẫn trẻ trung như tuổi 30.

Một lối sống lạc quan và tích cực là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được. Và đó còn là sự biểu hiện của một con người có trí tuệ và đạo đức.

Và chỉ những ai làm được điều đó thì mới xứng đáng để được hưởng bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

NGƯỜI HẠNH PHÚC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG HOÀN CẢNH THUẬN LỢI MÀ LÀ NGƯỜI CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC TRONG BẤT KÌ HOÀN CẢNH NÀO.

(ST)

BỐN “CHUYỆN LẠ” Ở NHẬT


✅ 1. Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka... cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách.
Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 - 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.
✅ 2. “No noise” - không ồn
Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.
Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.
✅ 3. Nhân bản
Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
✅ 4. Bình đẳng
Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.
Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.
Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.
Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu. Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

(Sưu tầm)

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

TÔ THÙY YÊN

Vĩnh biệt Tô Thùy Yên, một cựu học sinh Petrus Ký, một trong 5 nhà thơ nhóm Sáng Tạo, sáng lập phong trào thơ Tự Do của miền Nam. Tình cờ đọc trên FB bài viết về thơ Tô Thùy Yên của một cô giáo miền Bắc, thật cảm động và sâu sắc, tôi xin trân trọng giới thiệu với các bạn FB của tôi. 

Cô giáo là một người miền Bắc sanh năm 1974, lại yêu thơ miền Nam nồng nàn và sâu sắc. Hay quá. Đọc bài của Cô Thảo Dân, tôi tin tưởng nhiều hơn về sự hoà hợp hòa giải dân tộc, trước sau gì cũng đến, có hay không có Cộng Sản. Đây là một đoạn cô trích thơ Tô Thùy Yên trong bài thơ "Ta Về", sau khi được Cộng Sản thả về, người tù cải tạo trở về sau 10 năm:

"Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay..."

" Xưa giờ, tôi vẫn tự nhận mình mê thơ Nam hơn thơ Bắc. Bởi lẽ, với riêng tôi, thơ là tiếng nói thốt lên tự đáy lòng, không cần phiên dịch, không cần triết lý, không cần gò bó trong những trúc trắc diễm lệ câu từ. Thơ càng chau chuốt, bóng bẩy thì, hình như, cái tình càng ơ hờ, nhạt nhẽo. Thơ cũng không phải nơi để gửi gắm triết lý. Làm việc đó, văn xuôi và triết học tốt hơn nhiều. Thơ để cảm, để yêu, để nơi trái tim gặp gỡ trái tim. Vậy mà có một ngoại lệ, nhà thơ tôi yêu thích trong âm thầm, khá lâu bền, lại là người được giới phê bình nhận xét “Người Nam nhưng mang hồn thơ Bắc”: Nhà thơ Tô Thùy Yên.

Thật ra, trong cảm nhận của tôi, thơ Tô Thùy Yên có cả Nam, Trung và Bắc, có đủ triết, sử, đời. Nếu chọn đại diện duy nhất thơ cho một nước Việt Nam thống nhất, tôi trân trọng đề cử Tô Thùy Yên. Trong cái hệ lụy chung của Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, thì nó cũng để lại một trái đẹp lạ lùng, đó là sự pha trộn, làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn hóa miền Nam, và dường như, Tô Thùy Yên là thi nhân đặc biệt bắt được nhịp thở thời ông sống và nhập cả vào thơ điệu tâm hồn Bắc Trung Nam, làm nên một vóc dáng thơ vạm vỡ, uy nghi, lạ lẫm trong dòng chảy văn chương dân tộc với ngôn ngữ vừa dân dã vừa bác học, vừa bình dị vừa sang trọng, không lẫn vào ai khác.

Nếu nói thơ Chế Lan Viên độc đáo ở siêu hình, thì thơ Tô Thùy Yên siêu hình không kém. Nếu nói sự tráng lệ của câu chữ trong thơ Yến Lan, sự cổ điển của Quách Tấn, tìm trong thơ Tô Thùy Yên, đủ cả. Cảm hứng về thiện nhiên, vũ trụ trong thơ Huy Cận, Tô Thùy Yên không thua, chưa muốn nói còn rợn ngợp hơn. Về lối viết cách tân của Trần Dần hay sự tài hoa của Quang Dũng, Tô Thùy Yên có nhiều câu không hề kém cạnh. Thơ Tô Thùy Yên mang phong vị thơ Bắc ở cách diễn đạt văn chương, ở lớp lang từ ngữ ước lệ, tượng trưng của Đường luật, ở cách dùng ca dao độc đáo, duyên dáng. Tôi gọi Tô Thùy Yên là Nhà thơ không quê hương. Ông sinh ra ở Gia Định nhưng quê hương ông là Việt Nam. Thơ ông nói với ta như thế.

Thơ Tô Thùy Yên thể hiện một sự trái ngược khá lạ lùng. Ông là một trong 5 thành viên của nhóm Sáng Tạo (mà duy nhất ông là người Nam), một nhóm thơ mong muốn thổi vào thi ca Saigon khi đó một sự cách tân cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng trong những sáng tác của ông, ta thấy ông lại dùng tấm áo gấm cổ điển để gói bọc nội dung siêu hình, giàu tính triết học, vô cùng hiện đại. Bài thơ Cánh đồng con ngựa chuyến tàu viết năm 1956 khá tân kỳ. Đặt vào hoàn cảnh quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đó, nó mang tính thời sự rất cao nhưng vẫn không bớt chất lãng mạn, bay bổng. Bài thơ mở ra bức tranh động với hình ảnh cánh đồng một màu xanh cây cỏ nhưng không bằng phẳng êm xuôi mà có “gò nổng cao” và “thung lũng sâu”, như ẩn dụ về đường đời đầy thử thách. Trên nền màu xanh của cỏ cây, chú ngựa nâu đang rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu, còn đoàn tàu vẫn vô tri vô giác chạy mau, chạy mau, chạy mau để rồi rốt cuộc ngựa thua. Gục đầu, gục đầu, gục đầu ngã lăn và để lại trên tấm thảm xanh trải dài hút mắt một vết nâu.

Dường như, trong hai hình ảnh sóng đôi con ngựa và toa tàu không chỉ là cuộc phân tranh giữa “thảo mộc phương Đông và Tây phương cơ giới” như nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét, mà dường như, ý thơ còn muốn mở ra điều sâu kín hơn: Con tàu văn minh rất hiện đại nhưng không có hồn vía, không có sự sống, không có cảm xúc và vẫn chịu sự điều khiển của con người. Con ngựa (phải chăng là ẩn dụ về con người?), tuy phải trải qua những cung đường gập ghềnh, thử thách, nhưng luôn được sống trong những giây phút thăng hoa, có thể thắng thua trên đường đời nhưng luôn được làm chủ cảm xúc, luôn được là mình. Bài thơ là khúc hoan ca về cái tôi kiêu hãnh. Hoặc nữa, nó còn là một lời dự báo, một âu lo ngấm ngầm trong tiềm thức: Một ngày nào đó, nền văn minh công nghiệp sẽ tàn phá tất cả, bỏ lại loài người bị tước bỏ môi trường sống, không còn được thung dung như chú ngựa nâu an nhiên thuộc về cội nguồn thiên nhiên cây cỏ đồng hoang?

Nhưng, trong phạm vi một bài viết ngắn, không thể ôm đồm. Chỉ xin mạo muội chia sẻ một số suy cảm sơ sài về bản trường thi lộng lẫy trong kho tàng văn chương Việt Nam, được nhiều người ca tụng: TA VỀ.

TA VỀ- bản trường thi nhiều lớp lang, cảnh trí: cảnh trí đất trời, cảnh trí con người và cảnh trí của cõi lòng thê thiết. Mỗi khổ thơ tách riêng có thể thành một bài thất ngôn tứ tuyệt độc lập, chặt chẽ, hoàn hảo. Điệp ngữ “Ta về” được dùng như chiếc chìa khóa mở ra nội tâm nhà thơ từ lúc đặt chân xuống đường lớn, trả lại thân phận tự do. Bài thơ là tiếng lòng của một người, cũng là tiếng lòng của hàng ngàn người miền Nam bị đày ải khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, từ rừng hoang heo hút, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn… Đọc bài thơ, ta hiểu về lịch sử, tâm sử, chứ không chỉ là lời giãi bày khi trở lại quê nhà, thậm chí nhóm câu thơ tình ái trong bài cũng gợi về dòng lệ tràn của bao nhiêu thân phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975. Không riêng bài thơ này, mà trong toàn bộ sáng tác của Tô Thùy Yên, dường như ông luôn là người chép sử, luận triết bằng thơ. Ta gặp ở đây lối kết cấu nghệ thuật như trong thơ cổ. Trang đời mới mở ra sau cánh cổng nhà tù: Trở về, qua truông qua phá, gặp người quen cũ trên đường, gặp cha mẹ, gặp vợ con, đi thăm làng xóm, nhớ người còn người mất, tìm lại chính mình những ngày tháng cũ, đan xen là những suy tưởng để tìm lại mình và phá bỏ những xiềng xích tâm hồn 10 năm dằng dặc.

“Mười năm”, không phải quãng thời gian dài nhất mà một người tù VNCH phải trải qua. Lâu nhất phải kể đên Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Quang Khôi, Thiếu tướng Phạm Ngọc Sang, Thiếu tướng Phạm Duy Tất, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Mạch Văn Trường… đều bị tù từ tháng 5/1975- 1992, tức là 17 năm tù. Những người bị tù ít nhất cũng vài ba năm. Bản thân Tô Thùy Yên có tổng cộng 13 năm trong tù. Nhưng lần đầu, cũng là lần lâu nhất: 10 năm. Như vậy, nên hiểu “mười năm” vừa chỉ thời gian có thật, vừa là khái niệm ẩn dụ, tròn một thập kỷ, đủ để thương hải tang điền, đủ cho người thay đổi và đời thay đổi.

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay.

“Ta về” được nhắc đi nhắc lại 16 lần, không phải tiếng reo vui, không phải lời báo tin mừng mà cả bài thơ nặng trĩu trầm ngâm suy tưởng. Ta về là kết thúc một phần đời đau khổ. Ta về để mở ra chương đời khác chưa biết có đỡ bi thảm hơn không. Ta về với những giấc mơ mười năm xóa trắng. Ta về mà như tiếng địch ngân xót xa sầu thảm của tráng sĩ thất trận qua sông.

Tôi hình dung ra một con người quần nâu, áo vải phai màu bởi nắng mưa xứ Bắc, thập thững đi cô độc trên đường. Đường vắng. Người gầy, bóng đổ. Cả bóng lẫn người đều câm lặng. Một cuộc trở về ngậm ngùi, không người thân đưa tiễn, không ai biết mà đón đợi. Ca dao có câu Mình về em chẳng cho về/ Em níu vạt áo em đề câu thơ. Phút chia tay, bút mực đâu mà đề thơ lên áo. Là dòng lệ của nàng vẽ lên áo một chữ Tình đó thôi. Đề thơ chỉ là cái cớ để bên nhau lâu thêm một chút. Cuộc tiễn đưa dùng dằng, lưu luyến. Nhưng với thân phận người tù cải tạo khi đó, còn sống mà trở về đã là việc thần kỳ, được rời bỏ địa ngục trần gian phút nào là biết mình được sống phút đó, còn có mong chi ai đề thơ vạt áo. Mười năm mong mỏi.

Vậy mà sao khi trở về lại “đau mềm phế phủ” đau thấu tâm can, đến nỗi đá cũng còn thay người ngậm ngùi rơi lệ? Bởi nhớ lại những đọa đày khó giấy bút nào tả xiết? Là nhớ những đoạn trường mẹ già, vợ dại con thơ truân chuyên đường xa dặm thẳm tàu xe cả tuần lễ mới tới nơi thăm nom, để dành cho một chút thức ăn từ những chắt chiu tằn tiện? Hay đau đứt ruột bởi những huynh đệ chi binh chia ngọt xẻ bùi, bảo bọc nhau qua ngày tháng khó, giờ chỉ là những nấm mồ hoang cô quạnh nằm lại nơi đất khách?

Trong bài “Tàu đêm” tái hiện cảnh đoàn tàu chở những người tù miền Nam đi đày biệt xứ, Tô Thùy Yên viết những dòng rền vang, chát chúa như lời trăng trối tuyệt vọng khi đoàn tàu như trong một cơn giông lửa, giữa đêm chạy về nơi vô định, về nơi cuối trời, và với nhiều thân phận, đó là chuyến đi về nơi cuối đời. Khi chạy qua những xóm làng tối đen im lìm của miền Bắc, những bến cảng, nhà kho, người tù nhớ mẹ, nhớ em, nhớ phố phường hoa lệ…, hình dung mình như một thứ sinh vật khổ đau bị nghiến dưới đường ray lịch sử vô tình, người tù tuyệt vọng thốt lên những tiếng kêu bi thảm để mong loài người mê sảng trong thứ chủ nghĩa giáo điều tăm tối đang im lìm kia, thức dậy để biết có những đồng bào, đồng loại đang còn có linh hồn, để cùng nhau sống.

Tàu ơi hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau

Ngược lại, khi trở về, chỉ là những thanh âm im lặng. Một mình một bóng. Và khi trở về, người tù hồi tưởng lại đoạn đời lao tù.

Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

Khổ thơ này là lời đoạn tuyệt 10 năm xa loài người, 10 năm sống trong âm ty địa ngục nhưng, ta vẫn bắt gặp tâm trạng kiêu hãnh kín đáo của kẻ chiến bại. Tựa vào rừng mà tồn tại. Câm lặng như rừng để giữ gìn chất Người dù cho bị đày đọa đến suy thoái cả hình hài, hoang dã như thời tiền sử. Thân bại nhưng vẫn âm thầm sống, mãnh liệt sống để danh không liệt.

