Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

Bối cảnh và diễn biến hải chiến Hoàng Sa 1974


Tác giả: Carl O. Schuster
Biên dịch: Lê Đỗ Huy; Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.

HQ- 16 tới đảo Hữu Nhật (Robert Island) vào 16/1 và nhận thấy đảo này đã bị “ngư dân” Trung Quốc, từ hai thuyền đang neo tại bãi ven đảo, chiếm đóng. Chỉ huy tàu HQ – 16 lệnh cho những người Trung Quốc rời đảo và bắn thị uy để họ hiểu ý định của ông. Sau đó họ bắn và phá hủy các lá cờ Trung Quốc và một khu vực chế biến cá mà những “người đánh cá” triển khai 6 ngày trước đó. HQ – 4 tới Hoàng Sa ngày 17/1 và phái một đơn vị đặc nhiệm SEAL của Nam Việt Nam lên đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh (Money Island) gần đó để nhổ những cờ Trung Quốc. Ngày 18/1, hai tàu chiến của Nam Việt Nam đuổi một tàu đánh cá bằng lưới rà của Trung Quốc, buộc con tàu bị phá hủy nặng nề này phải rời vùng biển. Sau đó các tàu khu trục Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu quét mìn Nhật Tảo HQ-10 tới Hoàng Sa.

Sài Gòn nghĩ rằng đã chặn được nỗ lực trong suốt 6 tháng liền của Bắc Kinh nhằm chiếm nửa phía tây của Hoàng Sa. Những “ngư dân” có vũ trang của Trung Quốc trước đó hầu như đã đẩy được các ngư dân Nam Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa, và ít nhất có hai tàu đánh cá Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động tại vùng nước mà Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng biến động gần nhất này của Trung Quốc lại là khởi đầu của một giai đoạn mới trong nỗ lực nhằm chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Lần này, những “ngư dân” Trung Quốc là thành viên của lực lượng Dân quân biển  – một lực lượng bán vũ trang của Hải quân Trung Quốc.

Hai chiếc tàu cá gần đảo Hữu Nhật báo cáo về Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải Trung Quốc. Ngày 16/1, Bộ Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực. Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi. Bắc Kinh quyết định giải quyết tranh chấp tại Hoàng Sa bằng vũ lực nếu thời cơ cho phép.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 130 đảo san  hô, mỏm đá ngầm và bãi cát nằm rải rác trên 5.800 dặm vuông trên Biển Đông, cách gần đều cảng Đà Nẵng của Việt Nam (200 hải lý) và đảo Hải Nam của Trung Quốc (162 hải lý). Diện tích của toàn quần đảo (chỉ tính mặt đất) là khoảng 3 dặm vuông. Hầu hết các đảo hợp thành Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) về phía đông bắc và Nhóm đảo Lưỡi liềm (Crescent Group) về phía tây, cách nhau khoảng 39 hải lý. Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh là lớn nhất trong các đảo thuộc Hoàng Sa, có diện tích khoảng 530 mẫu Anh.

Cho dù những tuyên bố chủ quyền của cả Việt Nam và Trung Quốc đều có từ các triều đại phong kiến xa xưa, gốc rễ của sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam gắn với những năm 1930 và các tham vọng của thực dân Pháp. Nước Pháp, cường quốc đô hộ Việt Nam từ 1858, đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1932 nhưng từ đầu không quan tâm đến việc chiếm giữ các đảo này trên thực tế. Điều này thay đổi vào năm 1937 khi cuộc chiến của Nhật Bản với Trung Quốc – vốn bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật chiếm Mãn Châu Lý –  leo thang khi Nhật tiến quân sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Người Pháp lo Trung Quốc hay Nhật sẽ chiếm các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nên đã đặt một trại lính gồm khoảng 100 lính Pháp và Việt tại đảo Phú Lâm vào năm 1938 như một khu đệm để mở rộng chu vi phòng thủ cho các thuộc địa Đông Dương của Pháp.

Nhà cầm quyền Anh ủng hộ bước đi này của Pháp vì nó mở rộng phạm vi phòng thủ của thuộc địa Malaya của Anh. Cả hai cường quốc châu Âu này cho rằng cuộc chiến tranh của Nhật chống Trung Quốc chỉ là bước đi ban đầu của kế hoạch chiếm các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á. Nhưng thay vì răn đe hành động của Nhật trên Biển Đông, việc đồn trú tại Hoàng Sa của Pháp lại khiêu khích Nhật. Nhật cho một đơn vị nhỏ lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đảo Phú Lâm chỉ một tháng sau khi Pháp cho quân đồn trú. Quân đồn trú trên đảo đầu hàng, không nố súng chống lại. Nhật sáp nhập Trường Sa và Hoàng Sa vào năm 1941, tuyên bố chúng thuộc Đài Loan, đảo đang bị Nhật chiếm đóng lúc đó.

Sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật ngày 6 và 9/8/1945, Tokyo bắt đầu rút quân khỏi các quần đảo này. Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite) hai tháng sau đó, và đặt một đồn trên đảo Phú Lâm vào tháng Giêng 1946. Pháp sau đó do không đẩy được quân Quốc dân Đảng ra khỏi Nhóm đảo An Vĩnh bằng một cuộc biểu dương lực lượng hải quân đành tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Lưỡi liềm và đổ bộ một trung đội lê dương lên đảo Hoàng Sa (Pattle) để ngăn quân Quốc dân Đảng chiếm đóng đảo này.

Chính phủ Quốc dân Đảng lặp lại yêu sách đối với toàn bộ Biển Đông năm 1947, xuất bản một bản đồ đưa các yêu sách lãnh thổ vào khuôn khổ một “đường chín đoạn” dọc vành ngoài của Biển Đông. Năm 1949, quân Trung Cộng đẩy chính quyền Quốc dân Đảng ra Đài Loan. Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, nhưng không giao quyền kiểm soát của mình cho bất cứ một bên có yêu sách cụ thể nào khác, đẩy vấn đề sở hữu các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) rơi vào tình trạng không được giải quyết. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng họ thừa kế các yêu sách đối với Biển Đông từ chính phủ Quốc dân Đảng.

Mặc dù vậy Nam Việt Nam đã chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi liềm từ năm 1954 và đặt một lực lượng đồn trú nhỏ trên ba hòn đảo. Trung Cộng giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh và đảo Phú Lâm vào năm 1956. Ngư dân Trung quốc đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) năm 1959 nhưng phía Nam Việt Nam đã đuổi họ đi.

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, Sài Gòn, tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hải quân Mỹ, đã rút các đơn vị đồn trú của mình. Tới năm 1967, sự hiện diện của Nam Việt Nam tại quần đảo chỉ còn một trạm khí tượng. Trung Quốc tỏ ra chấp nhận nguyên trạng.

Hai biến chuyển trong tình hình những năm 1970 đã thay đổi bàn cờ Biển Đông: các báo cáo về trữ lượng dầu tại thềm lục địa vùng này xuất hiện vào giữa năm 1972, và Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Các lãnh đạo châu Á đột nhiên nhận thấy tranh chấp Biển Đông không chỉ là một vấn đề chính trị và hành chính, mà còn là vấn đề phát triển kinh tế. Nhóm thân cận với Mao tính toán rằng những phần thưởng về kinh tế lớn hơn những rủi ro xảy ra xung đột quân sự. Vả lại, những rủi ro đang giảm xuống.

Mao nhận thấy một chính phủ Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam sẽ thiếu ý chí dấn vào một cuộc xung đột khác, lại đang mong được Trung Quốc hỗ trợ chống lại một Liên Xô đang ngày càng thách thức hơn. Nguyên thủ Trung Quốc kết luận rằng chế độ Sài Gòn khó có khả năng được Mỹ hỗ trợ, và sự tồn tại của nó cũng đang được tính bằng ngày. Nhóm thân cận với Mao cũng hiểu rằng Bắc Việt Nam vẫn còn cần viện trợ của Trung Quốc trong nỗ lực chiến thắng Nam Việt Nam, đồng thời đồng minh khác của Hà Nội là Liên Xô không có lực lượng trên địa bàn này để cản trở Trung Quốc hành động đối với các đảo (trên Biển Đông). Mao ra lệnh tiến hành một loạt những bước đi nhằm ép Nam Việt Nam từ bỏ Hoàng Sa.

Không biết các ý định của Bắc Kinh, Sài Gòn tuyên bố quyền kiểm soát về hành chính tại nhóm đảo Lưỡi liềm vào tháng 8/1973 và một tháng sau cho phép thực thi các hợp đồng thăm dò dầu khí tại các vùng nước quanh nhóm đảo này. Cuộc đột nhập đầu tiên của đội tàu đánh cá của Trung Quốc xảy ra vào cuối tháng 7. Một số “ngư dân” có vũ trang, và ít nhất một tàu trong số này là loại bọc thép, nhưng chúng rút ngay mỗi khi các đơn vị Hải quân Nam Việt Nam tới. Sài Gòn triển khai các đơn vị đồn trú có quân số khoảng một trung đội trên ba hòn đảo thuộc nhóm đảo này.

Tháng 10/1974, các tàu đánh cá lưới rà số 402 và 407 của Trung Quốc đưa thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Quang Hòa, thiết lập một trạm cung cấp, hầm hào, và cắm cờ Trung Quốc khắp trên đảo. Nam Việt Nam bắt giữ một số tàu đánh cá Trung Quốc vào tháng 11 cùng thủy thủ đoàn của chúng. Các thủy thủ Trung Cộng bị đưa về Đà Nẵng nơi họ phải thú tội trên truyền hình về các hành động phạm pháp và các tội ác đối với nhân dân Việt Nam trước khi được thả. Nhưng những vụ tàu đánh cá Trung Quốc tấn công dân chài Việt Nam tiếp tục diễn ra. Cùng kỳ, Mao ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc chuẩn bị hành động quân sự để hỗ trợ các ngư dân Trung Quốc.

Ngày 10/01/1974, một nhóm ngư dân Trung Quốc tiến hành đánh bắt cá tại đảo Hữu Nhật thuộc nhóm đảo Lưỡi liềm. Nhóm này đã bị các dân chài Việt Nam phát hiện 3 ngày trước, nhưng họ không thông tin được cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cho tới khi về tới Đà Nẵng hôm 11/01/1974. Cùng ngày, Bắc Kinh ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền không thể tranh cãi của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như bãi ngầm Macclesfield, một đảo san hô vòng cách quần đảo Hoàng Sa 70 hải lý về phía Đông.

