Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

ĐỌC VÀ BÌNH LỊCH SỬ

Hãy bình sử với tư cách là người tử tế,tôn trọng sự thực,sòng phẳng và tiến bộ 

Anh tôn trọng người khác để nhận được sự tôn trọng ngược lại 

Nhiều người đang bụm miệng vì một ông tiến sĩ kinh tế nhận định về lịch sử Miền Nam,ông ta cho rằng Miền Nam là "tinh hoa Bắc Việt tụ lại ,dồn vào theo dòng khai phá Phương Nam" 

Thiệt là...! Bậu không hề hiểu câu “Ăn theo thuở, ở theo thời” gì hết 

Dân gian Bắc Hà có câu: 

"L.. bà bà tưởng l.. ai
Bà cho ông Lý mượn hai tháng liền" 

Tự nhận mình là "người liêm chính" và giảng moral ,nói về năng lực,đạo đức và khơi về dòng họ mà đại bác thụt không tới 

Lý thuyết là cùng một dân tộc, cùng chữ viết, cùng tiếng nói ,điều đó không ai phủ nhận 

Nhưng trời ơi! Thực tế Nam và Bắc hoàn toàn khác nhau về cách sống,tư duy,văn hóa,ẩm thực.Bây giờ nói về "bà con" thì có lẽ chắc không ai còn nhớ đâu

Máu pha nhiều quá

Thí dụ như người Mỹ,nếu người Anh nói người Mỹ là người Anh thì dân Huê Kỳ sẽ cười vô mặt liền 

Cũng như danh xưng "Việt kiều",người VN ở hải ngoại đời đầu,khi mà họ còn sanh đẻ và lớn lên ở VN rồi di tản ra hải ngoại thì còn dính chữ Việt Nam.Nhưng qua thế hệ thứ hai,thứ ba,thứ tư thì con cháu đã thành người Mỹ,người Úc,người Châu Âu rồi,nói nó là người VN thì nó cười vô mặt.Nhìn bà con rồi kêu cháu hãy làm nghĩa vụ gửi tiền về VN cho họ hàng là cái không bao giờ có vì nó không thể có trách nhiệm như cha mẹ nó được,đây là sự thực 

Miền Bắc từng có 1000 năm Bắc thuộc,khi đó người Tàu di cư qua hàng hà sa số đặng cai trị,nhưng người Tàu không làm sao đồng hóa Lạc Việt được vì tinh thần dân quá cứng cỏi,thậm chí người Tàu di cư qua ở vài đời thành người Việt cũng đòi độc lập,dính mẫu hệ cả dòng

Nếu nhìn họ hàng thì Bắc Kinh giờ làm như Putin với Ukraine,nói rằng người VN ở Miền Bắc giờ là con cháu của "tinh hoa người Hoa Hạ xưa" thì nghe có vui không?

Mà ngẫm lại Bắc và Nam như âm với dương vậy,thời tiết Nam nóng thì Bắc lạnh và Bắc luôn dính cái lòng thòng từ Trung Hoa,bên đó có cái gì Bắc có cái đó,rõ nhứt là sĩ diện hảo và rất thích làm "anh cả" 

Vũ trụ là một dòng sông dài,cả một quá trình lịch sử cũng dài,con người qua bao khúc nhoi ,thăng trầm có đủ hết ,Nam Kỳ và Bắc Kỳ cũng vậy

Mà ngộ!

Rất nhiều người cứ thắc mắc, tại sao kêu Nam Kỳ,Trung Kỳ, dân hai xứ này cười hề hề, không để ý gì hết.Còn kêu người Bắc nào là Bắc Kỳ, nếu người Bắc di dân vào nam 1954, hay gọi là Bắc 54 thì cũng không sao, nhưng Bắc 75, Bắc đang ở phên dậu thì đa số họ sẽ đưng đửng lên như bị con gì cắn, rồi chửi người kêu là phân biệt vùng miền, chửi người kêu là miệt thị

Kỳ chỉ là đất một cõi mà ta?Thành đô một nước còn có tên là "Kinh Kỳ" đó thôi 

Trong lịch sử Việt Nam ta có một cái huyện được sử Nguyễn ghi chép là "Qúy huyện" ,trong đó có một ngoại trang gọi là "Qúy hương" 

Vùng đất đó là Gia Miêu ngoại trang thuộc tổng Thượng Bạn huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa,là nơi phát tích của vương triều Nguyễn 

Là nơi quê nhà lão tướng Nguyễn Kim đã trung hưng thành công nhà Lê Trung Hưng 

Cũng là quê của Quận Công Nguyễn Hoàng ra đi trấn thủ xứ Thuận Hóa năm 1558 ,ông về Phương Nam, tiên khởi hùng mạnh khởi lập lên xứ Đàng Trong với 9 chúa, 13 vua 

Xin lật lịch sử vào những năm 1558-1600 

Chúng ta nghe giai thoại rằng chúa Nguyễn Hoàng vì "nghe lời" Trạng Trình "Hoành sơn nhứt đái, vạn đại dung thân" nên xuôi về Nam

Tôi thì đọc giai thoại cho vui thôi,cái đám sĩ phu Bắc Hà rất thích đặt giai thoại,thiệt ra là tầm nhìn chánh trị của chính chúa Nguyễn Hoàng mà thôi,ông nhìn xa ra cái hướng mà dung thân ,phát triển khi anh rể Trịnh Kiểm đã nuốt hết cơ nghiệp nhà vợ rồi giết anh trai Nguyễn Uông,sẽ giết tới Nguyễn Hoàng 

Đi vô vùng "Ô châu ác địa", "Biên viễn xa xôi" là một cuộc thử thách thực sự chứ không phải đi du lịch chơi chơi như thời nay.Cái duyên này là Trời định,là Thiên Mệnh,để Việt tộc phát triển dài ra cương thổ 

Năm 1558 Nguyễn Hoàng ôm theo nhiều anh em, bà con ,tùy tùng quê ở Tống Sơn 

Ta phải kể ra ba ông lớn có tiếng trong đời Nguyễn Hoàng mà lịch sử ghi là: Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị và Mạc Cảnh Huống

Con cháu Nguyễn Ư Dĩ sau này đổi sang họ Nguyễn Khoa,với Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng 

Dòng thứ hai là họ Tống của ông Tống Phước Trị.Tống Phước Trị là người mang họ Tống của chính "Qúy huyện " Tống Sơn .Khi Nguyễn Hoàng vào Nam thì ông đã có danh phận chức tước ngang hàng với chúa Nguyễn Hoàng ,tước Luân Quận Công,làm Trấn thủ Thuận Hóa trước cả Nguyễn Hoàng 