Có lẽ, khổ thơ này chỉ nên đọc và cảm nhận, không cần bình luận gì nhiều về thân phận người tù. Để hiểu thêm, xin giới thiệu một vài khổ thơ trong bài “Mùa Hạn” nói về cảnh ngộ người tù, ông viết năm 1979 ở Nghệ An nhưng phải tới 15 năm sau nó mới được in trong “Thơ Tuyển”, năm 1995 ở Mỹ.

Ở đây địa ngục chín tầng sâu
Cả giống nòi im lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
Bước tới, chân không đè đá sắc
Vai trần chín rạn gánh oan khiên
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.

Tô Thùy Yên đã chép lại một thời kỳ tăm tối mà ông và chiến hữu đã trải qua, thời kỳ kinh khủng, giữa thời đại văn minh mà con người bị đày đọa như súc vật đến nỗi, chung xiềng mà không dám nhìn mặt, nghiến đến chết cứng hàm răng, mắt ứa máu, vì thương bạn, thương mình, vì thân phận bị cầm tù đau xót, vì mang nỗi hận của hùm thiêng khi đã sa cơ, chỉ tồn tại với nước khe, cơm độn, nắng cháy, cát bay, rừng khô rụm, sông hồ nẻ, đá nứt, muông thú không còn, khoai sắn cũng bị dân làng đào sạch, thú hóa con người đến mức cầu được chết đi vì sống nhục nhằn hơn đau khổ hơn là chết.

Để tồn tại và vượt thoát, có người tù còn nói câu để đời: “Con gì nhúc nhích được là ăn hết”. Đó vừa là bản năng sống, vừa là bản lĩnh người. A.I.Solzhenitsyn có tác phẩm Tầng đầu địa ngục đoạt giải Nobel Văn chương năm 1970, tái hiện cuộc sống của những nhà khoa học hàng đầu của Liên xô bị giam cầm như trong địa ngục dưới thời Stalin, khiến cả thế giới bàng hoàng về sự độc ác mà con người phải trải qua. Nhưng đó vẫn là Tầng đầu, tầng cao nhất mà Dante có thể nghĩ ra trong Thần khúc để dành chỗ cho khoa học gia, những người dám chống lại cả Chúa, còn những người tù trong thơ Tô Thùy Yên, thì đó là Tầng thứ 9. Đủ cho người đọc lạnh người.

Hành trình trở về qua truông qua phá, lặng lẽ, im lìm, trời câm đất nín, đời im lìm, đóng váng. Người tù trở về, là người tự do trong thân phận cá chậu chim lồng đâu còn có thể hót lên bài ca cũ. Nhưng may mắn, họ không bị chai sạn tâm hồn, vẫn có thể “ngẩn ngơ trông trời đất cũ” cho dù đó không phải sự “ngẩn ngơ” lãng mạn tìm thi hứng, mà đó là nỗi xót xa cho phận người, phận mình, xót xa cho nỗi hưng phế suy vong của lịch sử.

Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.

Thời gian mười năm được nhắc lại, nhẹ như hơi thở mà chất chứa bao điều. Thế giới già đi, quê hương tan nát sau bao mùa bom đạn, quê hương tàn tạ sau mỗi chuyển dời. Đất bạc màu bởi người chết, người bị tù đày, người đi lên vùng kinh tế mới? Chỉ biết quê hương không còn là quê cũ trù phú, xanh tươi, sum vầy. Điệp ngữ “đất bạc màu” nghe như tiếng thở dài nuối tiếc, xót xa, bất lực. Trước sau, tấm lòng kẻ sĩ vẫn là nỗi trăn trở khi đặt những bước chân đầu tiên trở lại sau mười năm xa vắng.

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió chuyển mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy ghi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.

Có lẽ ám ảnh bởi không gian vũ trụ siêu hình, nên trong thơ Tô Thùy Yên hay nhắc về các loài chim, dường như nó trở thành một hệ thống thi pháp khi ông diễn tả về thời gian, không gian: Con chim thần thoại mắt khoen sâu/ Giật mình như đã ngàn năm ngủ/ Giữ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu/ Hót gọi tiền thân ta tái sinh (Mùa hạn) Núi xa chim giục giã hoàng hôn (Tưởng tượng ta về nơi Bản Trạch) Con chim nào hớt hải kêu van (Bất tận nỗi đời hung hãn đó) Con chim động giấc gào cô đơn (Trường Sa hành) Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc (Mòn gót chân sương nắng tháng năm) Con chim lạc bạn kêu vườn rộng (Vườn hạ), Giữ khuya có tiếng chim ai oán (Nỗi đợi) Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn/ Nghe chừng gãy những cánh chim bay (Tháng Chạp buồn)…

Hình ảnh “bóng chim qua trễ” như một ám ảnh cô độc, lẻ bầy, cũng là chỉ sự trễ muộn của đời người, đi với “gió chuyển mùa” càng gợi sự trống vắng. Tất cả đều đã hư hao, muộn màng, tất cả đã lỡ thời theo ngọn gió heo may của tuổi chớm đông. Để rồi còn lại, vẫn là nỗi trăn trở khi những vọng động của lịch sử sẽ ngưng ngơi, rơi vào thinh không im lặng, mười năm, bao nỗi bi thương của dịch chuyển thời thế, bao đau khổ của núi lở sông bồi, đau thương, ly tán. Đã ai ghi…vừa là câu hỏi, vừa là lời tự sự mà lại như một tiếng than thầm. Mười năm ấy, cổ lục chưa từng có sử gia biên chép. Biết bao nhiêu máu lệ, ghi mấy cho vừa. Phải vậy chăng, mà Tô Thùy Yên tình nguyện làm người chép sử bằng thơ?

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

Đây là một khổ thơ có thể cắt riêng thành một bài tứ tuyêt tài hoa, chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Người xưa dạy, rộng lớn nhất là đại dương, rộng hơn đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người. Tô Thùy Yên đã giải phóng mình khỏi nỗi hận thù, thấm nhuần giáo lý từ bi hỉ xả của nhà Phật, để lòng mình sánh ngang với trời đất, lắng nghe và cảm tạ lượng đất trời. Vì mình từ tâm nên mới nhìn thấu đất trời từ tâm. Ai đã từng trải qua những cảnh ngộ mà nhà thơ từng trải, sẽ hiểu rằng, được sống, được trở về từ nơi đã từng đày đọa mình “thành vượn cổ sơ”, là may mắn đến nhường nào. Chính vì thế, cuộc đời dù cay đắng vẫn đáng yêu đáng sống, khi vượt qua địa ngục trần gian càng biết trân quý những vẻ đẹp quanh mình. Ngắm một đóa hoa nở cũng đủ coi như ân điển.

Thấp thoáng từ những câu thơ tài hoa là nụ cười an nhiên của người đã qua kiếp nạn, thấm đẫm tinh thần của Lão, Trang, nhìn thấy Đạo ngay từ cánh hoa, ngọn cỏ. Tâm thiện mở ra tận cùng mới cảm nhận được sự từ tâm vô lượng của vũ trụ. Tô Thùy Yên đã chạm tới cái vô hạn của nhân chi sơ tính bổn thiện. Không phải tới khi trải qua khổ nạn, Tô Thùy Yên mới thấu lẽ vô vi. Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã có những vần thơ xót xa cho người lính phía bên kia chiến tuyến vừa sốt rét vừa đói lả nhưng vẫn xích lời nguyền sinh Bắc tử Nam để rồi từ đó bật lên khát khao nhân bản, giá như cả hai đều gom góp sức lại thì mặt đất này khác đến bao nhiêu. Ngay thời điểm chiến tranh đang hồi ác liệt, mà có sự bao dung, vượt lên trên chiến tuyến đó, còn là gì nếu không phải tâm thế của người vượt thoát giỏi các giới hạn, mà cụ thể trong hoàn cảnh này, là vượt lên hận thù ý thức hệ để nhìn xa hơn cho tương lai dân tộc, bởi nhân thức được sự hữu hạn của kiếp người?

Khổ thơ tiếp theo bừng thức như ánh sáng chói lòa trong một giấc mơ:

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

Ngập tràn không khí cổ thi của một thời chinh chiến. Nhà nhà, người người lên đường theo tiếng trống trận, theo điệu kèn xuất binh hùng tráng. Nô nức ra đi nô nức lên đường. Đến cả con ngựa đá cũng không cầm lòng được, cũng biết sang sông. Những câu thơ linh hoạt hẳn lên, bừng sáng, giàu màu sắc, hình ảnh, âm thanh, gợi tôi nhớ tới lời sấm Ngựa đá sang sông của cụ Trạng Trình, sông đổi dòng để ngựa đá qua bờ bên kia, thời cuộc thay đổi. Phải chăng, đó chính là ước mộng của một chiến binh kiêu dũng, vừa thoát ngục tù từ bên kia chiến tuyến đã mơ tìm lại nước, ước mơ tìm được đấng minh quân để tạo dựng cơ đồ? Không hiểu sao, đọc khổ thơ này, trong trí óc tôi lại cứ hiện lên hình ảnh bao con người có vẻ ngoài lầm lũi, cam chịu, nhẫn nại đang ngày đêm âm thầm cho những cuộc vượt thoát. Bằng đường biển, đến con ngựa đá cũng sang sông, cũng muốn ra đi. Giấc mộng mãi mãi chẳng viên thành, chỉ còn lại thực tại ê chề cay đắng nên lời thơ như có máu lệ sa xuống đầu ngọn bút.

Ta về như lá rơi về cội… đoàn tụ, xum vầy, nhân quần tề tựu quanh bếp lửa. Bởi mười năm mới được trở lại nhà. Giang hồ có kẻ “một tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”, huống chi người mười năm mới được ngồi bên bếp lửa đang độ cuối thu. Chén rượu hồng đây rưới xuống. Cho bạn. Cho thù. Cho những ai còn sống và đã khuất. Cho chiến hữu còn âm u đất lạ quê người trong cảnh lao tù, cho cả những người đã tự chọn cho mình một con đường, bỏ nước ra đi. Tha thứ và làm lại từ đầu cho được thành người, không để kẻ nào vùi dập. Ngôn từ ngậm ngùi, hình ảnh đẹp bi tráng, không khí cổ thi vẫn đậm đặc.

Ta về như hạt sương trên cỏ… hạt sương đẹp, khúc xạ cả mặt trời, trong sáng, tinh khôi nhưng lại ngắn ngủi, phù du đến vô thường, nên người ta hay ví sự ngắn ngủi của kiếp người, của cuộc đời như là sương trắng. Hạt sương trên cỏ chính là bước đi của thời gian, ngắn ngủi hữu hạn đặt cạnh vô cùng vô tận để rồi chợt nhận ra satna bên cạnh vĩnh hằng. Tuy mong manh nhưng lại chứa sức sống mãnh liệt của không gian, thời gian, đa diện, đa sắc, phải vì thế chăng mà ở câu thơ sau tác giả nhắc tới sinh, dị, diệt trong Đạo Phật để tìm cho thấy cái tâm thế an nhiên tự tại. Đời người như gió như sương. Đời người như chớp mắt. Đặt cạnh số phận dân tộc, nó càng mong manh, vô thường. Ai rồi cũng hư vô. Vậy mà hạt sương bé bỏng vẫn phải tội tình. Hãy liên hệ với thực tại khi đó của thân phận những người tù vừa ở trại cải tạo về để cảm nhận tâm thế chấp nhận hoàn cảnh và lời than thầm của nhân vật trữ tình.

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh…
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên…

Một loạt hình ảnh tỉ dụ với những hình ảnh chỉ sự hữu hạn, mong manh, hư vô, đẹp đến mơ hồ.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.

Có bùa thiêng nào kể lại được nỗi nhà mười năm xa vắng? Gỗ đá không thức dậy. Nhưng cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Từng mái, vách, tường xiêu, nhện giăng, khói ám, mối xông, giậu nghiêng cổng đổ, thềm cỏ um tùm, khách cũ không còn ai, người mất, người tù, người biệt tích… há chẳng phải cảnh vật đang kể lại một câu chuyện vô ngôn của cảnh nhà đơn chiếc, cha mẹ già như đĩa dầu hao, vợ lặn lội chạy ăn từng bữa nuôi con chờ chồng, những đứa con lớn lên không có bóng dáng cha đó sao? Đoạn thơ nói về cảnh vật mà người đọc hình dung ra bao biến cải bể dâu, nhớ tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều: “Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”. Chỉ cần nhắc một lần để rồi phải sống. Hãy nhớ, bên cạnh yếu tố triết học, những ám ảnh không gian, thời gian, cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, thơ Tô Thùy Yên chính là thi sử, là những trang đời âm thầm máu lệ của ông và những đồng hữu thời hậu chiến, và vượt lên tất cả là khí phách là thái độ sống của một người quân tử, không trói buộc lòng mình vào hận thù, khắc hận thù vào trong dạ nhưng không để nó làm vẩn đục đời sống tinh thần.

Những câu thơ dành cho người vợ tào khang khiến người đọc không khỏi xúc động.

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

Ca dao Nam Bộ có câu: Chờ anh em quá sức chờ/ Chờ cho rau mác lên bờ trổ bông. Rau mác cùng họ với lục bình, nhưng lá nhọn như hình lưỡi mác. Hoa cũng tim tím như lục bình nhưng bông nhỏ và ít hoa hơn. Nếu lục bình nổi lênh đênh trên mặt sông, kênh rạch, thời gian sinh trưởng ngắn thì rau mác có thể sống nhiều năm, mọc cố định ở đồng bưng, về mùa nước nổi, rau mác theo nước vươn lên, cọng trắng phau, mập tròn, có thể bứt làm thức ăn. Rau mác luôn mọc chòi lên bờ, như ước muốn thoát khỏi thân phận cây dại. Rau mác trổ bông quanh năm, vậy mà cô gái đã trách chàng trai để mình “quá sức chờ” lối nói thậm xưng chỉ sự ngóng trông đằng đẵng. Vậy mà 10 năm đợi chờ, bao nhiêu mùa rau mác trổ bông? Đủ thấy tấm lòng người vợ trung trinh với tiếng lòng đồng vọng. Em vẫn chung thủy đợi chờ, như lẽ tất nhiên, như điều bình dị, như lòng biển mênh mông nhẫn nại.