Nhận thấy những ý đồ của Bắc Kinh, Sài Gòn cử các tàu khu trục HQ-16, HQ-4, HQ-5, và tàu quét thủy lôi HQ-10 chở đội đặc nhiệm SEAL đến đảo Hữu Nhật. Hai trong số các tàu khu trục trên là thủy phi cơ đời Thế chiến II được cải tiến, tháo bỏ các thiết bị hỗ trợ thủy phi cơ, còn chiếc thứ ba là tàu khu trục hộ tống được cải tiến. Tất cả chúng ở trong tình trạng kém, thường xuyên xảy ra các vấn đề về kỹ thuật và vũ khí, khiến tốc độ và hỏa lực đều bị hạn chế.

Đến nơi vào ngày 16/1, các tàu chiến của Nam Việt Nam đã nhanh chóng đuổi các ngư dân Trung Quốc đi. Tàu đánh cá (TQ) số 407 báo cáo sự việc HQ-16 tới lên Bộ chỉ huy dân quân biển tại Du Lâm trên đảo Hải Nam ngay sáng 16. Điện báo này về tới Bắc Kinh vài giờ sau.

Chiều tối hôm đó, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phái hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 đón một đại đội dân quân biển gồm bốn trung đội (mỗi trung đội 10 người) từ đảo Phú Lâm đưa sang Nhóm đảo Lưỡi liềm. Bắc Kinh cố gắng tăng viện cho quân của họ, nhưng giống như đối phương, tàu chiến của Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tồi tệ.

Cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc – một cuộc thanh trừng chống các ảnh hưởng phi chủ nghĩa xã hội và các đối thủ của Mao – đã làm hư hoại gần như hoàn toàn các xưởng đóng tàu của nước này. Hơn 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư, nhà giáo, công nhân lành nghề, cán bộ hành chính bị tù đày hoặc giết chết, gồm cả những người đã đóng và bảo dưỡng tàu bè của nước này cũng như mạng lưới đường sắt chuyển vật tư tới các xưởng đóng tàu.

Kết quả là tàu chiến tốt nhất của Hải quân Trung Quốc, các khu trục hạm loại Type 065 đã không thể khởi hành. Còn chiếc 271 vừa xuất xưởng và chưa hoàn tất việc chạy thử trên biển, và chiếc 274 với động cơ diesel ở tình trạng kém, không thể đạt tốc độ 18 hải lý/giờ. Vậy mà chúng vẫn nhanh hơn, được trang bị tốt hơn các tàu của hải quân Nam Việt Nam. Hai chiếc tiêm kích Thẩm Dương J-6, bản copy của MIG – 19 do Liên Xô sản xuất, yểm hộ đường không cho các tàu săn ngầm, nhưng không có năng lực hoạt động tầm xa đủ để trực chiến trên đầu các tàu khi chúng nhập cuộc sáng 17/1.

Vào rạng sáng 18/1, hai tàu Trung Quốc đã đưa được một trung đội dân quân biển lên đảo Duy Mộng, một trung đội khác lên đảo Quang Hòa tây, và hai trung đội lên đảo Quang Hòa. Các trung đội này lập tức tiến hành đào hầm hào và đặt mìn và bẫy phía trước trận địa của họ. Hai tàu rà thủy lôi loại Type 10 đóng ở Quảng Châu, mang số hiệu 389 và 396, được lệnh tăng cường cho các tàu săn ngầm loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274. Chúng cũng đến nơi vào cuối buổi sáng hôm đó.

Hai chiếc tàu chiến khác có thể hoạt động được lúc đó của Trung Quốc là hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam được điều từ Sán Đầu, cách đó khoảng 476 hải lý. Chúng tiến về Hoàng Sa với tốc độ tối đa, được tiếp dầu ở Trạm Giang, phía nam Hồng Kông, và tại Du Lâm. Các tàu chiến này được lệnh hỗ trợ các thuyền đánh cá của dân quân biển với điều lệnh chiến đấu “không gây sự; không bắn trước; nhưng nếu lâm chiến, phải thắng”.

Vào sáng sớm 19/1, hạm trưởng chia tàu của Trung Quốc thành hai nhóm: tốp đầu gồm 4 chiếc do các tàu săn ngầm Kronstadt dẫn đầu, và tốp sau gồm các tàu săn ngầm lớp Hải Nam vừa tới. Hạm trưởng được lệnh đáp trả mọi thách thức đối với các tàu đánh cá của dân quân biển và hỗ trợ các ngư dân trên các đảo nếu cần.

Hải quân Nam Việt Nam cũng chia thành hai tốp. Tốp đầu bao gồm các tàu khu trục HQ-4 và HQ-5. Tốp này chạy vòng quanh các đảo Quang Ảnh (Money) và Hải Sâm (Antelope) từ phía nam và tiếp cận đảo Quang Hòa. Tốp thứ hai gồm các tàu quét mìn HQ-10 và tàu khu trục HQ – 16, băng qua vùng đầm phá tại Nhóm đảo Lưỡi liềm từ phía tây bắc.

Hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt của Trung Quốc chiếm vị trí để theo dõi các tàu HQ-4 và HQ-5, trong khi các tàu quét mìn loại Type 10 bám theo các tàu HQ-10 và HQ-16. Hạm trưởng HQ – 16 dự cảm trận đánh sắp xảy ra – đã tăng tốc vượt lên các tàu quét mìn Trung Quốc, và 14 lính đặc nhiệm của Nam Việt Nam được đưa lên hai thuyền cao su để giành lại đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây. HQ-16 đâm mạnh và làm hỏng nặng tàu quét mìn 389; thủy thủ trên chiếc 389 bắn vào cầu tàu và ụ súng phía trước của HQ-16, giết hoặc làm bị thương hầu hết thủy thủ Nam Việt Nam trên đó. Cuộc giao chiến sau đó đã diễn ra theo như ý đồ của Trung Quốc.

Các lính đặc nhiệm, từng dự kiến có hải quân yểm hộ, nay phải một mình đối đầu với các tàu Trung Quốc. Họ lên bờ giữa ban ngày, đối địch với một lực lượng kẻ thù đông, cố thủ trong chiến hào trên cả hai đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây, nên nhanh chóng bị đẩy lùi. Họ cố trở lại các thuyền cao su dưới làn đạn kẻ thù, trong khi các tàu hải quân Nam Việt Nam dàn hàng ngang tiến thẳng vào đội hình địch, bắn vào buồng hoa tiêu của địch và tìm cách xoay chuyển thế trận thành một cuộc chiến của pháo tầm xa. Không may cho lực lượng Nam Việt Nam, họ không có được tốc độ, do đó các tàu cơ động hơn của Trung Quốc có thể quyết định khoảng cách giao tranh. Hạm trưởng Trung Quốc ra lệnh: “Tăng tốc tiến lên, đánh cận chiến, thọc mạnh”. Biết rằng các tàu của mình trang bị kém và sẽ bị áp đảo trong một cuộc đấu súng tầm xa, hạm trưởng Trung Quốc quyết định dùng chiến thuật “giáp lá cà”. Sau 10 phút giao tranh, chiến trường đã thu hẹp từ phạm vi 2, 3 hải lý xuống còn vài trăm mét.

Các tàu săn ngầm lớp Kronstadt bắn cấp tập vào HQ-4, trong khi các tàu quét mìn Type 10 tập trung hỏa lực pháo 37mm vào chiếc HQ-16, nhằm vào buồng hoa tiêu, trung tâm thông tin và các radar. Bị bắn hỏng nặng, chiếc HQ-16 phải thoái lui. Các tàu quét mìn chuyển sang bắn vào HQ-10, nhằm vào kho đạn ở đuôi tàu, gây một tiếng nổ khiến phần động cơ phía trước con tàu này tê liệt.

Các tàu quét mìn chỉ cách HQ-10 có khoảng mười thước, khiến các nòng pháo còn lại của chiếc tàu Nam Việt Nam này không thể bắn vào những con tàu thấp và nhỏ hơn của đối phương đang tiếp cận sát thân tàu. Súng bộ binh của thủy thủ Trung Cộng quét dọc ngang sàn tàu và buồng hoa tiêu, sát hại thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ điều khiển tàu.

Chiếc HQ-16 bị hư hại cố tiếp ứng cho HQ-10 nhưng bị đẩy ra xa bởi hỏa lực của quân Trung Quốc. Nó phải rút về phía đông nam, trong khi HQ-4 và HQ-5 rút về phía nam. Hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam của Trung Quốc tới nơi khoảng trưa 19/1, bắn tiếp vào chiếc HQ-10 khiến nó chìm vào lúc 1h chiều.

Cùng lúc, Bắc Kinh lo ngại Sài Gòn sẽ tăng cường quân cho các đồn còn lại trên các đảo, gồm khoảng 2 đại đội bộ binh trên các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa (Pattle), và Quang Ảnh, và các lính đặc nhiệm còn sống sót. Hạm đội Nam Hải pha trộn một đội hình chắp vá gồm tất cả những đơn vị nào còn có thể lên đường: một tàu khu trục, năm tàu phóng lôi, và tám tàu tuần tra loại nhỏ. Được tổ chức thành ba đội tàu đổ bộ và vận tải, các tàu này chở 500 lính thuộc 3 đại đội bộ binh, một đại đội dân quân và một nhóm trinh sát vũ trang.

Đội tàu này triển khai thành đội hình thuận cho xuất phát. Tốp đầu gồm bốn chiếc tàu tuần tra và các tàu lưới rà của dân quân biển mang số hiệu 402 và 407, mang  theo một đại đội bộ binh 100 lính. Tốp hai gồm một đại đội bộ binh và đội trinh sát thủy – bộ được rải ra trên bốn chiếc tàu tuần tra và chiếc tàu quét mìn 389. Chiếc tàu khu trục Nam Ninh, vốn là một tàu hộ tống của Nhật trước đây, trở thành thê đội ba, chở một đại đội bộ binh và được bổ nhiệm làm soái hạm của chiến dịch này.