Dòng Tống Phước Trị là đệ nhị công thần của chúa Nguyễn Hoàng 

Ông Tống Phước Trị là tổ của hai ông Tiền Hiền Tống Phước Hiệp, Tống Phước Hòa là bậc danh tướng ,có công gìn giữ Vĩnh Long và Sa Đéc 

Đất Trung Kỳ là đất của Chàm. Người Việt kêu người Champa là người Cham, Chăm, Chàm, Chiêm, Thổ, Mọi , Hời

Cham Pa gồm 5 tiểu quốc là:

- Indrapura (vùng Quảng Bình, Quảng Trị - tương đương với lãnh thổ Lâm Ấp) 
- Amaravati (vùng Quảng Nam, Thừa Thiên) 
- Vijaya (Bình Ðịnh) 
- Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa)
- Panduranga (Phan Rang, Phan Rí)

Vua Chàm Chế Bồng Nga đánh Đại Việt 12 lần.Từ 1371 đến 1383, quân Chiêm Thành 4 lần chiếm đóng Thăng Long và năm 1390, lúc đang tiến vào Thăng Long lần thứ tư, thì Chế Bồng Nga bị tử trận.Cái chết vô cùng lãng nhách , thằng đầy tớ phản chủ qua bên Việt chỉ chiếc thuyền Chế Bồng Nga có một vết sơn xanh nhỏ và Trần Khắc Chân chỉ tập trung hỏa lực bắn vô thuyền nầy là Chế Bồng Nga tử trận

Người Chàm rất xui khi lập quốc cạnh người Việt vì nằm ngán đường của người Việt .Bắc là Tàu,tây là dãy Trường Sơn cao ngút,đông là biển,chỉ còn hướng Nam là con đường sanh tồn của Việt tộc.Nên Chàm bị vong quốc 

Nhưng Chàm vẫn còn đâu đây trong huyết quản người Miền Trung

Khi ông Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống VNCH nhiều người già nói sấm ám chỉ có một ngày một người có máu Chàm làm vua người Việt 

Nhiều người hỏi,vậy dân Chàm hồi xưa ở VN đi đâu mất tiêu hết vậy?

Chiến tranh,loạn lạc,có những vụ đánh nhau ,kể cả tận diệt,nhưng người Việt không thể nào giết hết dân tộc này như nhiều người kết tội,dân tộc này không có nhỏ

Thực ra người Chàm nào chịu ở lại định cư chung với người Việt đã bị đồng hóa,pha máu từ từ,lần hồi thành người Việt hết ráo.Trước tiên đàn ông Việt lấy vợ Chàm,cái phụ hệ của Việt khuất phục mẫu hệ Chàm ,rồi đàn bà Việt lấy chồng Chàm,cái “mẫu hệ” ngầm trong gia đình Việt cũng khuất phục luôn dân tộc này

Nói về đồng hóa bằng hôn nhân thì dân Tàu cũng quỳ lạy dân Việt chúng ta.Người Việt không nề hà,đụng đâu lấy đó ,Chàm quất tuốt,Miên không tha,Tàu quất sạch 

Người Trung mang nhiều máu Chàm trong người.Người Trung có da ngăm đen,vai ngang,mặt vuông, tóc dợn sóng, mắt sâu, má cao,mắt một mí , mũi cao, môi dầy, miệng kín. Rồi cái âm Trung lơ lớ với mô,tê,răng,rứa,hè...ảnh hưởng rõ rệt người Chàm 

Một nhúm Chàm ở Phan Rang ,Phan Thiết do co cụm,sống tách biệt nên vẫn còn bản sắc

Thế hệ đầu tiên ngoài Bắc  vô Trung của Nguyễn Hoàng thành dân Trung Kỳ đã phai lợt từ từ "gốc gác",tới những thế hệ sau thì họ đã là người Đàng Trong,khác hoàn toàn tâm tánh,ăn ở,văn hóa Đàng Ngoài 

Chưa kể lại đối nghịch nhau về chánh trị 

Lịch sử Việt Nam ta có cuộc Trịnh,Nguyễn phân tranh rất nhiều giai thoại thú vị 

Khi họ Nguyễn tạo ra xứ Đàng Trong ly khai vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài thì hiểu rằng người ở phía Nam đã muốn độc lập,cắt đứt với người phía Bắc

Trịnh ,Nguyễn đánh nhau từ 1627 tới 1672 với 7 lần đánh nhau với đại quân 

Trong bảy lần đó quân Trịnh chủ động tấn công đánh quân Nguyễn tới sáu lần,quân Nguyễn chỉ chủ dộng tấn công quân Trịnh trong lần giao tranh thứ năm (1655-1660)

Họ Trịnh dựa vua Lê,người Bắc rất lơ láo ,họ chuyên lấy vua Lê ra làm bình phong cho sự chính danh của họ khiến quân Đàng Trong rất ghét 

Tương truyền trong một trận đánh,hai bên dàn trận rồi mà Đàng Ngoài còn chơi trò lấy lông gà làm lịnh tiễn “vua Lê” 

Một ông quan Bắc chạy xe ngựa có cờ lộng uy nghi ra giữa trận tay giơ cao tờ chiếu la lớn”Chiếu chỉ vua Lê tới đây,quân họ Nguyễn nghênh đón” 

Thoáng ngỡ ngàng , quan bên Nguyễn thấy rằng hai bên đang đánh nhau thì mang chiếu chỉ vua Lê ra làm chi,Đàng Trong đã thực tế là đất của chúa Nguyễn 

Quan Bắc vẫn gân cổ, là thần tử vua Lê thì phải nhận chiếu 

Rốt cuộc súng của quân Nguyễn chỉa thẳng vô ông quan cầm chiếu vua Lê  ngay giữa trận 

Nhớ tới Quốc Phụ xứ Đàng Trong Đào Duy Từ nửa đêm ôm bè chuối vượt sông giới tuyến vô Nam giúp chúa Nguyễn giữ đất Đàng Trong độc lập 

Đào Duy Từ hay Nguyễn Hoàng là bỏ xứ ra đi rồi,bỏ luôn rồi,kiểu "Người ra đi đầu không ngoảnh lại"

Thuận Quảng là đất chó ăn đá gà ăn muối lúc bấy giờ .Kinh tế thấp kém,đất đai rộng nhưng hoang vu,lam sơn chướng khí,lại bị người Chàm đánh miết để đòi lại ,vô đó chỉ có nước chết mà Nguyễn Hoàng tồn tại được là cái không ai ngờ 

Bản thân Nguyễn Hoàng từ năm 1600 đã từng đốt quán trọ,hạ nhục sứ họ Trịnh là Lê Nghĩa Trạch để phản kháng.Sự bất mãn ,phân ly và phản kháng đã từ từ phát diện 