Có người cho rằng, đây là so sánh thiếu tế nhị, thiếu mềm mại và không thích đáng. Kể ra không phải không có lý. Biển vĩ đại, sóng ngầm, bão tố, phong ba…đặt người đàn bà trong so sánh với biển, dữ dội quá, tuồng như không giống với những phẩm chất dịu hiền, thương khó mặc định của đàn bà Việt. Nhưng hãy đọc lại bao trang viết về những người vợ có chồng đi cải tạo, vừa lặng thầm chăm lo cha mẹ, vừa như con gà mẹ xù cánh che chở nuôi dạy con khỏi sự cô lập, kỳ thị của người đời, vừa thu vén chắt bóp thăm chồng đường xa vạn dặm, không chỉ đối mặt với bao khó khăn về vật chất, mà cái khổ lớn nhất là sự chịu đựng, o ép, đe dọa về tinh thần, thì không so sánh nào sâu sắc, hàm ơn bằng hình ảnh người vợ chờ chồng như biển chờ sông.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm đã nhạt mờ…
…Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.

Những câu thơ này đặc phong vị Bắc. Nó làm người đọc liên tưởng tới câu ca dao thao thiết Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn/ Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ và Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ. Tôi không biết khi viết những điển tích, những chỉ dấu Bắc kỳ tuyệt đẹp này, ông đã đọc những câu ca dao Bắc này chưa, nếu chưa, thì quả thực chất Bắc đã ngấm vào hồn thơ ông hồn nhiên, nhuần nhị như năm xưa Tướng quân Trần Nhật Duật lên miền ngược uống rượu với người Man, thuần thục đến mức được coi như gã người Man chính hiệu.

Tôi đặc biệt thích khổ thơ:

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.

Tại sao lại là “bóng ma hờn tủi”? Là bởi vì bị bức tử về tinh thần, bị o ép về mặt thân xác, đã thành một con ma người tồn tại ở cái buổi nghi kị, tố giác, căm thù và độc địa. Nhưng nhân vật trữ tình trong thơ Tô Thùy Yên, luôn luôn cảm nhận rõ cảnh ngộ, thân phận, và có phần nào an phận, nhưng tuyệt đối không cúi đầu. Vượt lên tất cả nghịch cảnh là sự tiếc nuối, xót xa, thương yêu, bao dung và tha thứ. Buộc phải “chết”, bị ép vào tuyệt lộ nhưng vẫn không bao giờ đánh mất mình. Mười năm ta vẫn cứ là ta. Điềm đạm, ngang tàng, uy vũ bất năng khuất. Nếu ở khổ thơ trên, một bông hoa nở cũng đủ để nhà thơ cúi đầu cảm tạ, thì tới đây, ông lại “thương từng phế liệu”, những dấu tích thời chiến, dấu tích của cuộc đời khác, thuở được làm người.

Một mối tương liên khi nhìn những mảnh phế liệu mà nghĩ tới phận mình, mình giờ đây có khác gì mảnh phế liệu thành vô danh ngay trên mảnh vườn nhà. Nhìn thấy ở mỗi sự vật đều có linh hồn, để mà thương lấy mình, để mà sống cho nhân ái khoan hòa. Tâm thế đó dường như là một chất riêng của thơ Tô Thùy Yên. Ông vượt thoát các giới hạn, không phải để lảng tránh, mà để đối mặt, nhìn rõ bản chất, không để hận thù mà để thứ tha. Bởi thế, tôi cho rằng, thơ Tô Thùy Yên còn giàu Phật tính, không chỉ riêng trong bài thơ này.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.

Từ ngàn xưa, trong tâm thức văn hóa Á Đông, Hạc được ví như chim thiêng, là linh vật bất tử trong thế giới loài chim. Hạc có sải cánh dài rộng, bay vút trời cao, vượt muôn trùng mây, sánh với người ưu tú có năng lượng sống dồi dào, mạnh mẽ đương đầu khó khăn sóng gió, lại trong sạch thuần khiết giống bậc quân tử, tiếng kêu thánh thót của nhân tài. Do đó, Hạc được xem như biểu tượng của trí tuệ và cốt cách thanh cao, vượt khỏi đời tầm thường tục lụy. Đây là khổ thơ xứng làm cái kết cho bản trường thi lộng lẫy, thể hiện sự song hành giữa cái hữu hạn bên cạnh cái vô hạn, giữa thanh cao và tục lụy, giữa buông xả và luyến thương. Đời là cõi tạm, còn ta chỉ như loài chim quý trót nặng lòng thương nhớ trần gian một thuở làm người mà về lại bên đời, để rồi vỗ cánh. Thế thì những tù đầy, oan trái còn xảy ra thêm vài lần nữa cũng có gì đáng sợ. Trong tầm vòng giới hạn của kiếp người, Tô Thùy Yên đã làm được điều mà ông hằng trăn trở. Dù đời người hữu hạn, vũ trụ vô cùng, nhưng bằng những thi phẩm để lại cho đời, ông xứng là con chim hạc bay qua miền đất này và cất tiếng lòng bi tráng, thống thiết, thánh thót, chạm tới tận cùng những cung bậc cảm xúc.

TA VỀ- Đâu chỉ là về với quê hương bản quán mà nó còn là cuộc trở về với bản thể, trở về với chính mình để truy tìm những câu hỏi lớn: Rốt cuộc, sau bao nhiêu thống khổ, ta là ai? Ta là cánh hạc vàng bay trong chiều thương nhớ để dâng đời khúc hát của một đời ly loạn, không phải để hận thù, chia biệt, mà để loài người biết thương xót nhau thêm.

Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Người Việt gần đây, Tô Thùy Yên có kể lại một kỷ niệm rằng, thập niên 90, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong khi thu xếp để chờ đi Mỹ, khi đến nhà chơi có nói: “Đất nước này rồi sẽ phải trải qua những biến động lịch sử tan tác kinh hồn chẳng thể cản tránh được, tôi ra đi xa lánh, anh còn ở lại, anh hoặc là ai đó sẽ phải viết một bài thơ mà chất liệu là núi xương sông máu, là hàng triệu cái xác chết”. May mắn, tới bây giờ thi nhân Việt Nam chưa ai phải viết ra tác phẩm như Thanh Tâm Tuyền dự đoán, nhưng với khối lượng sáng tác đáng nể, Tô Thùy Yên đã tạc lên một Cõi Người, một Cõi Phật, một Cõi Lão, Trang, một Thời Đại đặc biệt bằng thi ca, và như thế, trong mắt những người yêu thơ Tô Thùy Yên, thì ông mãi mãi MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN."

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

OAN HỒN TRÊN BIỂN

* truyện ngắn
OAN HỒN TRÊN BIỂN
(Kể về chuyện người vượt biển đánh nhau với Hải tặc Thái)

Ông Quốc Vinh (Trưởng ban Việt ngữ SBS) muốn "nghe lại" cuộc phỏng vấn Chủ bút VNTB về chuyến vượt biên "đánh thắng hải tặc". Một số thính giả trong đó có cô con gái của cố Đại úy Nguyễn Hoàng Lương (đang làm việc tại ngân hàng St George ở Cabramatta), muốn biết về người cha của mình mà cô chưa từng biết mặt. Vì mẹ của cô mang bầu cô đã ở lại, không đi cùng chồng và 2 đứa con trai trong chuyến đi định mệnh! Cô cùng mẹ đến Úc đoàn tụ sau này, và chuyện kể sau đây cũng như là một lời tri ân của những người đã được Đại úy Lương cứu sống từ tay hải tặc!

Vào năm 1979 một chiếc tàu dầu Anh quốc cứu được 150 người tị nạn Việt Nam sắp chết vì cạn kiệt lương thực sau 22 ngày  lênh đênh trên biển. Nhóm người này trước đó đã phải đánh nhau một trận sống mái với hải tặc Thái. Họ chiến thắng, đoạt được thuyền của bọn cướp biển - nhưng thuyền bất khiển dụng - trôi dạt qua nhiều quốc gia, và họ chỉ được cứu vớt khi tàu sắp chìm trong vùng đảo Borneo thuộc Nam Dương.
Trong cuộc hỗn chiến với hải tặc Thái, bên ghe tị nạn chết 3 và một người sau đó chết vì đói là 4. Phía hải tặc trên chiếc thuyền đánh cá mang số T.003 có 8 tên, một nửa  bị chết trên thuyền và một nửa bị đánh rơi xuống biển. Hôm ấy gió bão cuồng nộ và chiếc ghe vượt biên bị vùi dập tả tơi như chiếc lá, thế mà họ vẫn sống, vẫn thoát. Sau này một số người sống sót trong chuyến đi tin rằng họ đã được phù trợ bởi những người đồng hành đã bị chết oan vì hải tặc...
oOo

Khi bọn cướp lục xét để cướp vàng bạc xong, chúng đuổi những người đã leo qua được tàu chúng trở về ghe cũ. Không ai dám nhấc chân vì thấy chiếc ghe vượt biên đã bị bọn hải tặc húc bể khoang đầu và chúi mũi sắp chìm. Trong lúc tên đầu đảng nóng giận và ra dấu cho đồng bọn kéo từng người ném xuống biển,  là lúc ông Đại úy  tài công của chiếc ghe tị nạn quyết định đánh trả lại bọn hải tặc để dành sự sống. Dù bất ngờ ôm chặt được một tên cướp, nhưng sức ông đã yếu sau nhiều ngày đói khát, nên tên cướp đã vùng ra được và đâm ông những nhát dao trí mạng. Ông ngã qụy ngay trên tàu hải tặc, máu phun thành vòi. Chính nhờ sự hy sinh đi đầu của ông, mà những người khác đã đồng lòng lao vào cuộc chiến sinh tử khi không một tấc sắt trong tay. Chỉ trong vòng hơn nửa tiếng, nhóm người tị nạn đã làm chủ tình hình khi loại đủ 8 tên hải tặc dữ dằn và có trang bị vũ khí ra khỏi chiếc tàu đánh cá. Kiểm soát lại, chuyến đi còn mất thêm hai thanh niên, họ bị đâm và rơi xuống biển mất tích. Có người nói còn trông thấy một hay hai người khác chết mất xác, nhưng không có ai là thân nhân chứng nhận, nên mọi người đều đồng ý là phe vượt biên chỉ mất có ba người.
Cuộc giao tranh đẫm máu giữa phe tị nạn và bọn hải tặc đã chấm dứt, trên thuyền còn loang đọng từng vũng máu tươi của những người bị chết. Không ai ngửi thấy  mùi tanh, vì mùi biển, vì những cuộn sóng vẫn ào ạt đập vào mạn thuyền, và tạt vào khoang những tảng nước mặn làm xóa tan dần đi những vết  tích. Không ai cảm thấy  sợ sệt vì họ vừa dành được sự  sống từ những tay thần chết, vừa từ cõi  âm ty trở ngược lại trần gian, nên ai cũng nghẹn ngào, cũng nước mắt lưng tròng nhìn nhau sung sướng mà không nói nên lời.
Để xem ai còn ai mất, tiếng gọi inh ỏi tìm nhau vang lên từ đầu thuyền đến cuối thuyền, xen lẫn là tiếng khóc rú thật não lòng của hai người đàn bà lớn tuổi, họ không  thể nào nén lòng đau khi biết hai  người con của họ đã mất xác vì hải tặc. Hai người thanh niên bị chết đều có mẹ già và anh chị em trên thuyền, riêng ông Đại úy Hải quân Nguyễn Hoàng Lương lái ghe lại đi với hai cậu con nhỏ nên không thấy có tiếng khóc nào bên cái xác chưa khô lạnh của ông.
Những người có đóng góp sức lực  trong việc diệt hải tặc tự động đã kết thành một nhóm, họ lớn tiếng đề nghị nhưng thực sự cũng là ra lệnh:
-Đàn bà con nít vào khoang sau buồng lái. Đàn ông thì xuống các hầm cá hoặc lên ca-bin phía trên mà ở...