Tốp đi đầu tiến công đảo Hữu Nhật, bắn pháo vào những người giữ đảo để đẩy họ khỏi bờ biển, rồi đổ bộ lính bộ binh bằng các thuyền cao su và xuống ba lá. Hữu Nhật thất thủ sau 10 phút. Thê đội 2 tiến đánh đảo Hoàng Sa (Pattle), đẩy 30 lính giữ đảo về phía giữa đảo nơi họ đầu hàng sau một giờ giao tranh. Trong trận đánh trên đảo này, Trung Quốc bắt được viên thiếu tá Nam Việt Nam chỉ huy lực lượng đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và viên cố vấn được phái tới từ Đại sứ quán Mỹ. Các lính đặc nhiệm trên đảo Quang Ảnh bỏ vị trí trước khi Hải quân Trung Quốc tiến công, trốn thoát được vài ngày trước khi bị bắt.

Cho đến cuối chiều 20/1, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc. Hơn 100 lính Nam Việt Nam bị giết hoặc bị thương, và 48 lính Nam Việt Nam và một sĩ quan liên lạc người Mỹ bị bắt, so với 18 lính Trung Quốc bị chết, 67 người khác bị thương.

Đây là một thắng lợi lớn của Hải quân Trung Quốc: một tàu phá thủy lôi của Nam Việt Nam bị chìm, ba tàu khu trục bị hư hỏng nặng, so với hai tàu săn ngầm, một tàu quét thủy lôi và một tàu đánh cá của Trung Quốc bị hư hỏng nặng.

Trung Quốc dành 2 tuần tiếp theo để gia tăng sự hiện diện hải quân xung quanh các đảo và củng cố phòng ngự, bao gồm cả việc triển khai một tàu ngầm lớp Romeo và ba tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường lớp Thành Đô, mang theo các tên lửa hành trình chống hạm loại Styx.

Về chiến thuật, các đơn vị hải quân Nam Việt Nam có hỏa lực mạnh hơn đối phương, nhưng họ không có một hệ thống radar điều khiển hỏa lực, do đó phải bắn qua lỗ ngắm, làm giảm đáng kể khả năng bắn trúng các mục tiêu cơ động nhanh như các tàu tuần tiễu của Trung Quốc. Mặc dù tình trạng kỹ thuật của tàu chiến cả hai bên ngăn cản họ hành động ở tốc độ cao nhất, các tàu của Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tới 7-10 hải lý/giờ, một ưu thế khiến họ có thể quyết định cự ly giao tranh.

Một khi đã đạt được cự ly cách các tàu của Nam Việt Nam nửa dặm, các vũ khí nhẹ, tác xạ nhanh của tàu Trung Quốc và sự linh hoạt tạo cho họ một ưu thế rõ ràng. Chiến trường được quyết định trong một khoảng cách chỉ 200 thước. Không gian chỉ huy, hoa tiêu và liên lạc của các tàu Nam Việt Nam đối mặt với hỏa lực tầm gần chính xác, và các pháo lớn của họ bị vô hiệu ở tầm bắn gần. Các tàu của Nam Việt Nam đành rút lui, để các đơn vị đồn trú trên các đảo không được hỏa lực hải quân hỗ trợ.

Nam Việt Nam đe dọa sẽ trả đũa nhưng nhận thấy cán cân lực lượng hải quân nghiêng về phía Trung Quốc. Hơn nữa, Sài Gòn có nhiều mối lo đè nặng. Cơ quan tình báo Sài Gòn đang dõi theo các đường vận tải và chuyển quân của Bắc Việt đổ theo hướng qua Lào và đông Campuchia. Việc dồn quân dọc biên giới Nam Việt Nam là một dấu hiệu gây lo ngại về ý định của Hà Nội.

Cùng lúc, Hà Nội phản đối động thái này của Bắc Kinh nhưng không hành động gì. Bắc Việt vẫn cần sự ủng hộ của Trung Quốc để tổ chức, động viên lực lượng của mình cho trận đánh cuối cùng nhằm giành quyền kiểm soát Nam Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước vào tháng 4/1975, Hà Nội nhanh chóng giành quyền kiểm soát các đảo do Nam Việt Nam nắm giữ trên quần đảo Trường Sa. Những năm sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và duy trì tuyên bố khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo này, cũng như với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Nam tuy vậy chưa bao giờ tìm cách chiếm lại Hoàng Sa. Nước này còn bị thua trong một cuộc hải chiến vào những năm 1980 khi Trung Quốc tấn công ba đảo đá san hô do Việt Nam kiểm soát thuộc quần đảo Trường Sa.

Trong các cuộc giao tranh kể trên và trong các hành động gần đây, Bắc Kinh đã lặp lại các chiến thuật nó đã sử dụng vào năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa. Thứ nhất, cho các tàu đánh cá thâm nhập vùng tranh chấp, trong đó có cả các tàu đánh cá của lực lượng dân quân biển, để xua đuổi lực lượng bên kia. Các tàu của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc được triển khai gần đó nhằm hỗ trợ các tàu đánh cá nếu cần, còn xa hơn là các nhóm tàu hải quân để hỗ trợ các tàu Hải cảnh. Cả lực lượng hải cảnh lẫn các đơn vị hải quân đều không bắn trước, nhưng nếu chiến sự xảy ra, họ sẽ phải chiến thắng. Trung Quốc cũng thiết lập một sân bay quân sự trên đảo Phú Lâm và đồn trú quân trên một số đảo san hô mà họ chiếm được gần đây tại Trường Sa.

Việt Nam cũng đáp lại bằng cách vũ trang cho các tàu đánh cá của mình và thiết lập quan hệ đối tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, đồng thời tìm cách hợp tác quân sự với cựu thù Hoa Kỳ. Với 5 bên cùng tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc, Biển Đông đã trở thành một “điểm nóng” và kích thích một cuộc chạy đua vũ trang khu vực mà có người lo ngại sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến tranh mới.

Carl O. Schuster là một sĩ quan Hải quân đã nghỉ hưu sau 25 năm công tác, với những năm cuối cùng phục vụ trong ngành tính báo quân sự. Hiện sống ở Honolulu, Schuster tham gia giảng dạy chương trình Ngoại giao và Khoa học Quân sự tại Hawaii Pacific University.

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2019/01/18/boi-canh-va-dien-bien-hai-chien-hoang-sa-1974/?fbclid=IwAR3N0n8-_qoVs70pKEbg-EkmD8_KG3T8Yu08ObORMavxRGHDI0Qjty1O2o4

https://vandoanviet.blogspot.com/2019/01/boi-canh-va-dien-bien-hai-chien-hoang.html

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

Chuyện Hoàng Sa (bbc)

Nhân kỉ niệm lần thứ 40 vừa qua, đã có hàng loạt các bài báo viết về trận hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974 và lòng dũng cảm của quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tuy vậy, lại có ít thảo luận về điều thực sự diễn ra trong trận chiến.

Bản quyền hình ảnhHQVNCHImage captionHộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo

Trong hàng thập niên, nó vẫn được giữ kín, nhưng gần đây một vài cựu binh đã viết hoặc kể lại câu chuyện của mình. Chính quyền Hoa Kỳ cũng đã công bố một vài tư liệu quan trọng từ kho lưu trữ. Gộp lại những thông tin đó, chúng kể ta nghe câu chuyện về những cá nhân anh hùng bị làm hại bởi kế hoạch tác chiến kém, lãnh đạo tệ hại, và lực lượng không cân sức.

Tháng 1/1974 là quãng thời gian rất khó khăn cho Nam Việt Nam. Lệnh ngừng bắn, được thiết lập sau khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, đã sụp đổ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tham chiến với một nền kinh tế hầu như bị tê liệt. Sự kiện ở mấy mỏm đá ngoài khơi cách Đà Nẵng 350 dặm không phải là ưu tiên. Quân lính canh gác Hoàng Sa cũng không có đủ nguồn lực lẫn chiến lược đúng đắn để tự bảo vệ.

Vào thứ Hai 14/1, một tàu thủy của VNCH phát hiện hai tàu hải quân Trung Quốc đang thả neo gần đảo Hữu Nhật (Robert), thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa do Nam Việt Nam chiếm giữ. Chỉ quen với việc đóng quân trên đất liền, quân VNCH đột nhiên phải đối diện với nguy cơ chiến đấu trên biển. Ngay ngày hôm sau, 15/1, tổng thống Thiệu đã trực tiếp đến thăm hải quân tại Đà Nẵng.

Hôm đó, Jerry Scott từ lãnh sự quán Hoa Kỳ đã đề nghị Tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải và là bạn tốt của mình, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cho phép Gerald Kosh, một nhân viên dưới quyền, được lên tàu đi Hoàng Sa.

Ông Thoại nhanh chóng đồng ý‎ và Kosh đã có mặt trên tàu HQ-16. Con tàu này là một trong bảy chiếc tuần dương hạm cũ của Hoa Kỳ giao lại cho VNCH đầu những năm 1970. Mặc dù ra đời từ thời Thế chiến Đệ nhị, loại tàu này được trang bị những khẩu súng cỡ nòng lên tới 5 inch (127mm), tốt nhất trong cả lực lượng hải quân của VNCH. Kosh sau đó đã viết một bản tường trình dài về trận chiến mà hiện đã được phép công bố.

Image captionSự kiện mất Hoàng Sa đang được bàn luận trở lại ở Việt Nam

Ngày hôm sau, 16/1, HQ-16 đưa 16 lính Biệt Hải của VNCH đến bảo vệ đảo Hữu Nhật. Nhưng quân Trung Quốc đã có mặt trên đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Hòa (Duncan) với lực lượng hỗ trợ ở gần đó. Tất cả những thông tin này đều được khẩn báo về Đà Nẵng.

Ở sở chỉ huy đã có sự hoang mang. Tham mưu phó Hải quân Đỗ Kiểm, người có cấp bậc cao thứ ba trong hàng ngũ hải quân VNCH, đã đề nghị phải phản ứng nhanh và kiên quyết. “Nếu chúng ta hàng động bây giờ thì có thể lấy lại được đảo,” ông Kiểm nhớ lại lời ông nói với tư lệnh hải quân, Đề đốc Trần Văn Chơn. Thay vì thế, theo lời ông Kiểm, ông Chơn đã yêu cầu phải có bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo đó. Mấy giờ sau ông Kiểm đã phải tìm trong thư viện hải quân và phòng lưu trữ chỉ để tìm các tài liệu.