Rốt cuộc, Phú Xuân (Huế) từ năm 1687 thành kinh đô của Đàng Trong 

Chúa Trịnh vua Lê ở Đàng Ngoài.Đàng Ngoài năm nào cũng có đói, thời chúa Trinh các năm 1557, 1559, 1570, 1571, 1572, 1577 hàng loạt trận đói xảy ra 

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các vị sau đó còn làm bộ nhún nhường thần tử,song tới đời Võ vương Nguyễn Phước Khoát (1714-1765 ) mở ra một thời kỳ mới

Năm 1744 lên ngôi vương xưng là Võ Vương cho đúc ấn Quốc Vương với cương vực từ sông Gianh tới Cà Mau ,vạch rõ san hà Nam-Bắc khác nhau 

Ta nhớ tới bài thơ của Đào Duy Từ viết thay chúa Nguyễn trả lời cho chúa Trịnh 

Năm 1762 chúa Trịnh bắt họ Nguyễn Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương Nguyễn Phước Nguyên và đòi Sãi Vương phải cho con về Thăng Long chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh

Sãi Vương không chịu nhận chiếu chỉ,không thuận theo điều gì hết ,Đào Duy Từ viết bài thơ trả lời 

Mâu nhi vô dịch,
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch

Phùng Khắc Khoan phải ra tay dịch ra bốn chữ: Dư bất thụ sắc (ta không nhận sắc phong)

Họ Nguyễn không chịu thần phục triều đình,không nhận sắc vua Lê cho nên làm ra bốn câu thơ đó

Đào Duy Từ là người Đàng Ngoài,giỏi nhưng bị chà đạp,nửa đêm ôm bè chuối vượt sông Gianh vô Nam làm Lộc Khuê Hầu giúp chúa Nguyễn độc lập ,cắt đứt Đàng Ngoài 

Họ Trịnh biết,tiếc nên cho người ôm vàng bạc vô Nam dụ họ Đào về Bắc,chúa Trịnh viết thư ưỡm ờ 

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay”

Đào Duy Từ trả lời rằng: 

“Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Tháng 1 năm 1775 khi Tây Sơn nổi dậy đánh chúa Nguyễn ,quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc cầm quân đã tiến vô nam đánh chiếm Phú Xuân

Quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân trong 11 năm với 3 vạn quân,cai trị mạnh tay,dân Thuận Hóa ná thở ,oán khí ngập trời 

Nếu coi nhau là đồng bào thì đã không có sự cai trị kinh khủng như vậy 

Năm 1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ tiến ra đánh bật quân Trịnh giải phóng Phú Xuân .Tây Sơn xua quân giết quân Trịnh ,tàn sát gần hết ,một số chạy thoát ra khỏi thành thì bị dân Huế bản địa căm thù ra tay giết 

Trong một ngày khắp Phú Xuân xuất hiện ăn mày nhưng toàn là á khẩu,câm để giấu cái giọng Bắc ,tìm đường chạy ra Bắc thoát thân 

"Lịch Triều Tạp Kỷ" của Ngô Cao Lãng ghi rằng:

"Các lính thủ chạy đi các xóm làng để xin trú ngụ đều bị thổ dân giết sạch......giết hại tất cả đến vài vạn người, chỉ còn vài trăm người là qua được sông Gianh trở về Bắc Hà thôi"

Nguyễn Hữu Chỉnh,Ngô Thời Nhiệm,Đặng Trần Thường đều đã về Nam tìm gió mới ,Nguyễn Du cũng từng đi nhưng không thành công 

Đặng Trần Thường một nho sanh Bắc Hà xuất sắc cũng đã vượt đường cái quan,qua sông núi biển xa vạn dặm vào đến Gia Định 

Đất Bắc với nạn nhân mãn, anh cả,nhà thờ họ,lũy tre làng ,những con đê khổng lồ chặn hết phù sa ,những ông lý như tiểu vương đã là nỗi ám ảnh của nhiều người Việt lúc đó 

Xuôi Nam là con đường mà họ chọn để theo nước đẩy thuyền

"Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông"

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long kể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông và Tân Bình kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông

Người Miền Nam là con cháu Nam Kỳ,vốn là xứ của lưu dân Ngũ Quảng hiệp cùng người Minh Hương,Chàm,Khmer và bổn địa như Stieng tạo ra 

Cái máu Bắc trong người Miền Nam khai hoang không có bao nhiêu 

Ông bà ta nói đất sanh ra người,người là hoa của đất,là tinh túy của xứ sở , đất tạo ra tâm tánh người dân 

Chúa Nguyễn áp dụng những chánh sách cai trị rất khôn khéo,trước khuyến khích tạo điều kiện cho dân vào Nam khai hoang lập ấp,nói chung làm ăn ổn định cuộc sống trước đã.Sau khi cuộc sống của dân cư đi vào ổn định, Chúa Nguyễn bắt đầu áp dụng chính sách thuế trên đất Miền Nam

Người Nam Kỳ là dân khai hoang tứ xứ,vì kinh hoàng với xứ Bắc nên họ tạo ra văn hóa Nam Kỳ khác văn hóa Bắc  rất nhiều,ví dụ chuyện dòng tộc,lũy tre làng là không có ở xứ Nam 

Miền Nam không có Thị Mầu, không có Chị Dậu, không có Chí Phèo, không có cảnh người dân ngụ cư, làng này đánh làng khác 

Người Miền Nam  không lập gia phả,không có chế định nhà thờ họ.Nam Kỳ thời chỉ thờ cúng trực hệ tổ tiên trong 4 đời.Nam Kỳ bỏ "cả",chỉ công nhận "hai" ,cũng không lấy cái đình làng làm nơi dọa nạt người dân 

Lịch sử lưu dân Nam Kỳ quá trẻ,quá gần ,không có nhiều quá khứ ,nhưng quá khứ huy hoàng 

Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc.Tánh Nam Kỳ lửa rơm dễ nóng ,dễ cháy.Sông rạch và đất nước bao la vì vậy đã tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn.