So với chiếc ghe dài 14 mét thì đây là chốn thiên đường, ai cũng  có chỗ dựa lưng nằm xoạc cẳng, tha hồ đi lại, và nhất là không phải  lo đến chuyện nước uống vì đã có tới 2 bể sắt chứa đầy nước ngọt nằm sừng sững ở hai bên thuyền.
Tàu hải tặc chắc là mới hạ thủy nên  máy móc và mọi phương tiện  trên tàu còn mới tinh. Trong phòng lái và hầm máy dưới tàu đều có bàn thờ và dán đủ loại bùa kỳ bí với khói nhang vẫn còn quanh quất. Không ai dám đụng vào mấy bàn thờ này và những gói bùa, nhưng có người tò mò đi lục lọi tìm được xấp hình chụp những tên hải tặc trẻ đứng bên cạnh những cô gái xinh đẹp. Có người ra vẻ hiểu biết nói:
-Đây là mấy con điếm ở Vọng Các chứ đâu! Chắc là bọn chúng đi "ăn chọi" khi cướp được vàng của người vượt biên chứ gì!
Có tiếng đàn bà chen vào:
-Vứt hết xuống biển đi, đừng  giữ lại trên tàu làm gì mấy thằng ác nhân thất đức đó, gớm ghiếc lắm!
Tay thanh niên cầm xấp hình bào chữa:
-Thì xem một chút thôi! Ai mà dám giữ hình cái bọn quỷ này!
Câu chuyện bỗng xoay quanh những tên hải tặc bị giết:
-Tụi nó còn trẻ, có đứa cũng bảnh trai, lại có chiếc tàu đánh  bắt cá bằng ra-đa như thế này... mà lại đi làm hải tặc làm gì?
Một ông ra vẻ hậm hực:
-Ông nói chuyện ngu bỏ mẹ! Đánh cá làm sao mà giầu nhanh bằng đi ăn cướp! Bọn này đi biển cả mấy tháng, không biết trước đó  đã cướp ghe nào chưa. May mà đánh thắng chứ thua thì mấy bà... chỉ có nước chết...
Một bà sồn sồn trề môi:
-Tụi tôi mà chết, thì mấy ông sống được sao?
Bỗng có bà lớn giọng đổi đề tài:
-Vậy chớ, có ai tìm lại được số vàng mà bọn cướp thu được của ghe mình không?
Bà khác ra điều nắm rõ tình hình:
-Tôi thấy thằng nào cũng đeo cái túi nhỏ trước ngực, có hai thằng bị chết trên tàu thì ít nhất cũng còn lại hai bịch chứ...
Mấy tay đàn ông xông xáo nhất trong việc lục soát con tàu ngay sau khi không còn bóng hải tặc bỗng ngồi im thim thít. Một ông coi bộ ngầu nhất trong đám bực mình nói mỉa:
-Mẹ kiếp! Chưa biết ơn tụi này thì thôi lại còn bày đặt nghi ngờ này kia. Muốn tìm lại vàng thì nhảy xuống biển theo bọn nó mà đòi! Ai tôi không biết, chứ tôi chỉ có trần xì cái quần đùi thôi, có mẹ nào muốn khám không?
Có giọng ông lão ôn tồn:
-Nói vậy thôi chứ vàng bạc mà làm gì lúc này, sống được tới bến tới bờ mới là chuyện quan trọng. Có ai rảnh thì tới đọc kinh hay thắp  nhang cho ông Đại úy còn nằm  kia kìa, có bà nào đi một mình  làm ơn chăm sóc dùm hai đứa nhỏ con của ổng...
Lúc ấy mọi người mới quay về thực tại, ông Đại úy lái ghe chết sau vài tiếng giao tranh, xác ông trắng bệch vì chảy không còn một giọt máu. Hai đứa nhỏ đã được người nào đó dẫn đến ngồi bên xác chết, tụi nó thút thít khóc và có đứa ngồi xuống lay gọi bố:
-Hu hu... bố ơi... dậy đi bố... bố đừng chết, bố ơi...
Một đám người tụ lại nhưng không dám đến gần, rồi có người lên tiếng xướng kinh và cả nhóm rầm rì đọc theo:
-Lạy Chúa tôi, tôi ở dưới vực sâu kêu lên Chúa tôi...
Có bà tìm đâu được hai cây nhang đem lại cắm gần bên xác chết, chắp tay xá lạy mấy lần rồi luôn miệng:
-A Di Đà Phật! A Di Đà Phật... Quan Thế Âm Bồ Tát... cứu khổ cứu nạn...
Có bà thực tế hơn cầu xin:
-Ông sống khôn chết thiêng, làm ơn dẫn chúng tôi tới bờ tới bến, tôi hứa cúng giỗ và làm lễ cầu siêu cho ông, và chăm sóc hai đứa con cho ông... những người khác cũng không quên ông đâu...
Chợt có bà rú lên và chỉ vào xác chết:
-Ổng chết oan ức... Ổng chết linh...
Mấy người đàn ông tiến đến gần xác ông Đại úy, họ thấy cặp mắt của ông vẫn còn mở, từ  miệng và mũi ông trào ra một dòng máu đỏ tươi trên khuôn mặt trắng bệch. Một người quỳ xuống lâm râm nói điều gì đó rồi đưa tay lên vuốt mắt ông, khi người này ngừng tay thì thấy cặp mắt trợn trừng của ông đã khép lại.
Trong không khí buồn u uất đó, bỗng có tiếng anh thanh niên nói lớn làm phá tan mọi suy nghĩ:
-Tụi em tìm thấy một hầm chứa đầy nước đá, hay là mình mang  xác ông tài công xuống đó?
Mọi người đồng ý  ngay, và đám người quanh đó xúm lại khiêng xác ông Đại úy Hải quân đặt vào hầm nước đá nằm ở khoang đầu, rồi đậy nắp hầm lại cẩn thận.
Chiếc thuyền của bọn hải tặc có tới 8 khoang, khoang đầu chứa toàn đá chế từ nước biển dùng để ướp cá, hai khoang kế tiếp đã có một mẻ cá đang được ướp, còn 5 khoang kia còn trống và nay đã trở thành nơi tạm trú của đám đàn ông tị nạn.

Đêm trên biển xuống rất nhanh, chung quanh âm u và mờ mịt như cõi âm ty. Phần lớn đều chìm vào  giấc ngủ, đó đây đã có những tiếng ngáy, rồi tiếng mơ sảng, nhưng cũng có nhiều người khác không sao ngủ được và vẫn còn chong  mắt cầm canh. Phần lớn những người này đều tập  trung ở phòng lái, họ vẫn còn ra sức mày mò và tìm hiểu các dụng cụ trang bị trên tàu. Có tiếng hỏi:
-Mấy cái nút này dùng để làm gì vậy anh?
Ông đứng cầm bánh lái nói:
-Tôi cũng chưa biết nó là cái gì. Chỉ nội chuyện quay cái bánh lái này cho tới khi nó ăn vào số tôi cũng chưa biết hết! Cái tàu này tối tân ghê, muốn sang số phải ra lệnh cho thằng ngồi dưới hầm máy chứ không phải tự mình sang được... May mà mấy ngày trên biển, ông Đại úy cũng dạy cho mấy chiêu nên bây giờ cũng đỡ, giá mà ổng còn sống thì chẳng phải lo...
Người thanh niên đứng cạnh:
-Thảo nào, lúc tụi em vây bắt hai thằng còn trốn dưới hầm máy, xuống đó mới thấy cái máy tàu mà khoái, vì nó còn mới toanh lại có tới cả chục cái bu-ri... chạy khoẻ phải biết...
Một ông mặt choắt và đen đủi liến thoắng kể:
-Loại tàu này dưới quê tôi đã có lần trông thấy rồi. Tụi nó khai là dân đánh cá lỡ trớn vào hải phận  bị Hải quan Việt cộng bắt, nhưng ai cũng biết là tụi nó đi cướp vì trên tàu chẳng có lưới có cá chi cả! Trông thấy cái mũi tàu bọc sắt của tụi nó cao ngất, ai cũng mơ có nó để mà vượt biên thì hết xẩy...
Có người chen vào:
-Thảo nào mà nhiều người vượt biên bị bắt kể, rõ ràng là tàu đánh cá kiểu Thái rượt mà khi đến gần lại thấy toàn hải quân bộ đội Việt cộng lái. Họ nói là tàu Thái mà rượt thì không ghe nào thoát được, vì tốc độ nó nhanh không thua gì tàu tuần...
Đang say sưa bàn tán, bỗng có người nhìn ra đằng sau, hốt hoảng chỉ trỏ:
-Chết mẹ! Hình như có mấy chiếc tàu đang đuổi theo bọn mình kìa!
Mọi người đều quay lại, quả thật có tới ba chiếc tàu đang pha đèn sáng rực cả một vùng biển. Ánh sáng mỗi lúc mỗi tỏ hơn, làm ai nấy đều rùng mình hoảng sợ:
-Chắc là đồng bọn của chúng, vì trước khi thằng tài công Thái bị giết tôi thấy nó đã nhấc máy liên lạc để cầu cứu...
Ông đứng cầm lái vò đầu bứt tai:
-Thế mà nãy giờ chẳng ai chịu cắt dùm cái máy liên lạc, thế này thì bọn nó dư biết mình đang ở đâu rồi!
Nói xong ông vung tay giật đứt đám dây điện nối với cái micro  đặt trước mặt. Ông hò hét tắt hết đèn trên tàu và tống ga cho thuyền lao về phía trước. Những người đang gà gật ngủ cũng đã choàng tỉnh dậy vì tiếng la báo động, mấy đứa nhỏ léo nhéo khóc rí đòi ăn  cũng tự dưng im bặt. Ai  nấy đều lo  sợ, nhiều người đã chắp tay cầu nguyện, vì nếu tàu bị đồng bọn của chúng bắt lại được thì chắc chắn chẳng ai có thể toàn thây!
Trong lúc ánh đèn pha của tàu hải tặc mỗi lúc một gần, có người tuyệt vọng hét to:
-Một chiếc đã khổ rồi, nay tới mấy chiếc bao vây thì sống sao nổi hở trời! Các ông ơi làm ơn chạy nhanh đi... nhanh nữa đi...
Trong lúc ông tài công mới cảm thấy bất  lực và mọi người buồn bã cho số mệnh khi thấy chiếc thuyền  của mình chạy chậm hơn trong  cuộc rượt đuổi, thì bỗng dưng hai trong ba chiếc tàu của bọn hải tặc đánh vòng bỏ cuộc, chiếc thứ ba đơn độc đuổi theo thêm một lúc nữa rồi cũng quay đầu trở ra. Nhìn ánh đèn trên các con tàu săn đuổi xa dần, nhóm người tị nạn trên tàu hoàn hồn sung sướng. Không ai hiểu vì lý do gì mà bọn hải tặc tha  con mồi, vì chỉ cần đuổi thêm độ mươi phút nữa chắc chắn bọn chúng sẽ tóm cổ được nhóm người to gan, đã dám ra tay sát hại đồng bọn của chúng.
Đang lúc mọi người còn hân hoan mừng rỡ và bàn tán huyên thuyên thì tiếng máy tàu bỗng dưng khục khặc như người khó  thở, rồi cà xạch cà đụi thêm một lúc nữa...  rồi tắt ngấm. Ông lái tàu bối  rối thấy rõ khi vặn công  tắc đề thêm mấy lần mà thấy máy vẫn im re. Ông lắc đầu chặc lưỡi nói:
-Không hiểu tại sao có chuyện này, máy tàu đang nổ ngon lành mà!
Ông đội mũ đứng cạnh nói nhanh:
-May mà tàu bọn chúng ngừng đuổi! Có tay nào rành máy nổ xuống hầm máy coi dùm chút coi?
Ông tài công ngăn lại:
-Bây giờ tối mù, dưới đó xăng dầu tùm lum đốt lửa lên không  tiện, thôi thì ráng đợi đến khi trời sáng cái đã...
Dầu nói thế nhưng mấy tay đàn ông trên tàu cũng chạy ngược chạy xuôi để cố tìm ra nguyên nhân tại sao máy tàu lại không chịu nổ, và đèn điện trên tàu cũng chẳng còn ngọn nào chịu sáng. Một người ra vẻ rành rẽ về máy móc nói:
-Tôi chắc là hệ thống dẫn điện bị cắt, khiến điện không còn dẫn tới các hệ thống.
Ông mặt choắt gạt ngang:
-Máy đang nổ mà tắt là vì hết dầu chứ không vì chuyện gì khác! Không tin tới sáng các ông cứ dò tìm mà coi.
Ông lái tàu bực mình gằn giọng:
-Tôi không tin là  hết dầu, cái tàu bự như thế này mà hết dầu ngang xương vậy sao! Chắc phải có chuyện gì khác...
Người ra vẻ rành rẽ về máy móc lại lên tiếng:
-Đúng, tôi không tin là hết dầu, mà chỉ vì dòng điện bị cắt, chứ nếu điện không bị cắt thì các đèn đóm trong tàu cũng còn phải  sáng, điện yếu thì sáng mờ mờ chứ không thể nào tắm ngúm như vậy!
Ông lái tàu ra vẻ đồng tình:
-Chắc là vậy! Nhưng tôi không hiểu tại sao máy tàu vẫn nổ từ lúc mình cướp được tàu hải tặc đến giờ?
Mọi người lại chìm vào những suy nghĩ  miên man, không ai buồn  lên tiếng nữa vì ai cũng mệt, cũng căng thẳng, họ đã gần như không nhắm mắt nghỉ ngơi được chút nào từ khi ghe gặp tàu hải tặc cho đến khi thoát được cuộc rượt đuổi sinh tử. Với lại bây giờ có lo cũng chẳng làm được gì vì trời tối đen như mực, và thực tế là  chẳng có ai rành rẽ gì về các phương tiện ở trên tàu.
Ở biển đêm xuống nhanh thì trời cũng mau sáng. Ánh sáng còn trong màn sương mỏng của buổi ban mai cũng đủ để mọi người nhìn thấy dễ dàng cảnh vật chung quanh. Có người đang dán mắt vào ống dòm mừng rỡ kêu lên:
-Hình như đằng kia có đảo, lại có khói nữa chắc là có người ở...
Đám đàn ông dựa lưng ngủ quanh buồng lái giật  mình choàng dậy, có người chưa nhìn thấy gì ở xa nhưng lại nhìn thấy những cái ở gần:
-Có rác trôi quanh tàu mình, chắc là gần bờ lắm rồi.
Một người lấy khúc cây, nhoài mình ra ngoài be thuyền và khều lên được một cái lon đồ hộp đã rỗng, bên dưới có hàng chữ "Made in Malaysia" bèn lên tiếng:
-Chắc là mình vào tới hải phận Mã Lai rồi, thảo nào mà bọn hải tặc không dám đuổi theo tàu mình nữa.
Ai nấy đều rộn lên niềm vui mừng vì chắc chắn đã thoát  khỏi vùng nguy hiểm, lại nhìn thấy bến  bờ trước mắt. Khi ánh mặt trời lên cao, những người trên tàu tị nạn còn nhìn thấy cả những cánh buồm nhiều màu sắc đang đua lượn quanh đảo, nhưng không ai có cách gì để tàu tiến đến gần hơn.
Trong lúc vài người tìm cách  ra dấu hiệu cầu cứu, một nhóm đàn  ông bắt đầu xuống hầm máy để tìm nguyên nhân tại sao tàu chết máy. Sau một hồi quan sát và mày mò, cũng vẫn người ra vẻ là rành máy móc lên tiếng:
-Chết mẹ rồi! Tụi nó khóa ống dẫn dầu, lại còn cắt dây dẫn điện từ mấy bình ắc quy, thảo nào khi hết dầu máy tắt là không đề lại được.
Có người lên tiếng:
-Vậy mau nối lại mấy cọc bình, rồi mở van dầu là xong chứ gì?