Vào ngày thứ Năm, 17/1, 15 lính Biệt Hải đổ bộ lên đảo Quang Ảnh (Money). Trong 7 hòn đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm, lúc đó 3 được quân VNCH chiếm giữ và 2 nằm trong tay quân Trung Quốc. Thêm 3 tàu được vội vàng điều tới Hoàng Sa: HQ-5 (tuần dương hạm cũ của Mỹ), HQ-4 (tàu khu trục USS Forster cũ, được trang bị súng cỡ nòng 3 inch) và HQ-10 (tàu quét thủy lôi cũ USS Serene của Hoa Kỳ, được cải biên thành tàu tuần tra).

Vào sáng thứ Sáu ngày 18/1, tất cả 4 con tàu trên đã có mặt tại Hoàng Sa. Hải đội trưởng Hà Văn Ngạc quyết định thể hiện sức mạnh bằng cách cho lực lượng đổ bộ xuống đảo Quang Hòa. Nhưng hai tàu hộ tống Trung Quốc đã được điều động đến đó và ông Ngạc phải hủy kế hoạch. Quân Trung Quốc thắng hiệp 1.

Vào tối thứ Sáu, mật tin đã được gửi cho ông Ngạc từ Đà Nẵng. Một mệnh lệnh rất kì quặc: tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình. Ông Ngạc quyết định đổ bộ vào sáng hôm sau, thứ Bảy ngày 19/1. Vào lúc 8.29, khi đội lính đi vào đảo, quân Trung Quốc nổ súng, làm một lính VNCH thiệt mạng. Người thứ hai bị giết hại khi cố lấy lại xác đồng đội. Quân thủy đánh bộ VNCH phải rút lui.

Ông Ngạc liên lạc về để tìm mệnh lệnh. Trong trụ sở Hải Quân VNCH ở Sài Gòn, Đỗ Kiểm chạy đi tìm Đề đốc Chơn. Ông ta biến mất. Một trợ l‎ý bảo rằng ông Chơn đã ra sân bay để chuẩn bị đi Đà Nẵng. Ông Kiểm gọi cho phó của ông Chơn ở Đà Nẵng. Ông ta cũng biến mất, để ra sân bay đón ông Chơn. Ngay tại thời điểm mà số phận của Hoàng Sa đang ngàn cân treo sợi tóc, hai lãnh đạo tối cao của Hải Quân VNCH đều mất tích. Cuối cùng, ông Kiểm là người ra lệnh nổ súng.

Vào lúc 10.29, hai giờ sau khi hai lính thủy đánh bộ bị giết hại, 4 tàu của phía Việt Nam nổ súng vào 6 tàu Trung Quốc.

Thật không may, súng trên tàu HQ-4 lại bị hỏng và con tàu nhanh chóng bị trúng đạn bởi một trong hai tàu hộ tống Trung Quốc. HQ-5 đã bắn trúng và làm hư hỏng nặng tàu hộ tống còn lại, nhưng rốt cuộc nó cũng bị trúng đạn. Mười lăm phút sau, HQ-5 vô tình bắn trúng tàu HQ-16. HQ-16 bị mất kiểm soát nguồn điện và bị nghiêng 20 độ. Sau đó tàu HQ-5 lại bị trúng đạn, hỏng mất tháp pháo và hệ thống radio. Cuối cùng, tàu HQ-10 nhỏ nhất đoàn, bị trúng tên lửa của quân Trung Quốc khiến cho đài chỉ huy bị phá hủy và thuyền trưởng thiệt mạng.

Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, mặc dù đã làm hư hỏng nặng hai tàu của Trung Quốc, đội tàu của VNCH hầu như đã mất khả năng chiến đấu. HQ-10 bị chìm còn ba chiếc còn lại lê lết về được Đà Nẵng.

Đánh giá một cách khách quan, trận chiến là một thảm họa, tuy nhiên những lính quay trở về được chào đón như những người hùng. Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. Nhưng trên thực tế, đó lại là một thảm họa.

Nhà báo Bill Hayton, làm việc ở BBC, là tác giả cuốn Vietnam: Rising Dragon (2010). Tác phẩm mới của ông về tranh chấp Biển Đông, The South China Sea - dangerous ground, sẽ được xuất bản năm nay bởi NXB Đại học Yale.

THÔI KHÔNG LÀM THƠ

Bạn tôi yêu đàn bà và thơ anh trăm phần trăm viết về họ,  ngợi ca và say đắm
Với anh mọi cuộc chia tay mặc định là lỗi đàn ông.
Bọn nhậu nhẹt bê tha rồi thiếu trách nhiệm với vợ là kẻ thù của anh.
Có người bạn làm ăn thất bát, vợ bỏ theo đại gia, đến than thở với anh, anh quay mặt đi chả tin.
Lại có đứa sinh lý yếu, vợ tậu thêm phi công, biết rõ vậy anh còn mắng xơi xơi thằng chồng không biết giữ vợ. Với anh phụ nữ là thiên thần, ngay và luôn éo nói nhiều.
Oái oăm là chả cô nào chịu làm vợ anh, ngoài thơ ra, anh có mỗi con chim dắt sịp, mà theo bạn bè nó chẳng hoành tráng lắm. Bởi anh cực ghét thằng nào yêu gái bằng chim, loại phàm phu phục tử đầu đất và vô văn hoá.
Nhưng nhịn mãi cũng có lúc thèm. Bạn bè dắt anh đi đá phò cho đỡ vã.
Đêm ấy họ dắt anh đi ra ngoại ô, nơi có đồng lúa lao xao, gió đồng mát rượi.
Họ biết tính anh chổng đít vào phò chạy SH cầu Thị Nghè hay quanh Sở Thú.
Sau khi làm mấy chai, họ dẫn anh đến một căn nhà giữa đồng, nhà có hai chị em gái.
Họ tới hơi muộn, khách đang xếp hàng đông như phở Bát đàn. Anh thẫn thờ khi thấy đủ thành phần đang đợi đến lượt. Họ uống trà, đọc báo và tán gẫu. Có cả những cụ hưu trí mũ phớt ba toong mặt nghiêm như đi sinh hoạt chi bộ.
Chờ mãi rồi cũng đến lượt. Anh bảo nàng mở hết cửa sổ, cơ thể nàng mềm mại như sóng lúa dạt dào , anh vứt mẹ bao cao su bạn đưa ra ngoài ruộng. A nhắm mắt lại như đang bay trên chín tầng mây, tứ thơ tuôn ào ạt.

Tuần sau, đột nhiên anh gọi giật
- Chim tao có vấn đề, đau lắm
Cả hội hớt hải chạy tới. Vừa nhìn, một thằng la lên
- Mày bị lậu rồi !
Mặt anh thảm như đến ngày tận thế, đến nước này thơ chả giúp được gì. Dẫn anh qua bác sỹ chích mấy phát vào mông, ba ngày sau khỏi biến.

Gặp nhau, hễ cứ nhắc chuyện cũ, anh đỏ mặt bảo thôi không làm thơ nữa

KHP (Phạm Kiều Hưng)

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019

Điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực tại Trung Quốc


Có người cho rằng, những chữ Hán giản thể giống như là một điềm báo chẳng lành. Thực ra, điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực, chuẩn xác một cách đáng sợ!


Văn hóa Á Đông không hề đơn giản như bề mặt mà mọi người nhìn thấy. Từng nét lễ nghi, từng bộ trang phục, từng nét chữ đều ẩn chứa những nội hàm vô cùng sâu sắc và liên hệ mật thiết với từng hơi thở trong cuộc sống của chúng ta.

Có một nét văn hóa mà không thể không nhắc đến, chính là nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình – Chữ Hán chính thể. Tuy nhiên, sau khi chữ Hán bị giản lược, thì những nội hàm ấy cũng bị mất đi, thay vào đó là sự lệch lạc, thậm chí biến dị. Đồng thời, chữ Hán giản thể còn mang một điềm báo chẳng lành.

Có một cư dân mạng Trung Quốc đã liệt kê ra hàng loạt các chữ Hán giản thể. Tác giả đối chiếu những chữ Hán giản thể này với các hiện tượng tai nghe mắt thấy trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Và điều nhìn thấy được khiến người ta không khỏi phải giật mình kinh ngạc.

1. Thân bất kiến

Chữ “Thân” chính thể 親 (người thân)


Chữ “Thân” giản thể 亲, mất chữ “Kiến”  


Thân bất kiến: Người thân không gặp được nhau. Một năm chẳng biết cha mẹ, con cái, người thân tại Trung Quốc được đoàn tụ bao nhiêu lần? Nơi nào cũng thấy lưu lại những cuộc tình chớp nhoáng. Các quý ông, quý bà khinh thường đạo lý, lang chạ khắp nơi. Điều này khiến những người cùng huyết thống cũng chẳng  được vui vầy bên nhau.

2. Sản bất sinh

Chữ “Sản” chính thể 產 (sinh sản)


Chữ “Sản” giản thể 产, mất chữ “Sinh” 生 


Sản bất Sinh: Đậu thai mà không sinh. Ngày nay các phòng khám tư, phẫu thuật phá thai ở Trung Quốc nơi nào cũng thấy. Ngoài ra, chữ “Sản” chính thể còn có nghĩa là của cải về mặt đất đai. Ruộng màu thì bị bỏ hoang, mọi người đổ dồn về  các khu công nghiệp và thành phố lớn, không cần ngũ cốc chỉ lo kiếm tiền.

3. Hương vô lang

Chữ “Hương” chính thể 鄉 (Quê hương)


Chữ “Hương” giản thể 乡, mất chữ “Lang” 郎 – những người trẻ 


Hương vô Lang: Quê nhà không có người trẻ. Ở Trung Quốc, ai nấy đều đổ về thành phố  lập nghiệp mưu sinh. Trong thôn làng khó có thể bắt gặp những khuôn mặt trẻ trung. Khắp cả ngôi làng chỉ thấy những người già yếu, trẻ con và người  tàn tật. Đây cũng chính là một cảnh tượng thường thấy nhất tại Trung Quốc  ngày nay.

Người già cô đơn ở ngoại thành Trung Quốc.

4. Ái vô tâm

Chữ “Ái” chính thể 愛 (Yêu)


Chữ “Ái” giản thể 爱, mất chữ “Tâm” 心 – trái tim 


Ái vô tâm: Yêu không xuất phát từ trái tim. Ngày nay thử hỏi có mấy người còn giữ tấm chân tình son sắt, hay là chỉ quen chạy theo thời thế xô bồ. Đại gia cặp với chân dài. Kẻ ham tiền, người háo sắc, hễ có lợi là trao thân. Tình một đêm, tình sét đánh, tình chớp nhoáng khiến nhà nghỉ mọc lên nhan nhản khắp nơi. Quả là tình yêu không còn sự kết nối thiêng liêng  và trách nhiệm suốt cuộc đời.