“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mượn chén ăn cơm
Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi” 

Đất Nam Kỳ không dễ dàng mà có ,ông bà cũng nẻ chưn tét da,rướm máu,mẻ xương,mất mạng mà giành nó,giữ nó và xây dựng,phát triển nó .Qúa trình dài và đầy máu,nước mắt,ai đọc sử cũng sẽ biết quá trình này 

Một hột giống gieo xuống đất ,đất đó phải xới,phải vun bồi,tưới tẩm,phải dẫn nước ,xẻ mương,mưa thuận gió hòa qua sự điều hòa của trời đất thì hột mới nẩy mầm cho ra cái cây,sanh bông kết trái 

Miền Nam có những mùa hạn khô queo không còn một miếng nước cực khổ thấu trời.Có những vùng nước tù đọng muỗi mòng rắn rít,những vùng phèn vàng khè cháy da cháy tóc .Ông bà Miền Nam phải đổ xương máu ra khai phá,đào kinh,xẻ mương,lên liếp 

Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt ,đất này gốc của Phù Nam rồi Cao Miên ,người Việt phải trầy vi tróc da giữ nó,khai phá nó mới có cơm gạo

Prei NoKor,Phiên Trấn,Gia Định,Phan An,Sài Gòn đã thành một đô thị an vui,no ấm,thạnh vượng của Nam Kỳ Lục Tỉnh,là đô thành của Lục Tỉnh 

"Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi.
Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh độc"

Đất Nam Kỳ từ khi lưu dân cắm đất khai phá và Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược thì cha ông chúng ta luôn hướng tới tự do,dân chủ,tôn trọng và muôn đời là như vậy

Sài Gòn là sản phẩm của người yêu chuộng tự do,của tinh hoa Nam Kỳ Lục Tỉnh

"Sài Gòn dễ ở khó về
Trai đi có vợ, gái về có con"

Sài Gòn là cái đỉnh cao của văn minh kiểu Lục Tỉnh,cách chơi Lục Tỉnh,tâm hồn Lục Tỉnh 

Tây Sơn tràn vào,không phải tự dưng mà có "Thảm sát cù lao Phố","Thảm sát Chợ Lớn" ,"Hủy diệt Mỹ Tho đại phố".Mục đích là kiếm một mớ rồi nhân tiện tiêu thổ luôn 

Những ngày đầu từ Phú Xuân vô Nam thì chúa Nguyễn Ánh cũng không là cái gì ,chẳng có danh gì ngoài cái danh “cháu Chúa Nguyễn” 

Lúc này Nam Kỳ đã có quân đội ,dân và hào phú Ba Giồng vì chống sự cướp bóc,giữ an xóm làng đã hùn tiền của,góp con cháu lập ra đạo quân Đông Sơn 3.000 người do Đỗ Thanh Nhơn chỉ huy 

“Năm nầy Thanh Nhơn mới có 42 tuổi, khí lực cường tráng, tánh nết thẳng ngay, dám nói dám làm, không kiêng không vị”(Đỗ Nương Nương báo oán-Tác giả: Hồ Biểu Chánh)

Khi Tân Chánh Vương lẫn Thái Thượng Vương bị Tây Sơn bắt giết ở Sài Gòn thì chúa Nguyễn Ánh nổi lên như người kế thừa khôi phục sự nghiệp của họ Nguyễn
 
Năm 1777 Đỗ Thanh Nhơn đưa Nguyễn Phước Ánh lên làm tôn chủ cho chánh danh.Năm 1780 chúa  Nguyễn Ánh xưng vương

Và chúa Nguyễn Ánh lập mưu giết Đỗ Thành Nhơn đặng đoạt binh quyền 

Chúa Nguyễn Ánh đụng ngay sự phản kháng và bất hợp tác của thuộc hạ ông Nhơn là Võ Nhàn, Đỗ Bảng là những phó tướng,đầu lãnh của ông Nhơn ,họ dẫn quân đi gần hết,cát cứ vùng khác 

Một thời gian dân Nam Kỳ tẩy chay chúa Nguyễn Ánh.Tây Sơn lại hành quân vào,chúa Nguyễn Ánh đánh không thắng được trận nào,chỉ biết chạy lòng vòng

Võ Tánh là em Võ Nhàn,Võ Nhàn chống lại Nguyễn Ánh và cũng bị giết chết,vì vậy Võ Tánh phải bỏ đi chổ khác,sau cùng dẫn binh về cát cứ ở Gò Tre Gò Công 

Từ năm 1784, quân đội Võ Tánh với đạo quân "Khổng Tước nguyên võ" là lực lượng duy nhứt dám dàn trận công khai đánh chận Tây Sơn ở Gia Định.Chúa Nguyễn Ánh nhiều lần “chiêu dụ” Võ Tánh nhưng ông làm ngơ,không thèm nhìn vì thù anh ,ông tự mình đánh Tây Sơn 

Năm 1788 Võ Tánh nghe theo lời các tướng thân cận như Mạc Văn Tô,Nguyễn Văn Hiếu mới đồng ý theo Nguyễn Ánh vì hai chữ “chính danh” 

Tức là Võ Tánh bỏ qua tình riêng 

Nhà Nguyễn được thành lập là nhờ dân Miền Nam 

Chúng ta hiểu rằng với dân Nam Kỳ, họ Nguyễn Phước là họ tượng trưng nhưng không phải là số một 

Tỷ dụ vua Gia Long biết ông Lê Văn Duyệt là người ít học nhưng thẳng thắn và làm kinh tế giỏi nên đối với ông Duyệt có sự biệt đãi,ông Duyệt trung thành nhưng lại có cái cách “thinh thang’” kiểu Nam Kỳ khi Nam Kỳ cho tự do  tôn giáo,mua bán,thông thương, dân an vui no đủ 

Vua Minh Mạng tìm cách phá bỏ ảnh hưởng của phe Nam Kỳ trong Gia Định sau cái chết của ông Duyệt 

Vua đã đưa vào đất Nam “người của mình”,đám này chủ yếu có quê gốc ở Trung và Bắc để thực hiện những đường lối chánh sách mới,kiểm soát và nắm kinh tế,bỏ những ảnh hưởng của phái Gia Định và xóa bỏ mọi uy tín của vị Tả Quân trong dân chúng

Dân Nam Kỳ đã trả lời bằng cuộc đảo chánh của Lê Văn Khôi.Bộ sậu có con cháu Nguyễn Văn Tồn,Nguyễn Văn Thoại,Mạc Cửu ....những vị khai quốc công thần xưa 

Mắc cười thay! Lê Văn Khôi là người gốc Bắc.Điều này chứng tỏ rằng người Miền Nam không bao giờ câu nệ xuất thân,gốc gác,máu mủ.Cứ cùng chung suy nghĩ,cùng bảo vệ quyền lợi thì cứ mặc sức mà thể hiện 

Cuộc đảo chánh này không có phương hướng rõ,do dự,chần chừ và bị vài phần tử phản bội do “hèn” sau lưng nên rốt cuộc không thành công 

Dù trấn áp được cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi thành công,nhưng từ thời Minh Mạng triều đình Huế đã không còn “uy tín” như thời  vua Gia Long
 
Sau 1862 Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp 

Nghị định 82 ký ngày 6. 4. 1878 toàn Nam Kỳ phải chuyển sang chữ Quốc Ngữ,tức chữ La Tinh 

Tức là thủ tiêu chữ Hán và phải học chữ Quốc Ngữ

Năm 1878 chữ Quốc Ngữ áp dụng ở Nam Kỳ đầu tiên,các “tổ sư” chữ Quốc Ngữ áp dụng đầu tiên toàn dân Nam Kỳ như :Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Tống, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản...

“Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của đất nước. Phải như thế vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy, người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ này bằng mọi phương tiện..."(Trương Vĩnh Ký “Vần quốc ngữ” xuất bản năm 1876)

Trong văn hóa Việt tộc ta ,vì xài chữ Quốc Ngữ nên Việt Nam được coi là nước theo hệ chữ La Tinh ,nhưng Việt khác các quốc gia Tây khác như Anh hay Pháp là chữ Quốc Ngữ có rất nhiều dấu

Chúng ta đã có chữ viết,chữ La Tinh tuy là "vay mượn" Tây,nhưng nó thể hiện đúng nhứt về cấu trúc cách nói,ngữ âm của dân tộc Việt,chỉ có 24 chữ ráp lại ,thêm dấu là xong,thể hiện đúng hình và thanh của dân tộc Việt 

Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là tờ Gia Định Báo, do Pháp lập năm 1865, với chủ bút Trương Vĩnh Ký, rồi Huỳnh Tịnh Của. Tiếp đó đến tờ Nam Kỳ Nhật Trình (số 1 ra ngày 21/10/1897), Nông Cổ Mín Đàm (số 1: 1/8/1901), Lục tỉnh tân văn (số 1: 15/1/1907) v.v... 

Theo tài liệu của Nguyễn Văn Trung (công bố năm 1987), cuốn tiểu thuyết quốc ngữ sớm nhứt viết theo lối Tây phương là "Thầy Lazzaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản, xuất hiện ở trong Nam ngay từ 1887 và bản dịch Tam Quốc Chí đầu tiên, cũng khởi đăng trên Nông Cổ Mín Đàm, số một. (Nguyễn Văn Trung, Lục Châu Học)

Ông Phạm Quỳnh vào Nam năm 1918 hết hồn thấy báo chí,nhựt trình trong Nam nhiều quá 

Người Bắc 54 vô Nam ngạc nhiên khi có cảnh người đạp xe xích lô ở Sài Gòn, buôn gánh bán bưng vào buổi trưa tìm chỗ mát nghỉ ngơi, ngồi gác chân đọc nhựt trình, cảnh không thể có ở ngoài Bắc

Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì Miền Nam có truyền thống đọc sách báo của người bình dân mà ở ngoài Bắc không có,bởi Miền Nam đã là vùng đất của quốc ngữ và báo chí, tiểu thuyết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khiến nền văn chương bình dân phát triển mạnh ở trong Nam, trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học trung lưu 

Tới năm 1910 chánh phủ Đông Pháp mới áp dụng chữ Quốc Ngữ ở Bắc Kỳ 

Nhớ hồi năm 2009  dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội,nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng muốn hiến tặng tượng cha A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) cho Hà Nội 

Linh Mục Alexandre de Rhodes (1591 - 1666) là người có công lớn nhứt với chữ “Quốc Ngữ” Việt Nam ta 

Tuy nhiên sau đó ông Phạm Văn Hạng đã bị một số người lên án thất kinh.Trong khi Sài Gòn đã có đường Alexandre de Rhodes từ xưa rồi

Hà Nội không thể chấp nhận một con đường mang tên Alexandre de Rhodes nhưng lại có đường Mạc Đăng Dung thì cũng đã thể hiện suy nghĩ Nam Bắc khác nhau rồi 

Đi sau Miền Nam nhưng vẫn thích ta đây là anh cả, vẫn thích bố đời 

Thí dụ nữa là ,đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho có từ năm 1885 (ngưng chạy năm 1958).Dân Nam Kỳ kêu và đặt tên là “xe lửa” là từ chuẩn 

Xe vì nó chạy trên bộ,nhưng nó chạy bằng đường ray sắt và đầu máy hơi nước phun ra khói lửa nên kêu là xe lửa,trúng bài 

Sân bay Tân Sơn Nhứt xây ở Nam Kỳ đầu tiên,dân Nam Kỳ kêu sân bay là phi trường,phi cơ,phi công

Không biết vì sao từ máy bay thành tàu bay, từ xe lửa thành tàu hỏa?

Bắc thời đó là xứ kém văn minh,bị bỏ quên,tới những năm 1900 vì toàn quyền Paul Doumer muốn lấy Hà Nội làm bàn đạp tấn công qua Vân Nam nên mới dời thủ đô từ Sài Gòn về Hà Nội và bắt đầu xây hạ tầng

Nên nhớ thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers và ông Paul Blanchy,Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đều chống đối chuyện đem ngân sách Nam Kỳ đầu tư ra Bắc 

Hà Nội toàn đi sau Nam Kỳ 

Nam Kỳ định hình,khái niệm xe lửa,dầu hôi,xe hơi,phi trường,phi cơ là của người Nam đặt ra đầu tiên 

Bắc  đi sau nhưng rất khoái dạy đời,sửa chữ 

Sửa sạch sẽ,từ “nhựt” thành nhật,”bịnh” thành bệnh,”bổn” thành bản,”lộ” thành đường,”nhứt” thành nhất,"bịnh" thành "bệnh","dòng" thành "giòng" 

Cái gì mà tàu bay,tàu hỏa,cảng hàng không,dầu hỏa? 

Và nay lại sửa chữ Quốc Ngữ theo âm Bắc,dám nói đọc kiểu Nam  là sai?Bắc đứng ở chuẩn nào mà dám nói mình chuẩn nhứt ?