Nhưng chuyện không đơn giản như vậy, mấy cái bình ắc quy đều không được xạc trong khi máy nổ, nên cứ  yếu dần sau mỗi lần đề và cuối cùng rơi vào tình trạng bất khiển dụng. Bình điện không chạy thì không có cách nào hút dầu  lên, nên mức dầu cứ nằm im lìm tại cuối ống dẫn như thách thức mọi người.
Bên ngoài hầm máy có anh thanh niên đòi ôm phao nhảy xuống biển để bơi vào đảo tìm người đến  cứu, nhưng ai cũng can  ngăn vì quãng đường còn khá xa, chỉ sợ phải bỏ mạng giữa đường. Anh này là người  lúc đánh nhau với hải tặc đã bị rớt xuống biển, nhưng nhờ  biết bơi lại vớ được cái can nhựa nên đã thoát chết và leo lại được lên thuyền. Thấy mọi người bàn ra quá nên cuối cùng anh cũng nản lòng gạt bỏ ý định.
Con thuyền từ khi bị chết máy đã nghiêng hẳn qua một bên, khiến  ai nấy đều phải thay đổi vị trí tạm trú. Hơn phân nửa những người ẩn thân trong buồng để tránh nắng gió là những người đầu tiên bò ra ngoài,  vì họ không chịu được cảnh  người này trôi tuột xuống đè lên mình người kia. Dù cả trăm người tràn về ở chỗ cao, con tàu cũng không lấy lại được thế cân bằng, khiến phần nghiêng thấp sát sạt  mực nước biển chỉ cần một ngọn sóng nhỏ cũng đủ làm nước tràn ập vào tàu.
Mực nước thủy triều lên xuống mỗi ngày không làm cho con tàu tiến vào gần bờ thêm chút nào, mà nó lại có khuynh hướng lôi thuyền trở về với biển. Sau một đêm ngủ quên và sống vật vờ trên biển,  sáng ra mọi người đã thấy chiếc tàu không còn ở vị trí cũ, bóng dáng hải  đảo đã mất hút, dòng  rác rưởi cuốn ra khơi từ bờ cũng không còn, mầu nước biển ngày một xanh đậm chứng tỏ tàu đã xa bờ lắm rồi.
Trong cơn tuyệt vọng ấy, nhiều người đã cật vấn ông tài công:
-Tại sao ông cho nhổ neo? Cứ để neo thì thể nào cũng có người ra cứu, chứ đi xa thế này thì... nguy to rồi!
Ông tài công ra sức chống đỡ:
-Tàu mình lớn, không như cái ghe nhỏ nên không có cách nào nhờ thủy triều mà vào gần bờ được. Nhổ neo để tàu trôi may ra còn gặp các tàu khác, chứ mấy ngày qua nằm ở chỗ ấy có ai héo lánh tới cứu đâu!
Bỗng có người chỉ về phía xa và la lớn:
-Có nhiều tàu đang đi lại đằng kia kìa...
Cuộc tranh luận chợt chuyển hướng hoàn toàn có lợi cho ông tài công. Không ai còn nhớ tới tội ông đã cho nhổ neo để tàu trôi dạt ra khơi nữa, và có người còn coi ông là người có hành động sáng suốt:
-Tàu trôi ra đây thì người ta mới thấy mà cứu chớ! Bọn mình nằm đúng ngay hải lộ của các thương thuyền rồi, thể nào cũng được  thuyền đến cứu thôi...
Đúng là tàu chở người tị nạn đang nằm ở gần vùng di chuyển của các tàu hàng thật. Nhưng họ chỉ nhìn thấy các con tàu đang "xì khói" thẳng hướng ra khơi rồi dần mất hút ở cuối chân trời, chứ không có chiếc nào đi về phía họ để họ có thể ra dấu hiệu cầu cứu. Đang lúc buồn bã não lòng ấy, một anh thanh niên rụt rè nói:
-Em thấy hầm đá đã tan gần hết, xác ông Đại úy đã có mùi, các anh tính làm sao đây?
Bấy giờ mọi người  mới nhớ đến cái xác ông Đại úy để dưới hầm đá đã nhiều ngày, nếu tàu còn nổ máy thì chẳng lo gì đến việc này, vì hầm lạnh có khả năng ướp cả những con cá mập đến cả tháng trời lênh đênh trên biển cũng không ươn khi cặp bến. Thế là một đám thanh niên liền leo xuống hầm để đưa xác ông Đại úy tài công lên. Xác ông tím ngắt trông thật bi thảm, và ủng nước vì  những tảng đá lạnh sau cùng đã tan gần hết. Có người đem đến mấy cái bao tải phủ lên xác ông và dùng dây thừng quấn lại, rồi nhẹ nhàng đẩy cái xác xuống biển. Một ông ngày xưa cũng là lính Hải quân khóc ròng, đứng nghiêm đưa tay  chào kính thật  lâu, trong khi cái  xác trôi dật dờ trên biển và khuất dần sau làn nước biếc.
Một hôm, khi những người còn sức đang dốc toàn lực để tát nước ra khỏi hầm máy, nhằm tránh cho tàu khỏi bị chìm, thì có người chạy xuống mừng rỡ báo tin:
-Có chiếc ghe nhỏ đang tiến đến gần mình.
Cả bọn quăng thùng, quăng áo chạy lên. Có bà ráng sức thều thào:
-Coi chừng tàu hải tặc đó...
Một ông cầm ống nhòm lên và nói:
-Không phải hải tặc, trên tàu có cả đàn bà và con nít.
Ai nấy thở phào yên tâm. Chiếc thuyền đánh cá đang lượn sát tàu tị nạn, mọi người nhìn rõ họ là một gia đình trông có vẻ hiền hòa gồm cặp vợ chồng và hai đứa con trai khoảng 14, 15 tuổi đang đứng vẫy tay chào. Một ông người Tàu trên thuyền nói:
-Chắc họ là người Hoa ở Mã Lai, để tôi nói tiếng Hoa với họ.
Sau vài tiếng í ới qua lại, ông người Tàu tươi hẳn nét mặt, giọng run run như người mới bắt được vàng:
-Họ nói là đảo gần đây thôi. Vậy bây giờ tính sao?
Ai nấy trên tàu bàn tán nhặng xị, trong khi mấy người biết tiếng Hoa ồn ào dùng tay làm loa hỏi chuyện những người trên tàu đánh cá. Ông tài công đề nghị:
-Mình thu ít vàng rồi nhờ họ kéo tàu tới đảo, được không?
Có ông không còn vật gì quý giá trên người cũng góp ý:
-Bảo họ, khi mình lên được đảo sẽ cho họ luôn cái tàu đánh cá này.
Trong khi ông người Tàu thương lượng, trên tàu đã quyên đâu được mấy chỉ vàng, bỏ vào cái lon rồi vứt qua thuyền đánh cá của gia đình người Mã. Người đàn ông sau khi nhận vàng, ném qua tàu tị nạn cuộn giây thừng rồi buộc chặt vào cây cọc cái phía sau thuyền. Đến  lúc này những người tị nạn trên tàu mới thấy thương cái thuyền đánh cá của gia đình người Mã, nó chỉ bằng chiếc ghe mà họ đã dùng để vượt biển trước đó, và chưa bằng một phần ba chiếc tàu mà họ đã đoạt được từ tay bọn hải tặc Thái.
Chiếc thuyền đánh cá rồ máy tăng tốc độ và phóng về phía trước,  sợi dây cột vào đầu tàu tị nạn căng cứng và con tàu bắt đầu chuyển động. Khi thấy con tàu đứng dựng lên không còn nghiêng như cũ và đang chầm chậm lướt sóng thì ai nấy đều reo lên hỉ hả:
-Thế là mình thoát rồi! Họ nói từ đây  đến đảo rất gần. Thật là trời xui đất khiến họ đến cứu, chứ cứ nằm đây hoài thì vài ngày nữa cũng chết đói cả lũ.
Có bà trung niên, dù mấy ngày phơi thân trên biển mà mặt mày  vẫn còn trắng hồng, đến lúc này mới hào hứng khai thật:
-Khi nào đến bờ tôi sẽ tặng họ thêm mấy chỉ nữa...
Ông mặt choắt nãy giờ im lặng, chợt xuất hiện bằng một tràng sỉ vả:
-Bà này hay thiệt, lúc tôi ngửa nón đi xin vàng để nhờ họ kéo tàu mình thì không thấy bà đâu hết, giờ sắp đến bến bờ thì mới thấy bà "mở lòng từ bi"... thiệt là...
Ông mặt choắt đang nói dở  dang, bỗng dưng mọi người hốt hoảng la toáng khi thấy sức nặng của tàu tị nạn đã nhổ bưng cả cây  cọc chốt đằng sau của thuyền đánh cá chạy phía trước. Mọi người thất  vọng khi thấy chiếc thuyền của gia đình người Hoa chạy luôn không quành lại, và càng não lòng hơn khi thấy chiếc tàu chở họ lắc lư vài cái, chầm chậm rồi ngừng hẳn khiến tàu lại trở về tình trạng nghiêng một bên như cũ.
Một bà chắp tay ngửa mặt lên trời than:
-Trời ơi là Trời! Sao ông không cho chúng tôi đến bờ đến bến? Ông đã phái họ đến sao lại để họ bỏ đi giữa đường?
Ông người Tàu giọng nhỏ nhẹ an ủi:
-Bà không thấy ghe họ tanh banh khi kéo tàu mình sao? Họ cũng cố giúp mà giúp không được đấy chứ, đâu phải họ gạt mình để lấy vàng đâu!
Quả thật, khi chiếc cọc cái đằng sau chiếc thuyền đánh cá bị nhổ  bung lên trời, người ta nhìn thấy rõ một mảng ván thuyền đằng sau bị vỡ tan theo. Chiếc tàu đánh cá của bọn hải tặc Thái lớn quá, nặng quá, nên chiếc ghe đánh cá nhỏ của gia đình người Mã Lai kia dù có quay lại cũng chẳng biết cột dây kéo vào chỗ nào...