5. Miến vô mạch

Chữ “Miến” chính thể 麵 (Mỳ)


Chữ “Miến” giản thể 面, mất “bộ Mạch”麥 – Lúa mỳ 


Miến không mạch: Bột mỳ không làm từ lúa mạch, thì làm từ thứ gì, bạn  thử đoán xem? Bột mỳ không có mùi lúa mạch, kỳ thực đã trộn lẫn phoóc môn. Đây cũng là tình trạng làm giả thực phẩm, gạo giả… phổ biến trong xã hội Trung Quốc ngày nay.

Hàng ở Trung Quốc giả từ thương hiệu giả đi.

6. Tiến bất giai

Chữ “Tiến” chính thể 進 (Tiến tới)


Chữ “Tiến” giản thể 进, mất chữ “Giai” 佳 – Tốt 


Tiến bất giai: Bước tiếp sẽ không may mắn, mà thành con ếch ngồi trong  đáy giếng. Chữ Tiến chính thể là bước tới điều tốt đẹp (Giai) thì nay là tiến xuống giếng (Tỉnh 井: cái giếng). Sự nghiệp cả đời truy cầu chỉ như mò trăng đáy nước, tiền tài cũng như hái hoa trong gương.

ADVERTISEMENT


7. Ứng vô tâm

Chữ “Ứng” chính thể 應 (Đáp ứng)


Chữ “Ứng” giản thể 应, mất chữ “Tâm” 心 


Ứng vô tâm. Lời nói gió bay, dẫu hứa hẹn cũng khó thành hiện thật, nói lời  lật lọng mà không biết ngượng ngùng. Người xưa rất xem trọng chữ Tín, coi lời thề hẹn nặng tựa núi Thái Sơn,  lời nói ra là đã được Trời Đất làm chứng, ắt phải thực hiện. Nhưng trong xã hội Trung Quốc ngày nay ‘thành tín’  ngày càng mai một, dường như đã trở thành một thứ gì đó xa xỉ không thể với tới.

8. Thính bất nhĩ

Chữ “Thính” chính thể 聽 (Nghe)


Chữ “Thính” giản thể 听, mất chữ “Nhĩ” 耳 – tai 


Chữ “Thính聽” (lắng nghe) ở dạng chính thể gồm bộ “Nhĩ耳” (tai), bộ “Vương 王” (vua), chữ “Thập 十” (mười), chữ “Mục目” (mắt), chữ “Nhất一” và chữ “Tâm 心”.

Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà cổ nhân  muốn gửi gắm. Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy họ quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng  đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn  và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ,  điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều  họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe  trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu  và trân trọng người khác.

Chữ “Thính” 听 giản thể là Thính thiếu Nhĩ: Nghe mà thiếu mất tai. Nó chỉ gồm bộ “Khẩu口” (cái miệng) và bộ “Cân斤” (cái rìu). Đại ý là không  phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe như văn hóa truyền thống, mà là đáp lại bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn.

9. Ưu vô lo

Chữ “Ưu” chính thể 優 (Ưu tú)


Chữ “Ưu” giản thể 优, mất chữ “Ưu” 憂 – ưu lo 


Ưu cần phải có lo: Muốn thành người ưu tú, xuất chúng cần phải biết lo lắng cho đại cục, cho người khác. Bậc hiền tài như vậy trong thiên hạ là khó cầu nhất. Người tài thời nay nghĩ đến vinh hoa, phú quý cho riêng mình hay lợi ích cho muôn dân? Những người nhiều tài lắm tật, e rằng lợi ít hại nhiều. Kiểu người này chỉ khiến con người càng thêm lo sầu.

10. Thái vô thủ

Chữ “Thái” chính thể 採 (Hái)


Chữ Thái giản thể 采, thiếu bộ Thủ 手 – Cái Tay 


Thái vô Thủ: Muốn hưởng mà không muốn động tay ra hái. Ngồi mát ăn bát vàng  người người muốn, đục nước béo cò kẻ kẻ cầu. Đây cũng có thể nói là một  thực trạng dễ thấy trong xã hội ngày nay. Những cậu ấm cô chiêu Trung Quốc, những thế hệ trẻ chỉ biết ‘cúi đầu’ chờ đợi từ sự sắp đặt của cha mẹ mình, chỉ mong cầu hưởng thụ cuộc sống giàu sang mà không biết ra tay làm việc.

11. Bút… cong

Chữ “Bút” chính thể 筆


Chữ “Bút” giản thể 笔 


Ngày nay bút không còn thẳng. Con người Trung Quốc thời nay thường dùng bút cong mà viết  sử nên gọi là bẻ cong sử sách. Bút ngay sử thẳng xưa đã có, tới nay  sóng gió đã cuốn trôi.

12. Tân hữu binh

Chữ “Tân” chính thể 賓 (Quan khách)


Chữ “Tân” giản thể 宾, thiếu chữ Bối 貝 – Bảo bối, thêm chữ “Binh” 兵 – Binh lính 


Xưa kia khách quý đến nhà mang theo quà quý (貝– Bảo bối). Chủ nhà bày biện yến tiệc, khoản đãi với tấm lòng thành. Ngày nay binh lính  tới nhà (Bộ “Miên” 宀 chỉ mái nhà), không chỉ thiếu quà quý, mà còn có binh đao. Từ xưa đã gọi chuyện này là loạn cõi thế gian.

13. Miếu bất triều

Chữ “Miếu” chính thể 廟 (Chùa chiền)


Chữ “Miếu” giản thể 庙, thiếu chữ “Triều” 庙 – nghi thức bái lạy 


Miếu bất Triều: Trong miếu mà không thấy thật tâm tiến hành những nghi lễ  bái lạy Thần Phật. Ngày xưa chùa chiền là nơi con người ăn năn sám hối, bởi con người kính cẩn bái lạy Thần Phật, mong tìm được sự thanh thản trong tâm. Ngày nay, chùa chiền như chiếc áo khoác của những kẻ vô Thần, trở thành  thắng cảnh du lịch, thành nơi kiếm chác, trao đổi của kẻ phàm tục.  Người mà quỷ thần cũng không sợ, ắt sẽ to gan dám làm càn.

Phương trượng Thiếu Lâm Tự Thích Vĩnh Tín, còn được gọi là CEO Thiếu Lâm Tự. Thánh địa tu hành linh thiêng giờ trở thành một công ty…

14. Võng vô mịch

Chữ “Võng” chính thể 網 (Lưới)


Chữ “Võng” giản thể 网, mất bộ Mịch 糸 – sợi cước 


Lưới không có cước, lưới vô dụng, cá lọt lưới trước mắt như thể trêu ngươi.  Pháp luật Trung Quốc cũng như một chiếc lưới. Ngày xưa Thiên tử cũng phải chịu tội  như thứ dân. Ngày nay quyền thế thay pháp luật một cách vô nguyên tắc,  thậm chí có thể lợi dụng quyền thế trong tay mà một tay che cả bầu trời.

15. Hậu nhất khẩu

Chữ “Hậu” chính thể 後 (Đời sau)


Chữ “Hậu” giản thể 后, thêm chữ nhất 一, bộ khẩu 口 


Đời sau chỉ được sinh một con, về già cha mẹ ốm đau bệnh tật khó long  nhờ vả.. “Kế hoạch hóa gia đình là quốc sách, sinh quá một con gia đình  nghiêng ngả” – Đây là chính sách một con từng làm điêu đứng xã hội Trung Quốc. Bao nhiêu hệ lụy của xã hội, quả thực cũng khiến lòng người âu lo.

Ở trên chỉ là một số ít ỏi được đưa ra, nhưng cũng đủ để biết rằng chữ Hán sau khi bị giản lược thì những nội hàm tinh túy của  văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng bị mất đi, thay vào đó là sự sai lệch, biến dị.

Mà điều đáng tiếc hơn cả là, sự suy đồi và trượt dốc trong xã hội, dường như cũng đã và đang diễn ra đúng theo từng sự lệch lạc trong  chữ Hán giản thể đó. Vậy nên, có người Trung Quốc cho rằng, những chữ Hán giản thể này giống như là  một điềm báo chẳng lành vậy!

Quả đúng là:

Học giả chân chính đứng một bên,
Cải cách chữ Hán mù văn hóa.
Thiên thu vạn đại trò hề diễn,
Duy chỉ điềm báo chẳng hề sai.

Lưu Hà sưu tm
Hiểu Mai biên dịch





Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

Một nén hương lòng gửi tới Hoàng Sa



(GDVN) - Hải quân Việt Nam Cộng hòa hạ quyết tâm bằng mọi giá phải giành lại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, đuổi địch ra khỏi đảo.


TIẾN SĨ TRẦN CÔNG TRỤC 07:34 17/01/18


Hàng năm, cứ vào thời điểm khởi đầu của một năm mới, có rất nhiều việc để làm, để nhớ, để chiêm nghiệm trong cuộc sống thường nhật, vốn quá bề bộn của mỗi một chúng ta. Trong số đó, có những sự kiện không thể nào quên đối với mỗi một người con đất Việt.


Những ngày này, ký ức nhóm đảo Lưỡi Liềm phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị quân Trung Quốc cưỡng chiếm từ trong tay lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa đang làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở đây lại ùa về. 

Từ đó đên nay, mặc dù 44 năm đã trôi qua, dư luận người Việt Nam ở trong và ngoài nước vẫn đang tồn tại những thông tin về diễn biến cụ thể, cũng như những ý kiến nhận xét, đánh giá khác nhau, thậm chí trái chiều nhau. 

Phối cảnh khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa.

Để góp phần làm sáng tỏ hơn về trận hải chiến bi hùng này, chúng tôi xin được hệ thống và cung cấp thêm một số thông tin mà chúng tôi đã thu thập được từ hồ sơ lưu của lực lượng Hải quân Việt Nam Công hòa trước năm 1975.

Chúng tôi xin ôn lại sự kiện bi tráng này như nén tâm hương tưởng niệm tất cả những người con Đất Việt đã vị quốc vong thân để cho chúng tôi có cuộc sống hôm nay trên dải đất hình chữ S, đồng thời nhắc nhau nhớ rằng, vẫn còn một phần lãnh thổ thiêng liêng chưa trở về với Tổ quốc!