Trong gần 100 năm dân Nam Kỳ chỉ biết có Paris mà không nhớ Huế chứ đừng nói tới Hà Nội 

Vua Nguyễn chỉ là một chút hoài niệm của người Nam Kỳ.Dân Nam Kỳ chỉ biết có Thống Đốc,quan chủ tỉnh,chủ quận,đốc phủ sứ,ông hội đồng 

Thành ra giai đoạn Quốc Gia VN,Quốc trưởng Bảo Đại đâu có ở Sài Gòn lâu,ông thích ở Đà Lạt nhiều hơn,ông thích ở bên Pháp,bên Cannes nhiều hơn VN 

Đến độ lúc bị ông Ngô Đình Diệm làm trưng cầu dân ý lật đổ mà Bảo Đại có mặt ở Sài Gòn đâu

Quốc trưởng Bảo Đại dính với Nam Kỳ nhờ lấy bà Nam Phương hoàng hậu ,nếu soi kỹ ông không có dấu ấn nào với đất Nam Kỳ Lục Tỉnh 

Quốc trưởng Bảo Đại không đủ uy tín để cầm đầu đất Nam Kỳ 

Sử  dạy cho chúng ta trước nhứt là kinh nghiệm vì lịch sử không chỉ có quá khứ,sử nối liền quá khứ với hiện tại và tạo ra nền tảng tương lai

Bạn nhìn quá khứ ,cảm nhận hiện tại, hiểu hiện tại và hình dung ra tương lai ,hết thảy nó đi theo một quy luật nhứt quán

Lịch sử chánh trị Việt Nam xưa nay là lịch sử của biến động,chánh trị của binh đao,máu và nước mắt

Nhứt là khi xuất hiện xứ Đàng Trong,xứ Nam Kỳ thì người Bắc hết còn vai trò “độc quyền” trong chánh trị nữa,sĩ phu Bắc Hà không thể khua môi múa mép nữa 

Nam,Bắc,ta có nhiều điều vui và buồn từ ngày đó

Sài Gòn là đô thành,đẹp tuyệt vời,đẹp từ những cái tên đường

Một nhạc sĩ đã viết rằng :

"Cùng nhau đi tới Saigon
Cùng nhau đi tới Saigon
Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do
Dừng chân trên bến Cộng Hòa
Người Trung Nam Bắc một nhà
Về đây chung sống hát khúc hoan ca"

Xin ghi nhớ  Trần Đại Định, Võ Tánh,Tả Quân Lê Văn Duyệt,Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy,Cha Cả Bá Đa Lộc ,Lê Quang Định,Trịnh Hoài Đức,Tôn Thọ Tường,Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hui Bon Hoa,Quách Đàm....đã ghi dấu ấn ở đất này 

Đất Miền Nam là đất dân chủ,tự do,biết vị nhân tâm ,hễ ai theo luật chơi thì cứ ở lại

Người Miền Nam không bao giờ nhìn họ hàng xa,cũng không bao giờ lấy số đông dòng họ ra "đè" người ta 

Người Miền Nam không quan trọng huyết thống kiểu "Một giọt máu đào hơn ao nước lã" 

Ai cũng biết câu đặc tánh Miền Nam  “Bán bà con xa mua láng giềng gần”.Đi đám hay đi ra đường tự dưng có người lạ hoắc xấn xổ nhào lại nhìn bà con xa thì người ta sẽ cảnh giác liền,muốn cái gì đây? 

Mà giàu mới bị nhìn bà con, nghèo thì nó khi dễ phun nước miếng chứ làm gì nhìn bà con.Coi kịch Kim Cương sẽ thấy 

Miền Nam cũng như Huê Kỳ là một hợp chúng quốc tứ xứ,ai có khả năng ,tôn trọng luật chơi,biết giữ đạo lý,biết giữ quyền lợi là cứ chơi . Cái kiểu "Một người làm quan cả họ được nhờ"người Miền Nam không ưng bụng 

Vũ Tài Lục nói rằng :”Không đọc sử không đủ tư cách nói chuyện chánh trị” nên chúng ta phải siêng tìm sử 

Và thêm một câu nữa  xin góp là: “Hãy đọc sử với tư cách của người tử tế “

Lịch sử dân tộc này khá phức tạp,Nam Bắc vốn đã từng  là hai quốc gia riêng và cách suy nghĩ cũng có nhiều khác biệt 

"Tinh hoa" Bắc V gì mà "tụ lại","dồn vào" khi mà văn hóa,cách sống,hát xướng,cấu trúc xóm làng,cúng tế ,lễ nghi Nam Bắc đều khác nhau 

Bà bóng và cách thức lên đồng Nam Bắc cũng khác nhau mà 

Nội ẩm thực,ăn uống cũng khác nhau nữa.Hãy nhớ,đoàn kết là sự tôn trọng,tử tế chứ không phải dạy đời và áp đặt 

Không bàn tới yêu hay ghét kiểu lý tính,không nói ý thức hệ,bỏ hết,cũng không làm “phản động”như người ta hay nói,cứ nhìn lịch sử thôi và so sánh,ai không dám nhìn là đã thua nặng

Lịch sử rất công bằng,nếu cứ cố níu kéo,cứ phá,cứ làm nó nát bấy tất sẽ có sự trừng phạt,khi đó còn tàn khốc hơn trong thực tế 

Lịch sử đã cho người đọc sử thấy rõ ràng là xứ Bắc thời cuối nhà Lê trung hưng đã rất uể oải và không còn cái gì thì lấy đâu ra "tinh hoa" xuôi Nam.Khi mà Lê Chiêu Thống ôm Tàu về ,khi mà một anh "sơn dã" người phía nam sông Gianh như Nguyễn Huệ vô Thăng Long,một anh buôn trầu như Nguyễn Nhạc nhìn vua tôi nhà Lê khinh khỉnh coi thường trước hình ảnh ông vua già tàn tạ Lê Hiển Tôn lê lết lấy hơi lên sắp chết 

Thiệt là dở khi cố đào mồ mả tìm cho ra huyết thống.Để làm gì? Mọi sự là con người thực tại, là đầu óc thực tại, nó không phải chỉ là quá khứ 

Không ai cạp quá khứ ra ăn hoài để no bụng 

Thế giới văn minh luôn xiển dương sự tôn trọng nhau,có tôn trọng mới hiểu biết được.

@hunguyen06
Safechat

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

BA CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG SỬ VIỆT



Họ Nguyễn vượt mốc hơn 40 triệu người
Họ Lý đổi sang họ Nguyễn, họ Trần đổi qua họ Trình, họ Mạc chuyển thành nhiều họ… là những cuộc đổi họ lớn gắn với các cột mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn
Đầu năm 1226 (tháng 12 năm Ất Dậu), Trần Thủ Độ tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lý, đưa Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400).
Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 1224-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông.
Để củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ kiếm cách tiêu diệt tất cả con cháu nhà Lý. Việc đầu tiên là Trần Thủ Độ bức tử thượng hoàng Lý Huệ Tông. Một hôm ngang qua chùa Chân Giáo gặp thiền sư Huệ Quang đang nhổ cỏ trong vườn, Trần Thủ Độ nói rằng: “Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ cái”. Nghe thế thầy Huệ Quang trả lời: “Lời nhà ngươi nói ta hiểu rồi”. Sau đó, Trần Thủ Độ cho người mời thầy Huệ Quang vào triều bàn việc. Huệ Quang biết ý, vào sau chùa thắt cổ tự vận. (1)
Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ở các vùng núi xa xôi miền biên viễn. Tháng tư năm nhâm thìn (1232), nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.
Gần cuối năm nhâm thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay. Sau cuộc thanh trừng khủng khiếp này, con cháu nhà Lý không còn dám về Bắc Ninh làm lễ tế hàng năm, và họ thay tên đổi họ sống lẫn khuất trong dân gian để tránh bị tiêu diệt. (2)
Đặc biệt hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biển sang lập nghiệp ở Triều Tiên hay Cao Ly tức Korea. Tám trăm năm sau, con cháu của hoàng tử này đã về Việt Nam thăm lại đất tổ. (3)
Một câu hỏi cần được đặt ra là tại sao triều đình nhà Trần buộc họ Lý đổi thành họ Nguyễn mà không qua họ khác ?. Điều này rất khó trả lời vì không có tài liệu cụ thể, chỉ biết được rằng họ Nguyễn là một dòng họ ít người bên Trung Hoa, và ngược lại họ Nguyễn có nhiều và có sớm ở nước ta. (4) Phải chăng Trần Thủ Độ muốn cho họ Lý hòa lẫn trong số đông người Việt rải rác khắp nước?