Rồi bóng đêm lại phủ chụp xuống con tàu tị nạn. Đêm trên biển hoang vắng một cách lạnh lùng, chỉ còn lại những cơn gió rít và tiếng sóng nước đập đều nhịp vào ván thuyền. Trong bóng đêm, có người giật mình vì thấy bóng một người đàn bà đang lầm lũi đi ngược lên mũi tàu. Sợ bà này loạn trí sau nhiều ngày lênh đênh đói khát trên biển, và định tự tử nên đã la lên:
-Bà ơi! Ngồi xuống đi, đêm tối không thấy đường coi chừng lọt xuống biển không ai thấy mà cứu đâu!
Người đàn bà vẫn tiến tới, hai tay đưa ra phía trước như tìm đường, thều thào nói nhẹ như hơi sương:
-Mẹ ở đây nè con ơi! Mẹ ở đây nè... Lại đây với mẹ...
Nghe giọng nói những người còn thức biết ngay đây là bà cụ có đứa con bị hải tặc đâm chết trong cuộc hỗn  chiến. Một người đàn ông từ trong hầm cá thò đầu lên, rồi dơ tay nắm chặt lấy ống chân khẳng khiu của người đàn bà đang gọi con rồi la lớn:
-Có ai ở trên làm ơn ôm chặt bà cụ lại dùm cái, tui giữ không nổi...
Bà cụ như có sức mạnh từ cõi vô  hình, rút chân ra được đôi tay cầm giữ của người đứng dưới hầm cá. Nhưng đúng vào lúc bà sắp lao  mình xuống biển thì đã có người đè ngã được bà xuống khoang thuyền. Lúc này trên  tàu láo nháo vì có nhiều người gọi nhau để hỏi xem chuyện gì đã xảy  ra. Một ông cột giẻ vào khúc cây nhúng dầu rồi đốt lên, ánh sáng tỏa lan làm mọi  người dễ dàng nhìn thấy sự việc.
Trên sàn tàu phía gần mũi thuyền, hai  người thanh niên đang ghì hết sức mới giữ được bà cụ nằm xuống. Bó đuốc rọi sáng khuôn mặt bà  cụ, làm những người đứng gần hốt hoảng:
-Miệng sùi bọt... coi chừng bà cụ cắn đứt lưỡi...
Có người mau mắn  tìm được cái muỗng, đem chấn ngang vào miệng khiến lưỡi của bà cụ lè ra  trông như người bị bóp cổ. Thấy vậy người này tính lấy cái muỗng ra nhưng bị cản lại:
-Cứ để nguyên, dù bà cụ có đau nhưng còn hơn để bị cắn đứt lưỡi...
Những người hiếu kỳ tản mát dần, ai cũng thương bà cụ vì thương nhớ con mà có hành động khác thường, nhưng ở vào tình  thế này muốn giúp nhau cũng chẳng biết phải làm sao. Có người trước khi bỏ đi còn buông lời bâng qươ:
-Nhiều khi chết được cũng là điều hay...
Hai người nắm giữ tay chân của bà cụ mãi cũng mệt, họ bảo nhau dùng dây thừng cột tay và chân bà cụ vào mấy cây cột giữa thuyền, rồi nằm gần đó để ngủ. Chỉ một lúc sau, cả hai người đều nhỏm dậy, một anh run run sợ hãi:
-Anh có thấy gì không?
-Có, tôi nghe thấy tiếng bà cụ như đang nói chuyện với đứa con đã chết...
-Tôi cũng vậy... tôi đã trùm mấy cái bao bố mà vẫn còn lạnh run lên đây này...
Nói xong cả hai nhoài người về phía hầm cá, tụt xuống rồi kéo nắp hầm lại cẩn thận, bỏ mặc bà cụ nằm phơi mình giữa sương gió.
Đến sáng, việc đầu tiên của hai người trốn dưới hầm cá là ngoi lên coi tình trạng của bà cụ như thế nào. Một anh rờ vào người bà cụ và nói:
-Người lạnh quá, ông đi xin coi ai có miếng dầu thoa cho bà cụ...
Người thanh niên bỏ  đi và trở lại với một chị phụ nữ cầm lọ dầu xanh và cái muỗng trên tay. Vừa trông thấy bà cụ nằm giữa thuyền mà quần áo phong phanh, cô này la lớn:
-Anh làm ơn mượn dùm cái mền, đắp ngay để lấy lại hơi ấm cho bà.
Nói xong, chị phụ  nữ lật lưng bà cụ, vén áo  lên, xoa dầu và bắt đầu cạo gió. Những vùng máu bầm nổi  lên mau chóng trên làn da nhăn nheo và gầy đét  của bà lão. Chị vừa cạo vừa than với anh thanh niên đứng cạnh:
-Mấy ông  ác nhân ác đức vừa vừa  chứ. Ai đời lại để bà già nằm ngoài sương gió như thế này mà chẳng kiếm cái gì  đắp. Sức bà yếu lắm rồi, gặp gió độc là đi luôn chẳng ai cứu được đâu...
Chợt bà cụ hé miệng giọng thều thào:
-Đúng rồi, chẳng ai cứu được đâu... chẳng ai cứu được đâu...
Thấy bà cụ đã tỉnh, có anh thanh niên đem lại cho bà chút cháo loãng nấu từ túi gạo mà bọn hải tặc để lại trên thuyền. Vừa đút cho bà cụ người này vừa mếu máo kể:
-Mẹ tôi đó, bà ấy đêm nào cũng mê sảng, cũng nhớ tới đứa em của tôi bị hải tặc đâm chết! Mẹ tôi  thương nó nhất nhà, nó còn ham chơi đâu muốn đi vượt biên khiến bà lừa mãi mới đưa nó được xuống ghe, nay nó chết chắc bà ấy thấy  có lỗi nên chỉ muốn đi  theo nó...
Ánh mặt trời lên cao,  nắng cháy  và gió biển là hai điều trái nghịch nhưng hầu như lúc nào cũng hiện diện bên nhau, trừ khi đêm xuống. Đám người tị nạn khi mặt trời lặn thì ẩn thân dưới hầm cá, trong khoang tàu để tránh gió, nhưng khi nắng lên thì lại lục tục kéo nhau ra ngoài. Vài bà phụ nữ không có việc gì làm đè mấy đứa con ra bắt chí, trong khi mấy tay thanh niên tìm mấy con cá ươn để làm mồi câu cá. Trong không khí uể oải và nóng bức của biển, thỉnh thoảng vẫn có người "lo bò trắng răng":
-Trời ơi, mày gầy đét như thế này là vì ổ chí rận trên đầu đây nè! Con nào con nấy mập ú bắt không xuể...
Nói xong bà ta đưa đứa con xuống mé nghiêng của thuyền, dìm đầu con xuống nước biển rồi dùng tay cào gãi trên mớ tóc rối bù của nó, những người ở gần  có thể trông thấy cả đám chấy đen nổi lên mặt nước xanh rì. Tay đang  buông mồi câu cá gần đó nói đùa:
-Chí gì mà nhiều dữ vậy? Trông như dúm mè đen rắc trên nắm xôi!
Vừa nói xong, người thanh niên dơ tay vung mạnh sợi dây cước:
-Dính rồi! Dính rồi! Con cá này tôi căn mãi mới câu được!
Con cá lớn hơn gang tay, trông giống như một con cá mập nhỏ nằm giẫy dụa trong bàn tay run lên vì sung sướng của người bắt được nó:
-Tối nay đem nướng ăn ngon phải biết...
Rồi anh huyên thuyên kể về món canh chua cá bông lau khoái khẩu của anh:
-Dưới quê tôi cá nhiều lắm, nên  bà già tôi chỉ chọn loại cá ngon và tươi mới ăn. Tôi thì ưa món canh chua lắm nên bả  hay nấu cá bông lau với đủ  thứ gia vị me, ớt, củ hành, khi gần chín bả cho vô bạc hà và  cà chua, rồi nêm nước mắm, bột ngọt... Khi sắp núc ra tô bả còn dìm thêm giá, rau om, rắc thêm lên trên rau thơm xắt nhỏ, ngò gai và mấy lát ớt... ăn với cơm trắng thiệt đã đời hết sức...

Nghe cậu thanh niên kể mà ai nấy đều nuốt nước miếng ừng ực. Cách kể chuyện của cậu thật có  duyên, có lớp lang, khiến ai nấy đều như đang  được ngửi mùi cá thơm lừng  bay lên quyện  với mùi cơm chín tới. Tuy có người thích thú và đang thả hồn về những bữa cơm no đủ ở gia đình hay những dĩa cơm đường cháo chợ, thì cũng có người phản đối:
-Đói thấy mẹ mà mày còn kể chi  ba cái chuyện tào lao ấy! Nghe mày kể cái bụng tao đã đói càng thêm cồn cào, mệt thêm mệt thêm, có lợi cái con mẹ gì đâu? Kiếm con dao lắt đôi con cá mà mày câu được, đem phơi rồi tối hãy nướng...
Trong lúc đám người buông câu thả mồi quanh thuyền với hy vọng tối nay có cá đem nướng, thì người thanh niên tối qua ngủ gần bà cụ có đứa con bị hải tặc đâm chết kể:
-Vào khoảng nửa đêm, hai đứa tụi  tao giật mình thức giấc vì thấy lạnh quá và không tài nào nhắm mắt  ngủ lại được. Lúc ấy bà cụ bị cột nằm im mà miệng thì cứ y như đang nói chuyện huyên thuyên với ai, rồi có  lúc bà cụ la lên "cứu mẹ đi con, cứu  mẹ đi con" rồi lại rưng rức khóc. Tôi chắc là hồn ma của thằng con bả hiện về, rồi bả  xin nó cứu mà nó không có cách, nên  đến sáng tôi thấy chính miệng bả nói đi nói lại "chẳng ai cứu  được đâu, chẳng ai cứu được đâu"!
Không ngờ trong  số người đứng thả dây câu  cá, cũng có người con trai lớn của bà cụ mê sảng đêm qua. Anh nói:
-Hồi sáng  tôi an ủi má tui, bả kể  chuyện tối qua gặp thằng con út hiện về, nó khóc lóc thê thảm lắm, nó nói nó muốn tìm tàu đến cứu gia đình nhưng không được, vì bọn ma hải tặc dữ quá cứ mỗi lần nó định trồi lên là lại bị bọn chúng  kéo chân dìm xuống biển... Tôi không tin chuyện ma quái, nhưng nghe mẹ tôi kể thấy rõ thằng đầu đảng hải tặc cười nhe ra hàm  răng vàng, đeo cái nanh heo rừng và túi vàng trước ngực. Bả kể khi dơ tay ra kéo thằng út xuống biển bả còn trông rõ trên tay nó có xâm hình  con hổ nhe nanh múa vuốt... Bà già tôi lúc đánh  nhau còn bên ghe  nhỏ còn trốn dưới hầm, làm sao biết mặt thằng hải  tặc dài ngắn ra sao, đằng này bả kể không sai  mấy thứ đặc biệt trên  người thằng  chúa đảng...  làm tôi  thấy lạnh  cả người!
Chị phụ nữ thoa dầu cho bà cụ  lúc sáng cũng đang kể chuyện với một đám đàn bà ngồi quanh:
-Bà ấy kể nhiều chuyện rùng rợn lắm không biết có nên tin hay không? Nhưng nghĩ lại thiệt cũng  tội nghiệp cho ba người bị chết trôi dưới biển, họ ở dưới đó mà cũng còn bị tụi hải tặc vây lại hành hạ nữa chớ!
Có người tò mò hỏi thêm:
-Vậy bà cụ có mơ thấy ông Đại úy và các người khác bị hải tặc đâm chết ở dưới biển không?
Một bà co ro trong chiếc bao bố  đã được khoét lỗ để  thò đầu và hai tay ra ngoài, nhỏ nhẹ nói:
-Tôi là người đạo Chúa, không tin ma cỏ, nhưng tin việc người chết phải qua lửa luyện ngục rồi  mới được lên Thiên đàng. Vì vậy muốn họ được mát mẻ, mau siêu thoát và giúp lại được mình thì chỉ  có cách cầu nguyện cho họ mà thôi.
Chị phụ nữ "cạo dầu" gật gù ra vẻ đồng ý rồi đề nghị:
-Thế thì mấy chị tối nay đọc kinh cho họ đi. Còn tôi cũng kêu mấy bà Phật giáo cầu  kinh cho họ, để họ mau được đi đầu thai... Kẹt cái ở trên tàu này chẳng có đồ  ăn hay nhang đèn gì  để cầu cúng cho họ...

Thế là đêm đó, thay vì tản mát ẩn dưới các hầm cá để trốn những cơn gió lạnh cắt da, trên tàu bập bùng ánh lửa để những nhóm cùng tôn giáo quay quần bên nhau để cầu nguyện. Tiếng cầu kinh nhè nhẹ lan đi trong gió, nghe như tiếng nỉ non ai oán của những oan hồn, nhưng thực ra là của những con người đang cận kề nỗi chết. Có nhiều tiếng khóc nấc đã nổi lên giữa bài kinh cầu, giữa bản thánh ca... làm như có ai đã đụng phải  nỗi sầu bi mà mọi  người đã tự dồn nén nơi tận đáy lòng và giờ đây mới có cơ hội bày tỏ.
Sáng ra, khi mặt  trời chưa soi rõ mặt mọi người  thì đã có tiếng khóc rú lên  từ một hầm cá, rồi  hai ba tiếng khóc khác cùng hòa điệu theo:
-Ba ơi... Ba ơi... Sao ba bỏ má, bỏ con...
-Ông ơi là ông ơi! Ông đi sao chẳng một lời gì nói với tôi...
Một đám người ào tới bên hầm cá, nhìn  xuống mới biết người chết là ông cụ đói ăn lại bị đi ỉa chảy suốt mấy ngày liền, nằm bẹp một chỗ và sáng nay hồn lìa khỏi xác. Xác chết được hai thanh niên mau chóng đưa lên trên mặt thuyền, trong khi mấy người khác đã đem lại hai cái bao bố và một khúc lưới cá.
Họ đặt mấy cái bao tải lên xác  rồi dùng lưới cá quấn tròn ông cụ lại như đòn bánh tét. Mặt ông gầy đét nhô xương, mắt ông lõm xuống như người đã chết từ lâu. Một người đề nghị:
-Bà cụ và mấy đứa con tới nhìn mặt cụ lần cuối đi. Rất tiếc không để xác ông cụ trên thuyền được,  vì ông cụ chết bịnh, và chết từ hôm trước rồi mà không ai hay biết...
Không ai lên  tiếng phản đối, kể cả những người thân của ông cụ, họ chỉ đứng gạt lệ nhìn theo để thấy mấy người đàn ông nhẹ nhàng đẩy xác ông cụ ra khỏi lòng thuyền.  Xác cụ trôi  dập dềnh trên biển một lúc rồi dần khuất mất nơi xa...
Lúc này trên thuyền mọi người đã rã mệt vì đói, những người câu được cá không còn dám mổ đem  phơi vì sợ  mất trộm, có người vừa câu vừa trông chừng con cá đang phơi nắng thế mà vẫn mất. Lúc đói người ta có thể làm bất cứ chuyện gì, kể cả dằng ngay miếng cá của kẻ đang cầm trên tay để đút vào miệng mà chẳng màng đến hậu quả.
Trong cơn đói, do bao tử hối  thúc, có người đã nảy sinh ra nhiều sáng kiến. Một  trong những sáng kiến ấy là hốt hết đống cá sình ươn dưới hầm để làm cá... chà bông.  Nhờ lửa, nhờ mùi khét, và cũng nhờ người đứng bên chảo quấy nát mà  mớ cá tưởng rằng không thể ăn được, cũng đã được đem  chia đều cho những người đang đói. Đang đói mà có cái bỏ vào miệng ai cũng quý, và họ giữ  gói cá "chà bông" ấy trong tay như một báu vật dùng để ăn dần.
Người lớn ăn cá "chà bông" thì không sao, nhưng những đứa bé ăn vào đi ỉa chảy đến xanh cả mặt. Có bà đang mang bầu đứa con trong bụng đã gần tới ngày sanh, dù đói ăn nằm bẹp một chỗ mà vẫn bị cái  thai hành đến độ bỏ cái gì vào  miệng sau đó cũng ói ra thành vòi. Bà này luôn miệng cầu xin mau cho tới  bờ tới bến, để đứa con sinh ra còn cơ hội sống sót, chứ cứ lênh đênh giữa biển thế này thì chắc có ngày nó chết ngay trong bụng mẹ.
Trong đám  người xanh xao gầy rộc vì  thiếu ăn ấy cũng có những người chẳng màng đến việc chia chác thức ăn trên tàu. Mấy bà ưa chuyện thầm thì:
-Chắc gia đình con nhỏ đó có ngậm sâm, nên chẳng bao giờ thấy chị em nó ăn uống cái gì.
Người khác góp chuyện:
-Ban ngày thì chị em nó nằm bẹp dí, nhưng tối tới thì lục xục cả đêm. Tôi nghĩ là họ còn giữ được "cao lương" trong mấy cái túi mà họ giữ khư khư không rời nửa bước, lúc đi cầu cũng thấy họ mang theo, chắc chắn là phải còn của quý hoặc thức ăn gì đây.
Có ông ngồi gần nóng nảy đề nghị:
-Vậy chị tới xin thử miếng sâm cho bà có bầu xem họ có cho không? Có miếng sâm mà ngậm có thể cứu được đứa nhỏ trong bụng, bởi bả nói là mấy ngày nay nó nằm im rơ không còn quậy đạp như mấy ngày trước! Nếu  cái thai mà chết trong bụng rồi, thì bả cũng khó mà sống được lâu.
Chị đàn bà ưa chuyện nói mỉa:
-Lúc này ai cũng thủ ông ơi. Cứ tin tôi đi sức mấy mà họ cho!
Tiếng người đàn ông:
-Thì cứ đi xin thử, nếu họ không  cho thì thôi, với lại cũng là dịp để coi bà nào đoán đúng xem họ còn cái gì ăn trong cái túi đồ cất giữ như mả tổ ấy!
Một bà má hóp trơ ra hàm răng vẩu xung phong:
-Để tôi, chuyện đó có gì khó chớ!
Nói xong bà xiêu vẹo bước đi đến căn buồng phía sau phòng lái. Có tiếng nói qua nói lại một hồi rồi thấy bà khươ tay lên trời ra vẻ thất vọng lần đi trở lại chỗ cũ:
-Nhà họ nói không có gì để ăn  cả, cũng không có sâm siếc gì để ngậm. Tui gặng hỏi có gì trong túi  mà cứ giữ khư khư  thì con chị nói là "đồ gia bảo", có cho cũng chẳng ai dám  nhận! Mấy bà nghĩ coi đó là thứ gì, chứ vàng bạc lúc này mà cho thì cũng có người chìa tay ra nhận liền, chứ chê nỗi gì?
Người đàn bà ưa chuyện bỉu môi:
-Nó không muốn cho thì nói như vậy. Đúng là thứ bần tiện! Thử hỏi nếu không có những người đánh nhau với hải tặc, thì giờ chị em nó đã mang thứ đồ ấy xuống âm phủ mà ăn...
Vẫn ông có điệu nóng nảy, nghiến răng kèn kẹt:
-Nếu mà bà bầu ấy chết cùng với đứa con thì tôi sẽ tới vạch cái túi ấy coi mấy người đó đang thủ cái gì! Tôi  cũng nói trước với mấy bà biết, tôi chẳng có họ hàng  quen biết gì với bà bầu này cả, thấy bả như vậy cầm lòng không đậu thôi...