Trung Quốc dã tâm ngầm chiếm đảo

Ngày 11/1/1974, theo nguồn tin của Thông tấn xã AFP, Việt Nam Cộng hòa biết được tin Ngoại trưởng Trung Quốc tuyên bố cái gọi là “quần đảo Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc và tố cáo Việt Nam Cộng hoà chiếm cứ bất hợp pháp quần đảo này. 

Trước tình hình đó, ngày 16/1/1974, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Vương Văn Bắc tổ chức họp báo tố cáo Trung Quốc huy động tàu chiến xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng và đổ quân lên các đảo này.   

Phán đoán được âm mưu của Trung Quốc trong việc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa, nên ngày 14 tháng 1 năm 1974, Bộ chỉ huy hành quân lưu động biển của Việt Nam Cộng hoà ra chỉ thị, lệnh cho một chiến hạm đến quần đảo Hoàng Sa với nhiệm vụ đưa viên trưởng Ty khí tượng bị bệnh nặng về Đà Nẵng và quan sát tình hình. 

Lực lượng cùng đi có 3 sỹ quan và 2 nhân viên thuộc Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 và một nhân viên Toà lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng (tên là Cetald E.Kóh) đang công tác trên đảo Hoàng Sa (Pattle). 

Theo đó, lúc 6 giờ tối 14/1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ16) được lệnh rời Đà Nẵng đi Hoàng Sa.

Sáng ngày 15/1/1974, tuần dương hạm HQ16 đến Hoàng Sa, phát hiện  trên đảo Hữu Nhật (Robert) có cắm cờ Trung Quốc và gần đó có 1 “tàu đánh cá” Trung Quốc, mang tên Nam Ngư, số 402. 

Đây là loại “tàu đánh cá” có vũ trang, đài chỉ huy ở giữa, 2 bên gắn ăng ten cần loại PRC 25, vỏ tàu bằng sắt, mũi hình chữ V, trọng tải 130 tấn, trên boong trước có 3 xuồng cấp cứu nhỏ và 1 xuồng bằng sắt, vũ trang đại bác 25 ly. 

Lãnh đạo các bộ ngành Trung ương và tỉnh Quảng Ngãi thực hiện nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa. Ảnh: Báo Tin tức /TTXVN.

Nhân viên đài khí tượng đảo Hoàng Sa (Pattle) cho biết, “tàu đánh cá” nói trên của Trung Quốc đến từ 10/1/1974 và trước đó khoảng 1 tháng cũng có 1 chiếc như vậy, nhưng đã rời khỏi đảo. 

Tàu HQ16 dùng quang hiệu yêu cầu tàu Trung Quốc rời khỏi đảo Hoàng Sa (Pattle), nhưng tàu này không đáp ứng. Tuy nhiên sau đó, vào buổi chiều, tàu Trung Quốc nói trên đã tự động rời khỏi đảo. 

Tàu HQ16 trở lại neo đậu tại đông nam đảo Hoàng Sa (Pattle) cách khoảng 1 hải lý. 

Tiếp đó, sáng 16/1, tàu HQ16 rời đảo Hoàng Sa (Pattle) đi quan sát các đảo khác và nhận thấy đảo Quang Hoà đã bị chiếm đóng công khai, trên đảo có chòi canh, vọng gác cao, gắn cờ Trung Quốc. 

Một chiếc tàu vũ trang di chuyển quanh đảo. Tàu này rời Quang Hoà theo hướng tây bắc vào giữa buổi sáng. 

Đảo Duy Mộng không có người, nhưng có 2 tàu nhỏ, nên tàu HQ16  không thể quan sát được. Tàu HQ16 rời Quang Hoà và Duy Mộng đến đảo Quang Ảnh và nhận thấy trên đảo có cắm cờ Trung Quốc. 

Nhân viên tàu HQ16 đổ bộ 16 nhân viên thám sát, phát hiện trên đảo có 6 nấm mộ, 4 cũ và 2 còn mới, trước mỗi mấn mộ đều có gắn bia đá và chữ Trung Quốc. 

Ngoài  ra còn phát hiện thấy 1 vỏ lựu đạn Trung Quốc, 1 chai rượu Suntory còn ít rượu, 1 hầm trống làm bằng thùng đạn. Nhân viên tàu HQ16 đã gắn 2 lá cờ Việt Nam Cộng hoà trước khi rời đảo về tàu. 

Tàu HQ16 tiếp tục di chuyển về phía đảo Hữu Nhật phát hiện thấy ở tây nam đảo khoảng 1,5 hải lý có 2 “tàu đánh cá” vũ trang Trung Quốc neo cách nhau khoảng 20m mang số 402 và 407. 

Từ chiếc 407, quân Trung Quốc đang dùng xuồng di chuyển khoảng 1 trung đội sang chiếc 402.

Tàu HQ4 Việt Nam Cộng hòa tham gia cuộc chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, ảnh tư liệu: Báo Thanh Niên.

Biết được thực trạng trên, chiều ngày 16, Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa chỉ thị cho Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tăng cường tàu HQ4 ra Hoàng Sa, chở theo một trung đội biệt hải, đồng thời chỉ thị cho tàu HQ16 sử dụng 1 tiểu đội chiếm giữ đảo Quang Ảnh.

Mặt khác, Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải đã báo cáo tình hình về Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 (QĐ1- QK1). 

Chuẩn bị chiến đấu giành lại chủ quyền

Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa chỉ thị cho khối hành quân và Bộ chỉ huy hành quân lưu động biển báo cáo sự kiện lên Bộ Tổng Tham mưu;

Đồng thời chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải trình bày trực tiếp với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà, nhân khi ông đến thăm Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 duyên hải, ngày 16/1/1974. 

Tổng thống Việt Nam Cộng hoà chỉ thị cho Tư lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên hải, Phó đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. 

Đồng thời, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa chỉ thị cho Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hoà triệu tập Hội đồng Nội các họp bàn về việc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa. 

Cũng trong buổi chiều hôm đó (16/1), Tư lệnh Hải quân tham dự phiên họp khẩn cấp của Hội đồng Nội các. 

Sau khi Tham mưu phó cuộc hành quân thuyết trình về tình hình quần đảo Hoàng Sa, Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu kế hoạch tái chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng. 

Theo đó, ngày 17/1/1974 Bộ Tư lệnh Hải quân ban hành Lệnh hành quân số 42 cho Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải thi hành. 

Phối hợp hành quân, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân cùng Bộ Tham mưu luôn làm việc bên cạnh Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải, đồng thời Bộ tư lệnh Quân đoàn 1- Quân khu 1 cử một Trung tá tham dự. 

Kế hoạch hành quân tái chiếm các đảo bị Trung Quốc chiếm đong được triển khai làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: chiếm lại các đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm đã bị quân Trung Quốc chiếm trái phép và cắm cờ. 

Các cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Hoàng Sa, Đà Nẵng, Việt Nam. Ảnh: Wikipedia.

Các đảo này theo thứ tự từ trái sang phải gồm: Quang Ảnh (Money), Hữu Nhật (Robert), Quang Hòa (Duncan), Duy Mộng (Drummond).

Giai đoạn thứ hai: sau khi giai đoạn 1 kết thúc, sẽ tuần tiễu và rải quân bảo vệ các đảo còn lại, trên mỗi đảo sẽ có một nửa tiểu đội chiếm giữ.

Lực lượng của Việt Nam Cộng hòa tham dự cuộc hành quân này gồm: 1 khu trục hạm HQ4 (Trần Khánh Dư), 2 tuần dương hạm là HQ5 (Trần Bình Trọng), HQ16 (Lý Thường Kiệt), 1 hộ tống hạm HQ10 (Nhật Tảo), 2 toán biệt hải gồm 31 người do Sở phòng vệ Duyên hải tăng cường, 4 toán Hải kích gồm 60 người do Liên đội người nhái tăng cường. 

Thành phần yểm trợ và dự bị gồm 1 đại đội địa phương quân và 4 máy bay trực thăng do Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1- Quân khu 1 tăng cường, hai yểm trợ hạm (HQ800 và HQ801), 1 hộ tống hạm HQ11 và 3 tuần duyên đĩnh (VPB) HQ709, HQ711, HQ723. 

Tư lệnh Hải quân chỉ huy tổng quát. Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải chỉ huy trực tiếp.

Triển khai kế hoạch hành quân, 9 giờ tối ngày 16/1, tàu HQ4 chở theo 27 biệt hải thuộc Sở Phòng vệ Duyên hải và một số phóng viên rời Đà Nẵng tiến ra Hoàng Sa. 

Tàu HQ800 đến Đà Nẵng ngày 17/1 chở theo 43 nhân viên Hải kích của Liên đội người nhái.

Tàu HQ5 chở theo 43 Hải kích cùng HQ10 rời Đà Nẵng lúc nửa đêm 17/1, dự trù chở theo 1 đại đội địa phương quân để tăng cường cho lực lượng đổ bộ, nhưng vì đại đội này chưa sẵn sàng nên không kịp lên tàu, mặc dầu đã có lệnh của Bộ Tổng Tham mưu. 

Phá hủy ngụy bằng chứng ngụy tạo của quân Trung Quốc, bảo vệ chứng cứ chủ quyền

Lúc gần 8 giờ sáng ngày 17/1, tàu HQ16 tái đổ bộ lên đảo Quang Ảnh 15 nhân viên, do Trung uý Liêm làm trưởng toán.

Lực lượng này mang theo vũ khí và vật dụng gồm 2 súng M79, 3 súng M16, 1 súng Carbine, 1 máy thông tin PRC 25, 1 poignard, 15 áo phao, mấy xẻng, 1 búa phòng tai, 6 lựu đạn MK.3, 1 súng hoả pháo với 5 viên đạn cùng một số loại đạn dược khác, 1 xuồng cao su cỡ 1,5 x 2m.

Nhiệm vụ của toán này là triệt hạ 6 mộ bia mà Trung Quốc đã nguỵ tạo, chiếm đóng và tổ chức phòng thủ trên đảo.

Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ5) của Hải quân Việt Nam Cộng hòa tham gia chiến đấu bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa năm 1974, ảnh tư liệu: Báo Thanh Niên.