2. Họ Trần qua họ Trình
Để quân Minh chóng rút về nước, cuối năm 1427, Lê Lợi chấp nhận giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên: trước đây quân Minh xâm lăng nước ta dưới chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, nay Lê Lợi đồng ý đưa Trần Cao lên ngôi, xem như quân Minh viễn chinh đã đạt được mục đích ban đầu là đưa người họ Trần trở lại ngôi báu, nay rút về nước trong vinh quang. (5)
Sau khi quân Minh về nước, Trần Cao biết thân phận mình, bỏ trốn về châu Ngọc Ma (Nghệ An), nhưng bi bắt lại, và uống thuốc độc chết. Lê Lợi lên ngôi vua, tức Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433).
Lê Thái Tổ được nước không do một cuộc đảo chánh cung đình mà do công lao chiến đấu của chính ông và gia đình, nên ông ít có thái độ kỳ thị với họ Trần là họ cầm quyền trước đó. Ông có một sách lược rất khôn khéo là ban quốc tính rộng rãi cho các công thần. Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính (họ của nhà vua) cho 221 người. Đây là đợt ban quốc tính nhiều nhất trong lịch sử nước ta, đến nỗi vua Tự Đức đã lên tiếng chê rằng “… cho quốc tính nhiều quá như thế nầy thì nhàm lắm”. (6)
Việc làm này của Lê Thái Tổ bề ngoài xem ra là một đặc ân, nhưng thật sự là một thủ đoạn chính trị ràng buộc các công thần bằng cách đồng hóa các quan vào họ nhà vua để dễ kiểm soát nhằm tránh hậu hoạn. Lê Thái Tổ là một người rất đa nghi. Những công thần đã cùng ông dày công đóng góp cho công cuộc giải phóng đất nước mà có bất cứ một biểu hiện nào khả nghi tức thì bị Lê Thái Tổ tiêu diệt ngay.
Nạn nhân đầu tiên là Lê Hãn tức Trần Nguyên Hãn. Trần Nguyên Hãn dòng dõi Trần Nguyên Đán, lập nhiều chiến công thời kháng Minh, được phong Hữu tướng quốc và họ Lê năm 1428, sau khi Lê Thái Tổ cầm quyền. Lê Hãn cho rằng “nhà vua có tướng như Việt Vương Câu Tiễn, không thể cùng hưởng yên vui sung sướng được”, nên ông bắt chước Trương Lương, xin rút lui về hưu dưỡng. “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”, khi Lê Hãn về ấp Sơn Đông (Sơn Tây ngày nay) hưu dưỡng, ông vẫn bị gièm pha là mưu toan làm phản. Lê Thái Tổ ra lệnh cho người đến bắt. Khi thuyền đến bến sông Sơn Đông, Lê Hãn tự trầm mình qua đời (7) Dĩ nhiên việc trầm mình nầy cũng là một dấu hỏi lớn không bao giờ được trả lời.
Sau Lê Hãn đến Lê Văn Xảo tức Phạm Văn Xảo, bị Lê Thái Tổ nghe lời gièm pha ra lệnh phải chết và tịch thu nhà cửa cuối năm 1430. Dưới triều con của Lê Thái Tổ là Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442), thêm ba vị đại công thần bị giết là Lê Nhân Chú (1434), Lê Sát (1437), và Lê Ngân (1437). Ngoài ra còn có Lê Khả và Lê Khắc Phục bị triệt hạ vào năm 1451 thời vua Lê Nhân Tông (trị vì 1443-1459).
Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh phản đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà nầy tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lôi Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ “Trần” đều phải đổi chép thành chữ “Trình”. (😎
Tại sao thời Lê Thái Tổ, rồi đến Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, các vua không kỵ huý bà Cung Từ mà Lê Thánh Tông lại kỵ huý ? Phải chăng sau những biến động của triều đình kể từ khi Lê Thái Tông bất đắc kỳ tử năm 1442, và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ và bắt giết năm 1459, Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ huý (như Trần Thủ Độ trước đây) để tách ảnh hưởng của họ Trần, hoặc để ngầm đe dọa con cháu họ Trần đừng kiếm cách lợi dụng tình hình để phục hồi triều đại cũ.
Dầu sao, Lê Thánh Tông chưa đi đến chỗ quyết liệt như Trần Thủ Độ, nghĩa là Lê Thánh Tông vẫn chưa tận diệt họ Trần, và để cho những người họ Trần giữ những chức quan nhỏ như trong đoàn sứ thần gởi sang nhà Minh năm nhâm ngọ (1462) có Trần Bàn, hoặc trong viện Khâm hình của triều đình lúc đó có Trần Phong, nhưng không thấy có nhân vật nào họ Trần giữ chức vụ quan trọng mãi đến thời kỳ loạn lạc sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh (1527) mới thấy vài nhân vật họ Trần xuất hiện trở lại trên sân khấu chính trị nước ta.