Rồi lại thêm những ngày dài  đăng đẳng trên tàu mà không có dấu hiệu gì được ai đến cứu. Có lúc tàu trôi qua một vùng biển có cả đàn chim dữ, chúng sà xuống tìm mồi và mổ mấy người bị thương máu chảy dầm dề. Những người bị chim  mổ là những người đói lả nằm im như người chết  trên tàu, và trở thành mục  tiêu tấn công của đàn chim háu đói.
Mỗi lần chúng sà xuống xoè  ra những móng vuốt cực kỳ bén  nhọn, thì cũng là  lúc những người trên  tàu tìm cách đối phó. Có mấy người còn sức giăng lưới đánh cá và bất ngờ tung chụp lên đàn  chim, khiến mấy con bị vướng lưới. Không ngờ trong lúc không còn thức ăn, chuyến tàu lại có thực phẩm từ trời rơi xuống khiến nhiều người xả thân lăn vào cuộc săn bắt đàn chim trời.
Đêm  đó, mùi  thịt chim  nướng thơm  lừng đánh  thức cả hàng trăm người trên tàu. Có 6 con chim bị bắt, con nào con nấy nặng cả một hai ký, to như con gà. Trước khi đem nướng, họ đã cắt cổ từng con chim để uống máu, rồi để cả lông đem nướng, họ không muốn vứt đi bất cứ thứ gì  trên con vật mà họ  bắt được. Có tí thịt sống đắp vào bụng làm nhiều người bớt uể oải, có ông khi xé miếng thịt chim đưa lên miệng không ăn vội mà còn hít hà:
-Chỉ thiếu xị đế là đủ quên đời! Hồi bọn tôi đi lính nhiều khi có đế mà không có mồi, còn bây giờ  có mồi thì lại thiếu  đế, thiệt thèm hết sức!
Ông mặt choắt nhai liến láu cái đầu chim còn đỏ hoe và nói:
-Sáng mai tụi mình chuẩn bị  sẵn lưới rồi nằm giả chết giữa sàn tàu, bất ngờ đánh úp thế nào cũng bắt được chim.
Một người đề nghị:
-Muốn bắt được chim phải có mồi nhử, nhất là phải kêu mấy người nằm trên tàu trốn bớt dưới hầm cá thì may ra chim mới dám sà xuống. Nếu nhử  nó xuống  cả  bầy thì bọn  mình trúng mối to...
Có ông chặc lưỡi than:
-Biết vậy mình giữ lại một con, cắt cánh cột chân nó xuống giữa tàu, đồng bọn của nó nghe thấy tiếng kêu chắc chắn sẽ đến cứu. Dưới quê tôi những người đánh bắt chim đều làm theo phương pháp này, chứ loại chim dữ như diều hâu mà dùng người để nhử thì nguy hiểm lắm, có thể bị nó móc mù mắt như chơi!

Đến sáng, mọi dự tính của những  người trên tàu đều tan thành mây khói vì tàu  đã trôi qua vùng biển khác, không ai nhìn thấy bóng dáng của đàn chim dữ hôm qua. Đã thế, càng về chiều những đám mây đen hợp cùng gió biển đã giáng  xuống con tàu một cơn mưa bão lớn chưa từng thấy. Con tàu lắc lư, chòng chành qua lại mỗi lúc một dữ dội, đám người trên tàu ướt như chuột và ai dù mệt mỏi và lười biếng đến  đâu cũng phải dùng  hết sức tàn để  lê thân chạy trốn, bởi những hạt mưa đá bị gió mạnh quất xuống không thua gì những làn roi da đánh xuống đám tội nhân!
Trong lúc mọi người đang chèn  nhét nhau tránh bão ở dưới các hầm cá, hầm máy, thì  trên sàn tàu tuy hoang vắng, nhưng vẫn còn một bà cụ già đang lom khom bò ra từ trong một "ổ chuột" được che dựng bằng những thùng gỗ đựng cá. Bà bò lết ra gần  giữa tàu một cách chậm chạp và mấy lần bà bị gió thổi lăn ngược trở lại mà bà vẫn không bỏ cuộc. Đúng lúc bà vịn vào chiếc cột và định đứng lên thì gió bão đổi hướng, nó thổi bà té lăn xuống mé nghiêng của thuyền, và hất bà văng xuống biển...
Đến khi biển êm mưa tạnh, thì  cũng là thêm một ngày mới bắt đầu. Chiếc thuyền đã không bị nhận chìm xuống đáy biển trong cơn bão chiều qua, và mọi người đã thiếp đi trong bóng đêm sợ hãi. Bây giờ họ lại lục tục ngoi lên để phơi  nắng, để quần áo được hong khô dưới ánh nắng mặt trời, và cũng để chiếm lại các chỗ mà họ đã cư ngụ trong những ngày qua. Trong lúc thu dọn lại các thùng gỗ, ông lái tàu đột nhiên la hoảng:
-Có ai thấy bà già nằm ở đây đi đâu rồi không?
Không có tiếng ai trả lời! Một vài người còn sức đi rà soát lại trên tàu và sau đó xác nhận bà cụ đã mất tích trong cơn bão đêm qua!
Rồi lại thêm những ngày dài tuyệt vọng và đói khát trên biển. Cả ngày lẫn đêm, đâu đó thường vang lên những tiếng cười khan, những giọng kể lể,  những cái chép miệng thèm thuồng, của những người đã lâm vào tình trạng mê sảng. Không còn sự hoạt động  nào trên thuyền, kể cả việc tiểu tiện, vì không ai còn gì trong bụng  để mà tiêu hóa, để mà có sức đi lại, nên không khí trầm lặng và hoang vắng như một bãi tha ma.
Đúng lúc ấy lại có một con  tàu buôn tiến đến, ngày càng gần, rồi tới lúc gần đến độ người bên thuyền tị nạn nhìn thấy rõ những người đang đi lại trên tàu. Có vẻ họ tiến gần đến thuyền vì sự tò mò hơn  là để cứu nên  không tỏ ra bất  cứ dấu hiệu nào tích cực hơn. Thấy thế, một vài người còn  khoẻ mạnh bên thuyền  tị nạn bèn nổi lửa đốt phần tầng trên  của thuyền, với  hy vọng chiếc tàu buôn sẽ đến cứu. Thế nhưng kết quả thật thảm hại, chiếc tàu buôn thấy lửa lại càng không dám  tiến đến gần, sợ bị vạ lây, nên đã quay đầu tống ga bỏ chạy! Thế là đám tị nạn đau khổ trên tàu lại phải gom hết tàn hơi để dập tắt ngọn lửa!

Vào một ngày mà mọi người trên tàu đều nằm rũ liệt vì đói, thế mà vẫn có một người ráng hết sức để loan tin:
-Sắp có tàu đến cứu chúng ta rồi! Tối hôm qua ông thuyền trưởng của ghe mình hiện về nói là họ đã thoát khỏi vòng kềm hãm của bọn hải tặc, và bảo đảm là sẽ tìm tàu đến cứu. Tôi biết ông thuyền trưởng sẽ phải làm điều này, nếu không chỉ vài ngày nữa là hai đứa con của ổng sẽ chết, vì tụi nó đã bị tiêu chảy và nằm ọp một chỗ đã mấy ngày nay rồi!
Không ai hưởng ứng nguồn tin sốt dẻo này của người đàn bà vừa kể, họ đã  trông mong nhiều rồi, hy vọng nhiều rồi mà cũng chưa bao giờ nhìn thấy kết quả. Cách đây mấy ngày, có tàu tiến đến sát gần thế mà cũng bỏ đi, như vậy có ai còn dám mơ mộng là sẽ có người khác đến đem họ ra khỏi vòng tay thần chết?
Dầu thế, cũng có người tin tưởng vào lời kể trên, với hy vọng sống còn. Ông mặt choắt tiến  đến gần người đàn bà kể chuyện và hỏi:
-Bà có chắc là ông Đại úy đã hứa sẽ gọi tàu đến cứu hay không?
-Tôi tin chứ, vì ổng không cứu mình thì cũng phải cứu hai đứa con ổng chứ!
Ông mặt choắt với giọng thành khẩn:
-Thế thì mọi người phải cầu nguyện cho ổng có thêm sức mạnh, chứ không thì mình ổng làm sao lại với đám quỷ ma dưới biển!
Người đàn bà đưa tin quả quyết:
-Ổng sống khôn thác thiêng! Ổng là người chỉ huy khi sống thì khi chết phải thành thần! Đêm qua tôi thấy ổng mặt mày sáng láng vui vẻ lắm, không giống với khi ổng mới chết...
Một bà khác nằm gần đó, giọng thều thào đứt quãng:
-Bà già có đứa con bị hải tặc đâm chết... cũng kể cho tôi nghe... là con bả không còn hiện về  nữa... chắc nó được  đi đầu thai rồi... Lạy Trời, lạy Phật... cứu nạn chúng sinh...
Một anh thanh niên xen vào:
-Thế họ đi đầu thai hết rồi, thì còn ai mà dẫn tàu đến cứu?
Bà gần chết vẫn giọng thều thào:
-Họ sẽ... kể khổ với thần linh... Họ sẽ nhờ thần linh...
Mọi người có vẻ an tâm với lời  giải thích của người đàn bà nói giọng yếu ớt. Nắng cháy của biển  cũng không dấu được vẻ mặt xanh như tàu lá, quắt queo và héo hắt  vì đói của người đàn bà này. Bà ta có  vẻ yếu lắm rồi, nhưng vẫn gắng gượng sống  trong niềm hy vọng...