Sau khi lấy 6 tấm bia mộ đá giả của Trung Quốc về tàu, HQ16 rời đảo Quang Ảnh đến đảo Hữu Nhật lúc 11 giờ cùng ngày (17.1) và án ngữ tại phía đông nam đảo để hỗ trợ cho tàu HQ4 đổ bộ 27 biệt hải lên từ phía tây đảo Hữu Nhật. 

Trong khi đó, 2 tàu đánh cá có vũ trang của Trung Quốc số 407 và 402 ở lại phía nam đảo Hữu Nhật và cách bờ gần 1.000m. Khi thấy tàu HQ4 hạ xuồng đổ bộ, 2 tàu của Trung Quốc cũng hạ nhưng vì không kịp nên lại kéo lên. 

Trên mỗi tàu cá vũ trang này có khoảng 30-35 thuỷ thủ mặc đồng phục màu xanh. Tàu trang bị súng 25 ly phòng không, một khẩu đã lắp sẵn 1 thùng đạn còn các khẩu khác được bao kín nên không rõ số lượng. 

Tàu này di chuyển quanh đảo Hữu Nhật đồng thời có 1 tàu ở phía nam đảo tiếp ứng khi cần.

Toán biệt hải lên đảo Hữu Nhật tìm thấy 1 lá cờ Trung Quốc đã cũ và mục, 1 tấm bảng gỗ thông sơn đỏ còn mới (cỡ 1,2m x 0,2 có ghi 17 chữ Trung Quốc: “Trung Hoa Nhân dân Cộng hoà quốc thần thánh lãnh thổ, tuyệt bất dung hử xâm phạm”. 

Cờ và bảng gỗ đã bị tàu HQ4 tịch thu. 

Đồng thời còn phát hiện thấy các vết tích của Việt Nam Cộng hoà từ năm 1963, gồm miếu nhỏ có khắc ghi rõ ngày 24/11/1963; 

Một tấm bia xây theo kiểu Đài chiến sĩ mỗi bề 3 mét, cao hơn mặt đất 0,4m có ghi hàng chữ Việt “Đệ nhất Trung đoàn đổ bộ LĐ/TQLC” và vẽ một ngôi sao trắng lồng trong vòng tròn đen, dưới ngôi sao có ghi LĐ.42. 

Tất cả được đóng khung trong một hình chữ nhật, 2 bể nước bằng xi măng ghi “nước uống” và một hàng chữ đã mờ nhưng còn đọc được “Ngô Tổng thống”, 1 tấm bia ghi TĐ.3/TQLC ngày 5 tháng 12 năm 1963. 

Sau đó toán biệt hải đã dựng cờ Việt Nam Cộng hoà trên đảo.

Tàu HQ16 phát hiện thấy 2 tàu loại Hộ tống hạm (Kronstadt) mang số 271 và 274 trang bị đại bác 100 ly và 37 ly từ đảo Quang Hoà đang tiến về đảo Hữu Nhật;

Tàu HQ4 tiếp cận các tàu này, thả xuồng cao su chở nhân viên biết tiếng Trung Quốc sang tiếp xúc, nhưng các tàu này chạy máy không cho cập vào. 

Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ16) của Hải quân Việt Nam Cộng hòa tham gia chiến đấu bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa năm 1974, ảnh tư liệu.

Chiến hạm HQ4 dùng quang hiệu yêu cầu các tàu Trung Quốc rời khỏi vùng đó nhưng không có kết quả.

Ngược lại, các tàu Trung Quốc còn chạy quanh tàu HQ4 và chặn đầu bất chấp luật hàng hải quốc tế, đồng thời trả lời bằng quang hiệu rằng các đảo này thuộc chủ quyền của Trung Quốc và yêu cầu chiến hạm HQ4 của Việt Nam Cộng hòa tránh ra.

Tàu HQ16 được lệnh rời đảo Hữu Nhật đến tiếp tế lương thực và phương tiện cho toán đổ bộ trên đảo Quang Anh.

Cũng trong ngày 17/1, 43 nhân viên Hải kích thuộc Liên đội người nhái đến Vùng 1 Duyên hải bằng tàu HQ800. 

Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho Đại tá Tham mưu trưởng hành quân lưu động biển truyền khẩu lệnh đến Vùng 1 Duyên hải rằng: 

Dùng phương pháp phô trương lực lượng để làm áp lực ôn hoà buộc tàu Trung Quốc rời khỏi đảo và ra khỏi hải phận Việt Nam Cộng hoà, tuyệt đối tránh hành động khiêu khích và chỉ khai hoả khi bị tấn công trước; 

Lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa hạ quyết tâm bằng mọi giá phải giành lại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, đuổi địch ra khỏi đảo và trương cờ Việt Nam Cộng hoà trên các đảo. 

Nếu Trung Quốc dùng vũ lực, Hải quân được toàn quyền hành động.

23 giờ ngày 17/1/1974, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải chỉ thị cho tàu HQ4 rút 14 biệt hải trên đảo Hữu Nhật để đổ lên đảo Duy Mộng trong đêm trước khi trời sáng, dùng áp lực ôn hoà buộc toán người lạ rời khỏi đảo, tránh mọi hành động khiêu khích, chỉ sử dụng vũ khí khi bị tấn công trước. 

Hạm trưởng HQ4 lo ngại rằng, hiện ở Duy Mộng có tàu đối phương, nếu tàu HQ4 đổ bộ thì sẽ có đụng chạm, trong khi đó số nhân viên của HQ4 lại ít.

Đồng thời, Bộ chỉ huy hành quân lưu động biển chỉ thị: Tăng cường ngay 2 chiếm hạm chở theo người nhái đến Hoàng Sa; liên lạc với Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 để xin địa phương quân nếu chưa có; 

Sáng sớm 18/1 chiếm lại Duy Mộng như đã định; sử dụng biệt hải được rút từ đảo Hữu Nhật, lấy 1 tiểu đội địa phương quân ở đảo Hoàng Sa (Pattle) sang giữ đảo Hữu Nhật. 

Khoảng nửa đêm 17/1, tuần dương hạm HQ5 chở 43 nhân viên Hải kích và cùng hộ tống hạm HQ10 khởi hành từ Đà Nẵng đi Hoàng Sa. 

Hải đội trưởng Hải đoàn 3 là Đại tá Hà Văn Ngạc, được Tư lệnh vùng 1 Duyên hải Chỉ định làm SQ/CHCT. 

Trước đó, Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải đã dự tính và cho tăng cường đi theo tàu HQ5 và tàu HQ10 một đại đội địa phương quân để tăng cường cho lực lượng đổ bộ. Tuy nhiên vì đại đội này chưa sẵn sàng nên không kịp lên tàu.

Trần Công Trục

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2019

VÌ SAO

Vì sao những người Úc này cưới vợ Trung Quốc rồi đều ly hôn?

Trên tài khoản cộng đồng Wechat nước ngoài hiện có một bài viết rất được chú ý, nội dung là những đoạn phỏng vấn một số người phương Tây cưới vợ Trung Quốc, họ đã chân thành bộc bạch về kết cục không mấy vui vẻ của cuộc hôn nhân ngoại quốc này. 


Đàn ông Úc muốn cưới vợ Trung Quốc, đa phần họ đều đọc các tác phẩm văn học, nghe người ta nói mà cho rằng phụ nữ phương Đông chung thủy, dịu dàng, chân thật, chịu khó, vì vậy có rất nhiều người đàn ông Úc muốn cưới vợ Trung Quốc vì thích văn hóa phương Đông. Vậy nhưng có nhiều người Tây phương sau khi lấy vợ người Trung Quốc xong thì lại ly hôn, rút cuộc là vì sao? Một trong số các nguyên nhân là do sự xung đột về tính cách, ngoài ra cũng có yếu tố khác biệt văn hóa Đông-Tây.

STEVEN (kiến trúc sư, yêu thích kinh kịch Trung Hoa, từng lặn lội từ xa đến Trung Quốc 2 năm để học kinh kịch)

“Tôi kết hôn cùng vợ được 3 năm và đã ly hôn rồi. Thật ra cuộc sống chung của chúng tôi chỉ được vài tháng vui vẻ, nghĩ kỹ lại thì vài tháng đó là sự mơ mộng hão huyền của tôi đối với tình yêu chứ không phải là từ hai phía. Khi đó tôi đang du học ở Trung Quốc, cô ấy là giáo viên ở trường tôi, tôi thích sự giản dị và dáng người nhỏ bé của cô ấy.

Có thể là đa phần phụ nữ Trung Quốc đều không xem trọng việc xây dựng tình yêu của mình, ví dụ như mỗi ngày vợ chồng đều ôm hôn nhau, đây là biểu hiện của tình yêu, cô ấy không chủ động, khi chồng ôm, cô ấy cảm thấy là dư thừa, không trân trọng. Cô ấy chưa từng nói cảm ơn và xin lỗi chồng, đây là điều tôi cảm thấy không chịu được, tôi có nhắc nhở nhiều lần thì cô ấy nói rằng giữa vợ chồng thì không cần phải như thế. Tôi cảm thấy là cần, dù có thân thiết thì cũng là hai cá thể độc lập. Chúng ta nên quý trọng những gì mà đối phương dành cho mình, bản thân làm sai thì phải xin lỗi.”

Tình yêu cần đến từ 2 phía. (Ảnh: Pixabay)

MACK (nhiếp ảnh gia, đã từng đi khắp Trung Quốc, cưới một người vợ Trung Quốc nhờ bạn bè giới thiệu)

“Tôi đã từng đi rất nhiều thành phố ở Trung Quốc, tôi thích món ăn Trung Hoa và cũng có rất nhiều bạn bè ở đó, nhờ bạn giới thiệu nên tôi đã cưới một người vợ Trung Quốc. Trước khi kết hôn, cô ấy rất tốt bụng, ôn hòa, hiền hậu, dịu dàng. Nhưng khi vừa mới kết hôn, cô ấy lập tức có mong muốn rất mãnh liệt là biến tôi thành cô ấy, lúc nào cũng quản lý tôi, can thiệp vào việc của tôi. Nghe nói đa phần phụ nữ Trung Quốc đều như thế.

Ví dụ như có người gọi điện thoại đến, dù tôi ở nhà, cô ấy cũng phải hỏi “Anh/cô là ai?”, đây là điều mà văn hóa phương Tây không chấp nhận được nhất. Nếu là một người phụ nữ phương Tây thì hẳn sẽ nói “Xin đợi một lát”. Nếu tôi không có ở đó, cô ấy nên nói “Xin hỏi anh/chị có muốn nhắn gì cho anh ấy không?”, nếu đầu dây bên kia muốn nhắn gửi gì đó thì là việc khác.

Cô ấy còn thì tùy tiện bóc thư của tôi, điều này khiến tôi không vui, thậm chí là tức giận, vì ở Úc thì đây là hành vi phạm pháp. Tôi từng nói chuyện với cô ấy nhiều lần nhưng cô ấy chẳng những không chấp nhận mà còn khóc lóc thương tâm và nói: “Anh có chuyện gì giấu em à?” Cô ấy không hiểu được ý nghĩa của nhân quyền và không gian riêng tư đối với mỗi cá nhân.

(Ảnh: Shutterstock)

Đặc biệt là cô ấy không thích nói rõ ràng về tiền bạc, vợ chồng ở Úc đều có tài khoản tiết kiệm của riêng mình, ngay cả các việc chi tiêu đều nói rõ ràng là ai chi trả bao nhiêu. Nhưng cô ấy không đồng ý, cô ấy muốn tính toán trong đầu. Khi bạn bè cùng đi ăn, mỗi người tự trả một phần, cô ấy nói người ta không có tình nghĩa. Hơn nữa cô ấy còn luôn nghĩ rằng “sống là người của anh, chết là ma của anh”.

Thật ra thì cuộc hôn nhân của chúng tôi đã tan vỡ từ lâu rồi, cô ấy vẫn khoe khoang với bạn bè rằng tôi không chịu rời khỏi cô ấy. Hơn nữa cô ấy còn nhiều lần thương lượng với tôi là làm gì cũng được, chỉ cần tôi giữ thể diện cho cô ấy, đây là điều mà tôi không thể hiểu nổi. Khi chúng tôi xảy ra mâu thuẫn, hai người không thể ngồi xuống cùng giải quyết, mà lại tìm người ngoài giúp đỡ, cô ấy cứ tìm bạn bè và người thân của tôi.

Tôi chưa bao giờ từ chối nói chuyện với cô ấy, khi chúng tôi không thể thỏa hiệp vì vấn đề gì đó, cô ấy không chịu nhường mà còn uy hiếp, tìm sơ hở từ tờ khai thuế của tôi. Tôi không muốn sống tiếp với người phụ nữ như vậy nữa, cô ấy nghĩ rằng ly hôn chính là hủy hoại cô ấy, mà không hiểu rằng cuộc đời có thể bắt đầu lại bất cứ lúc nào.”

ADVERTISEMENT


HEYWARD (nhân viên ở phòng thí nghiệm thuộc trường Đại học Sydney)

“Lý do khiến tôi không thể sống cùng vợ được nữa là vì vấn đề ăn uống. Người Trung Hoa thích những món chiên xào, còn nhà ở Úc đều có máy báo cháy, hễ có dầu hay khói là sẽ báo động khiến cả khu vực đều nghe thấy, cảnh sát sẽ cho xe cứu hỏa đến, hơn nữa khắp nhà còn đầy mùi dầu mỡ.

Cô ấy không thể không ăn món xào được, tôi nhắc cô ấy đừng ăn quá nhiều muối, cô ấy lại nói rằng họ đời đời đều như thế cả, bữa sáng cũng phải xào nấu, cuộc sống đều chỉ xoay quanh chuyện ăn, vui ăn một bữa to, giận cũng phải ăn no nê.

Người Trung Quốc thích xào thức ăn, còn người phương Tây thì không như vậy. (Ảnh: Shutterstock)

Cô ấy không thể không ăn nước tương, còn tôi thì không thể không ăn phô mai, vì vậy mà rất khó điều chỉnh khi ăn uống. Tôi uống cà phê, cô ấy uống trà, tôi sợ dầu và muối, cô ấy thì không có dầu sẽ ăn không ngon. Cùng ăn cơm là niềm vui của vợ chồng, nhưng chúng tôi thì chẳng thể hưởng thụ được.

Cô ấy mặc quần áo chỉ cần thích là đi bất cứ đâu cũng mặc, nhưng người Úc thì mặc tùy ý ở nơi thoải mái, còn ở nơi trang trọng thì rất nghiêm túc. Điều khiến tôi sợ nhất là cô ấy thường xuyên mặc váy khi đi xe đạp, hễ mà có gió là sẽ rất khó giữ váy, tôi bảo cô ấy đừng mặc như thế, cô ấy lại nói phụ nữ Trung Quốc đều mặc thế đấy.

Cô ấy nói lớn tiếng trong quán ăn, mọi người xung quanh quay lại nhìn, cô ấy xem như không có gì. Tôi nói rằng các quán ăn ở Úc đều không có ai nói lớn tiếng, cô ấy thì nói miệng của cô ấy, ai quản được. Những điều nhỏ nhặt này dần tích tụ sẽ gây ra mâu thuẫn, người Úc trước 2 tuổi là đã được giáo dục đạo đức, không được vứt vỏ trái cây bừa bãi, tôi thì lúc nào cũng phải nhắc cô ấy, sống như vậy mệt quá.”

RAV (giảng viên khoa nhân chủng học, yêu thích văn hóa Trung Quốc)

“Tôi và vợ người Trung Quốc viết thư qua lại suốt nửa năm mới gặp nhau, lần đầu chúng tôi chọn gặp ở Thái Lan, chúng tôi cùng trải qua 18 ngày vui vẻ. Cô ấy là một giảng viên tiếng Anh ở trường đại học, hơn nữa còn là thạc sĩ.

Vốn dĩ bảo hiểm y tế của Úc là mỗi nửa năm phải kiểm tra sức khỏe một lần để sớm phát hiện bệnh và điều trị, nhưng cô ấy không chịu kiểm tra. Đối với một người có giáo dục thì thái độ đối với sức khỏe cũng là một sự văn minh.

Do sự khác biệt về văn hóa hai nước, những việc có vẻ như rất bình thường đối với cô ấy thì trong mắt tôi lại rất cổ lỗ và không văn minh. Cô ấy thích giúp đỡ người khác là điều tốt, tôi rất thích, nhưng cô ấy đẩy cho tôi những việc mà mình không làm được thì tôi không chấp nhận nổi. Cô ấy còn yêu cầu tôi viết thư mời giả để bạn cô ấy được đến Úc, nhưng đây là hành vi phạm pháp, tôi thực sự coi thường việc đó.

Còn nữa, ví dụ như khi cô ấy ở nhà, có người gọi điện thoại đến tìm cô ấy, nhưng lại bảo tôi nói là cô ấy không có ở nhà. Tôi rất bất ngờ, việc cô ấy ở nhà là sự thật, cô ấy có thể từ chối nói chuyện với người khác, hẹn hôm khác rồi nói, như vậy không được sao? Cô ấy nói đây không phải là nói dối, người Trung Quốc dùng cách này để từ chối lịch sự với bạn bè.

Theo văn hóa của tôi thì nếu cô ấy có thể phủ nhận sự thật là cô ấy ở nhà, thì những việc khác làm sao tôi tin được cô ấy đây? Cô ấy nói là ở Trung Quốc cần phải nói dối, nếu trực tiếp từ chối người khác như ở Úc thì người ta sẽ tức giận.

Sự rạn nứt lớn nhất giữa tôi và cô ấy là ý thức pháp luật. Vào giai đoạn tình cảm của chúng tôi phát triển cao nhất trước khi cưới, cũng chính là vào ngày đính hôn, tôi tặng cho cô ấy một chiếc nhẫn. Đó là một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi ngồi ở sau vườn nhà tôi, những quả chanh vàng ươm trên cành, giống như những chiếc đèn lồng nho nhỏ, tôi hái hoa hồng đủ màu sắc cắm trên bàn, trên mặt cô ấy nở nụ cười hạnh phúc.

Tôi cầm một bản công chứng tài sản ra giải thích với cô ấy rằng trước khi đi đăng ký kết hôn, chúng ta cần điền vào tài liệu này và ký tên. Toàn bộ tài sản trước hôn nhân của tôi không có liên quan đến cô ấy, dù sau khi tôi qua đời hoặc cuộc hôn nhân của chúng tôi gặp bất cứ vấn đề nào dẫn đến ly hôn. Toàn bộ tài sản của tôi sẽ ủy thác cho luật sư giao cho người được ủy nhiệm trong di chúc xử lý.

(Ảnh: Shutterstock)

Khi đó cô ấy trở mặt, cô ấy cho rằng tất cả đều thuộc về cô ấy, vợ chồng không nên phân chia tài sản rõ ràng, nếu không nghĩa là tôi không thật lòng. Thật ra tôi dám nói rằng bất cứ người Úc có tiền nào cũng sẽ không cưới một người phụ nữ bắt họ giao hết tài sản cho cô ấy. Có rất nhiều người Úc đều sẽ hiến phần lớn tài sản của mình khi còn sống cho ngành nghề mà họ yêu thích, để lại một phần rất nhỏ cho người vợ sống cùng mình.

Cô ấy miễn cưỡng kỹ tên, rồi khoảng thời gian sau đó, hễ không vui là cô ấy sẽ nhắc lại chuyện này, tôi có thể thấy rằng cô ấy cũng không phải là người ham tiền, nhưng do văn hóa của mình nên cô ấy không vui. Cô ấy xem việc tôi giao tất cả tài sản cho cô ấy là tiêu chuẩn của tình yêu. Thật ra con người ta yêu thương nhau nên dùng tình yêu của mình để đổi lấy tình yêu của người kia thì tình cảm mới sống mãi được, không có ai được lấy mọi thứ của ai cả.

Vợ tôi từng đề nghị đôi bên cùng nhượng bộ nhau một nửa, tôi đã suy nghĩ kỹ về đề xuất này, nếu vậy thì có nghĩa là trong phân nửa thời gian, tôi phải sống uất ức, không vui vẻ; cô ấy cũng phải như thế, cộng lại là nửa đời người, có nhất thiết phải thế không? Liệu có quá tàn nhẫn với ý nghĩa cuộc sống chăng?

Sau nhiều lần thảo luận, cô ấy đã hiểu. Khi chia tay, chúng tôi đều không hề cãi vã, sự bình tĩnh của cô ấy khiến tôi thấy được sự tự tôn của người phụ nữ trí thức phương Đông.”

Minh Ngọc