Ngày thứ 22 trên biển, con thuyền mà người tị nạn chiếm được từ tay của bọn hải tặc vẫn cứ  nghiêng một bên và trôi bất định trên biển cả! Mọi nguồn lương thực trên tàu như cá ươn và nước ngọt đã cạn kiệt,  trên tàu lúc này đúng là một bãi tha  ma với đây đó những  thân  người  ẻo  lả  và  yếu  đuối nằm la liệt trong lòng thuyền. Vào đúng cái lúc thập tử  nhất sinh ấy thì đột nhiên một phép lạ đã xảy ra...
Sáng hôm ấy, viên thuyền trưởng của chiếc tàu  dầu dài hàng trăm thước của Anh quốc đang vượt qua vùng biển  Nam Dương, nơi có vô số các đảo nhỏ trước khi tiến đến vùng Bắc Úc (Darwin) của Úc Đại Lợi để xuống  dầu - thì được viên phụ tá báo cho biết là có một chiếc thuyền nằm  chấn ngang giữa hải lộ mà tàu dầu sẽ băng qua. Nhân viên trên tàu đã liên lạc  và đánh tín hiệu nhiều lần nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào đáp trả, có thể đây là chiếc thuyền hoang và không có người nào trên thuyền!
Ông thuyền trưởng bỏ dở buổi tập thể dục buổi sáng trên tàu, và trở lại phòng chỉ huy. Ông ra lệnh  cho tàu tiến đến gần chiếc thuyền lạ, và dùng ống dòm theo dõi.
Trong khi chiếc tàu cứu tinh càng lúc càng tiến đến gần, mà chẳng mấy ai  hay biết. Điều này càng làm cho viên thuyền trưởng cảm thấy có trách nhiệm khi thấy trên thuyền nằm  la liệt "những xác người". Ông quyết định cho cặp tàu vào sát chiếc thuyền đánh cá để xem xét.
Và khi chiếc thang giây đầu tiên  được thả xuống, viên thuyền trưởng đã được  báo cáo qua máy liên lạc là "còn rất nhiều người còn sống, họ chỉ yếu sức vì đói"... Thế là các cuộn lưới được thả xuống để cho người tị nạn bám vào để leo lên, nhiều người run rẩy đến độ tuột tay rơi xuống nhưng đều được những tấm lưới này cứu mạng.
Thế là người mạnh dìu người yếu, trong khi các thủy thủ trên tàu làm việc không ngừng nghỉ để kéo họ lên boong tàu. Viên thuyền trưởng rất đỗi ngạc nghiên khi thấy số  người được cứu cứ  tăng dần, vì ông không đoán trước được là đa số người tị nạn đang ẩn mình dưới các hầm cá, và số người  nằm "giả chết" trên mặt thuyền chỉ độ mươi người...
150 người được cứu đưa lên tàu dầu, họ ngồi chỉ hết một góc nhỏ ở đầu con tàu cứu tinh! Trông họ như những thây ma vừa được lôi lên từ đáy mộ, ai cũng lem luốc bẩn thỉu, rách rưới và hôi tanh... Có khoảng hai chục người phải đưa vào phòng cấp cứu trên tàu để chữa trị cấp tốc, vì sức khoẻ quá yếu, số còn lại  được đưa qua phòng ăn...
Các thủy thủ và đầu bếp trên tàu đã nấu xong những tô cháo thịt nóng hổi. Họ không  dám cho đám người tị nạn ăn ngay các loại thức ăn khác, và cháo được chọn là để  cho bao tử của mọi người dần thích hợp lại sau nhiều ngày đói khát. Có lẽ trong cuộc đời của họ, họ sẽ chẳng bao giờ có thể  quên được chén cháo  thơm ngon và tuyệt vời nhất trong lúc này...
Chỉ tới buổi chiều hôm đó, gần  như mọi người đã dần phục hồi lại sức khoẻ. Nhiều người đã tự đi tắm rửa cho sạch  sẽ, và được các thủy thủ trên tàu cho mượn các bộ  quần áo công nhân để  mặc đỡ. Sau khi tắm rửa và bận áo quần  khác trông họ có vẻ tươm tất và sạch sẽ hơn nhiều, đây đó  đã có tiếng cười  và những nhóm người tụm lại để kể về lúc được cứu vớt:
-Tui biết tàu của họ đến chớ, nhưng mà tui ra dấu nói anh em đừng có đứng lên hò hét xin cứu mần chi, để họ thấy chết mới cứu, chứ tàu mình to chần dần thế này thì ai dám cứu!
Một bà lên giọng:
-Chứ không  phải nhờ tụi tôi và mấy  đứa nhỏ nằm  dang nắng trên thuyền sao?
Chị phụ nữ kể chuyện giấc mơ sẽ có tàu đến cứu, giọng rõ mồn một:
-Tôi đã nói rồi, chính ông thuyền trưởng của ghe mình và mấy người mất mạng vì hải tặc đến  cứu mình chứ không ai khác. Ông ấy đã thề  hứa như vậy, và hướng dẫn tàu dầu đến cứu, chứ các lần trước không có ổng thúc dục họ, họ cứ đi tỉnh bơ cả chục chiếc chứ có ít oi gì đâu! Mới đó mà  mấy ông mấy bà đã quên ơn họ, tôi nói thiệt, lên bờ  là tôi cúng họ không chỉ một bữa mà là cả năm cũng chưa đủ để đền ơn này...
Mọi người có vẻ đồng tình bằng sự im lặng bất chợt. Bỗng có bà rề lại nói nhỏ:
-Vậy có ai thấy  mấy chị em cái con nhà độc địa, lúc nào cũng ôm khư khư cái túi trước ngực đâu không? Tui bảo đảm là trong túi đó đến khi được cứu vẫn còn có thức  ăn! Thế mà tụi nó ác nhân không chịu chia cho bà bầu chút xíu để giữ sức cầm hơi!
Ông mặt choắt đang nằm vắt  tay lên trán ngồi  bật dật với giọng nhân từ:
-Lúc đói người ta có thể giết nhau vì miếng ăn, thế mà tạ ơn trời đất trên tàu mình chưa xảy ra chuyện này! Nếu mà đói thêm vài ngày nữa thì chắc cũng khó mà tránh khỏi, vì tôi biết có người đã dự định việc ấy rồi... Tôi cũng kể thiệt  cho mọi người hay, cái túi mà mấy chị em nhà kia cứ ôm giữ khăng khăng đó đã bị liệng xuống biển cách đây mấy ngày rồi!
Người đàn bà ưa chuyện hỏi dồn:
-Tại sao lại liệng xuống biển? Vậy chứ trong đó có cái gì mà chị em nó phải dấu mọi người?
Ông mặt choắt ra dấu xin mọi người im lặng rồi nói:
-Tôi kể chuyện này ra nhưng xin  mấy người giữ kín dùm. Tay thanh niên nằm bên cạnh tôi đói quá nên đang đêm mò đến chỗ ngủ của mấy chị em đó, dùng dao cắt lấy được cái túi rồi mang về hầm cá mở ra! Tụi nó thất kinh khi nhìn thấy vật ở trong túi, và đó là lý do tôi biết chuyện... cái túi bị đem quăng xuống biển...
Mọi người lại ồn ào, nhốn nháo:
-Cái gì trong túi mà sợ đến độ phải quăng xuống biển?
-Không có vàng thì cũng phải có sâm, có sữa bột... gì chớ!
Chờ cho mọi câu hỏi qua lại không còn nữa, ông mặt choắt mới nhẹ nhàng phán:
-Trong túi chỉ có lọ tro cốt mà thôi!
Có tay không dằn được, chửi thề:
-Đù mẹ! Đi vượt biên mà còn đem theo tro cốt làm gì? Đem theo hũ đường coi bộ còn có lý hơn!
Người đàn bà ưa chuyện xía vào:
-Thảo nào mà tàu mình xui bỏ mẹ! Gặp toàn chuyện gì đâu không hà! Chắc là nhờ ném hũ cốt đó xuống biển nên tàu mình mới "nhẹ" đi mà được cứu không chừng!
Người đàn bà kể chuyện giấc mơ trái lại ôn tồn hơn:
-Nói gì thì nói, mình được cứu  là nhờ người "cõi âm", người chết đựng trong hũ tro cốt cũng vậy, họ có người nhà thì cũng phải tìm cách góp phần vào việc cứu thoát cho tàu  mình. Như vậy, đừng ai còn giận hờn hay nghi oan gì cho gia đình mấy chị em đó nữa. Cũng đừng ai kể chuyện  lọ tro cốt đã bị ném xuống biển, kẻo lại sinh ra oán hận lôi thôi, vì một khi họ muốn đem tro cốt đi thì cũng muốn tro cốt ấy được có chỗ  để cúng giỗ phụng thờ. Giữ mãi không sao mà khi được lên bến bờ thì lại để mất chắc họ sẽ đau đớn lắm, và họ sẽ không tha cho người ném cái hũ cốt ấy xuống biển đâu!
Ông mặt choắt xuống giọng:
-Tôi lỡ kể ra chuyện này cũng chỉ với mục đích xin mọi người đừng nghĩ xấu đến mấy chị em nhà đó, chứ tôi không có ý chỉ  chứng người nào ăn cắp cái túi rồi vứt xuống biển! Vậy mấy ông bà làm ơn giữ kín và tìm cách an ủi họ để tàu mình không xảy ra chuyện xích mích khi lên bờ. Và nếu có ai đưa chuyện này tới tai họ, thì tôi cũng phủ nhận câu chuyện mà tôi vừa mới kể, và tôi xin mọi người ở đây đừng nhìn mặt...
Mọi người đều ra dấu đồng tình,  cam kết là không để thêm ai biết chuyện, rồi chuyển qua chuyện  khác. Vẫn ông mặt choắt lên tiếng:
-Bà bầu và đứa con trong bụng an  toàn rồi. Y sĩ trên tàu cấp cứu và truyền nước biển ngay khi bà  ấy vừa lên boong tàu. Bây giờ bà ấy da dẻ hồng  hào, khác hẳn lúc nằm bẹp dí  dưới hầm tàu...
Một chị phụ nữ nhất định không cho ai trở lại chuyện cũ nên đặt một câu hỏi rất "thời sự" mà ai cũng muốn biết:
-Không hiểu họ sẽ đưa mình đi  đâu? Nghe nói tàu dầu này mới từ Singapore ra, và đang trên đường đến Úc thì cứu được tàu mình...
Bà ưa chuyện chen ngay vào:
-Úc là nước nào vậy? Từ bé tới lớn tôi chưa hề nghe thấy tên nước này! Hay là  mình lên yêu cầu ông Thuyền  trưởng cho quay tàu trở lại Singapore đi, vì tôi nghe nói  ở đó sướng lắm, được phát tiền đô mỗi ngày rồi lại được đi định cư sớm nữa...
Một ông trung niên đeo cặp kính cận dày cộm tình cờ đi ngang nghe chuyện dừng lại lên giọng ra vẻ hiểu biết:
-Tàu người ta đang trên đường đến  Úc, thì cứ để người ta đến Úc! Các ông các bà có biết một ngày trễ nải của họ là tốn bao nhiêu tiền không? Vài chục ngàn Mỹ kim đó, chứ không phải tiền Lèo đâu! Họ cứu mình là hy sinh quá sức rồi! Xin lỗi, họ có đưa mình đến đảo hoang mà liệng tôi cũng quỳ xuống  cảm ơn chứ  đừng nói đưa mình tới Úc... Không biết thì thôi, nói ra chỉ tổ để cho người ta thấy sự vô ơn của mình...
Bà ưa chuyện khi không bị mắng vốn, tức mình hỏi lại:
-Vậy chớ anh biết gì về nước Úc đây?
Gỡ cặp kính cận ra khỏi mắt, người đàn ông trung niên nói:
-Tôi đọc sách  nhiều nên biết Úc là Úc Đại Lợi, là nơi đất rộng người thưa, biển nhiều, khí hậu ôn đới và đa số dân Úc sống bằng nghề nông nên rất thích hợp với người Việt Nam chúng ta...
Bà ưa chuyện dề môi:
-Xì tưởng gì! Ông còn  sức thì đến Úc mà làm nghề  nông, còn tụi tôi già rồi chắc phải xin đi nước khác thôi! Nói thiệt! Nghe đất rộng người thưa làm tôi nhớ tới vùng Kinh tế mới Lê Minh Xuân quá, giờ này nhắc tới chỗ đó tôi vẫn còn ớn lạnh tới tận xương sống...
Ông đeo cặp kính cận tỏ vẻ bực bội:
-Nói chuyện với bà này chán bỏ mẹ! Bà có biết là các nông gia trại chủ ở Úc giàu có đến mức nào không? Người ta dùng máy móc hết chứ không dùng  sức người như  bà tưởng  đâu! Đến Úc cho tôi ăn táo rụng, nho thừa cũng sung sướng cả đời... dễ gì mà có chuyện "chân lấm tay bùn" như bà nghĩ!
Câu chuyện  đang tới hồi  sôi nổi bởi bên binh người chống, thì bỗng có người chạy vào các phòng la lớn báo tin:
-Có ai muốn ra coi họ đánh đắm tàu hải tặc thì ra mà xem...
Ở cuối boong  tàu đã có  một đám người đứng sẵn, họ chờ coi đám thủy thủ trên tàu dầu đánh  đắm chiếc thuyền mà người tị nạn đã lấy được từ tay hải tặc. Trước đó viên Thuyền trưởng đã hỏi ý một số người, và không một ai muốn kéo chiếc thuyền ma quái ấy theo vì ai cũng hãi nó quá rồi! Chiếc tàu dầu tăng tốc độ, kéo chiếc thuyền hải tặc băng băng  lướt sóng, bất thần sợi dây kéo được thả bung, làm chiếc thuyền lắc lư qua lại mấy lần tưởng như sắp bị lật úp, thế mà nó vẫn gượng dậy như cây sậy ngả nghiêng trước gió! Có người ôm mặt kêu:
-Ghê quá! Ghê quá! Nó không chịu chìm, nó vẫn còn nổi...
Ông tài công lại có ý nghĩ khác:
-Chiếc tàu này  cũng đáng giá lắm,  nếu nó  không chìm, dân chài trong vùng sẽ ra kéo về sửa sang lại chút đỉnh  là lại có thể ra khơi đánh cá...

ĐOẠN KẾT:
Chuyến  tàu trên đi tại Cần Thơ  ngày 8.11.1979, sau 22 ngày  lênh đênh  trên biển,  họ được  cứu vào  lúc 10g trưa ngày 29.11.1979 trong  lúc đã cạn kiệt  lương thực, và nhiều người có thể chết trong những ngày kế tiếp. Con tàu dầu mang tên "Entalina London" do thuyền trưởng Anh tên Norman Sloan cho biết, ông đã cứu 150 người kể trên trên tại vùng biển Borneo, và ngày 4.12.1979 tàu đã ghé bến Darwin (Bắc Úc) để đưa số người này lên bờ. Một số đã được đưa đi định cư tại Anh vì do tàu Anh vớt, nhưng đa số đã xin định cư tại Úc và họ đã được chuyển đến định cư tại hai tiểu bang chính là Melbourne và Sydney. Trong số người được cứu từ con thuyền này, có gia đình của chủ bút VNTB.

*Nguyễn Vy Túy