3. Họ Mạc đổi thành nhiều họ
Mạc Đăng Dung thuộc dòng dõi Mạc Đĩnh Chi, đỗ cử nhân võ và làm đô chỉ huy sứ năm 1508 (mậu thìn), nhờ thời thế dần dần được các vua nhà Lê tin dùng, thăng dần lên chức thái phó tiết chế các doanh quân thủy bộ, tước Nhân Quốc Công triều vua Lê Chiêu Tông (trị vì 1516-1522). Quyền hành càng ngày càng lớn, Mạc Đăng Dung lấn ép vua Lê và cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527), tự mình lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị vì 1527-1530) lập ra nhà Mạc.
Nhà Mạc cầm quyền từ thời Mạc Thái Tổ đến thời Mạc Mậu Hợp (trị vì 1562-1592), truyền được năm đời trong 65 năm. Trong lịch sử, họ Mạc bị lên án về các lỗi lầm sau đây:
– Tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lê, không trung quân (1527).
– Đầu hàng nhà Minh và cắt đất chia cho nhà Minh (1540).
Trước hết, bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng đều có phản ứng cả. Từ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ đến Lê Quý Ly, tất cả đều bị những cựu quan bảo thủ của triều trước, mất quyền lợi đứng lên phản đối. Mạc Đăng Dung cũng nằm trong trường hợp đó.
Thứ đến, chúng ta cần chú ý: ai là người đã lên án gắt gao họ Mạc ? Câu trả lời rất rõ ràng là các sử quan nhà Lê trung hưng là những người đầu tiên lên án họ Mạc. Việc nầy rất dễ hiểu vì nhà Mạc dẹp nhà Lê, nay trung hưng được thì nhà Lê kết tội nhà Mạc. Sau đó là các sử quan nhà Nguyễn vì nhà Nguyễn không muốn ai lật đổ ngôi báu của mình nên lên án tất cả những ai đã tổ chức đảo chánh cung đình.
Nhưng “ở đời muôn sự của chung”, một triều đại (chính quyền) yếu đuối, kém khả năng cần được thay thế bằng một triều đại (chính quyền) khác hữu hiệu hơn để cai trị nước, đó là lẽ tự nhiên, nên việc đảo chánh của Mạc Đăng Dung không đáng bị lên án như các sách vở trước đây đã làm.
Việc đầu hàng nhà Minh và cắt đất xin hàng cần được xét lại trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê mất ngôi, hai vị cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngung và Trịnh Ngang chạy qua nhà Minh tố cáo hành động của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đưa quân qua hỏi tội họ Mạc năm 1529 (kỷ sửu). (9)
Năm 1533 (quý tỵ), Nguyễn Kim tìm được con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua là Lê Trang Tông (trị vì 1533-1648) trong lúc đang lưu vong tại Ai Lao. Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn mười người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 (bính thân), một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.
Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ, nước ta trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng nầy, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541.
Cuối cùng việc cắt đất nghe ra khá to lớn, nhưng đó chỉ là năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Hoa Việt: Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng. Chúng ta cần chú ý là những sắc tộc ít người sinh sống trong các động dọc biên giới Hoa Việt không nhất định về theo chính quyền Trung Hoa hay Đại Việt, mà chỉ bên nào mạnh thì họ triều cống để được yên thân. Do đó, việc cắt đất nầy chỉ có tính cách giấy tờ chứ trên thực tế là bên nào mạnh họ theo.
Trong khi đó, sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. (10) Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540.
Vì quá ham lên án nhà Mạc, sử sách lơ là những công trạng đáng nhớ của nhà Mạc. Sau khi Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, rồi chạy sang Trung Hoa. Trước khi từ trần năm 1594, đại tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn để thư lại dặn vua Mạc Kính Cung: “… Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội, sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lần than khốn khổ …” (11)
Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.
Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu nài van xin người Minh đem quan sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, tạo thế đoàn kết kinh thượng và biến Cao Bằng thành một vùng biên giới vững chắc để chống lại Trung Hoa. Công trạng nầy tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không thể quên tuyên dương họ Mạc.
Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, trung hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhau. Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. (12)Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa. Trước đây, những họ nầy không lên tiếng vì một mặt sợ các chính quyền quân chủ trả thù, và một mặt việc sử sách lên án triều đại nhà Mạc ít nhiều gây những ưu phiền cho con cháu họ nhà nầy. Hy vọng sẽ có một ngày nào đó, con cháu những họ nầy thấy rõ rằng nhà Mạc không đáng bị lên án như người ta đã làm xưa nay, bỏ qua những ưu phiền không đáng, sẽ lên tiếng để tìm về gốc gác ông bà mình.

Qua ba cuộc đổi họ trên đây, lý do chính đưa đến việc đổi họ là do tiên tổ các họ nầy đã lên nắm chính quyền, lập triều đại, sau bị truất phế và bị nghi ngờ nên con cháu bị bắt buộc phải đổi họ. Ngược lại, trong lịch sử nước ta, có một dòng họ lớn từ thời Ngô Quyền lập quốc cho đến nay không thay đổi mà mỗi ngày một phát triển, hưng thịnh. Đó là họ Nguyễn Phúc ở Gia Miêu ngoại trang, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Thời điểm cực thịnh của họ Nguyễn Phúc là việc lên ngôi năm 1802 của Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long (trị vì 1802-1819), đóng đô tại Phú Xuân, cai trị một đất nước rộng lớn nhất so với các triều đại trước, từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Theo thống kê, hiện nay có khoảng hơn 40 triệu người Việt cả ở trong và ngoài nước mang họ Nguyễn.

Gia Nguyễn 

————————————
Chú thích:
A. Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, gọi tắt là Cương mục, bản dịch của Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr. 448-449.
B. Cương mục, bản dịch, tr. 456.
C. Nguyệt san Làng Văn, Toronto, Canada, số 125, tháng 1-1995, tr. 17.
D. Chỉ cần xem lịch sử danh nhân Trung Hoa, chúng ta thấy rất ít người họ Nguyễn; trong các từ điển danh nhân Việt Nam, họ Nguyễn rất nhiều. Ngày nay, mở danh bạ điện thoại, chúng ta thấy họ Nguyễn chiếm khoảng gần 50%.
1. Thổ quan châu Ngọc Ma (Nghệ An), tên là Hồ Ông, tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ Tông (trị vì 1370-1372). Cuối năm bính ngọ (1426), để đáp ứng ý muốn của người Minh trong các cuộc thương thuyết, Lê Lợi cho đón Hồ Ông về, đổi tên là Trần Cao, đặt lên làm vua, lấy niên hiệu là Thiên Khánh. (Cương mục, bản dịch tr. 803-804).
2. Cương mục, bản dịch tr. 864-865.
3. Cương mục, bản dịch tr. 880.
4. Cương mục, bản dịch tr. 1013.
5. Cương mục, bản dịch tr. 1327.
6. Cương mục, bản dịch tr. 1418-1419.
7. Cương mục, bản dịch tr. 1411.

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

Nắng hạn gặp mưa rào??


(Tự sự của một người vợ nhân ngày sinh nhật chồng)

Vậy là hôm nay đã đến ngày sinh nhật Lão Mèo già. 

Cầm tinh con Mèo, Lão hơn mình 7 tuổi, nhưng trông già…khú, gọi vậy nhưng lão chẳng giận.

Hồi mình đồng ý lấy lão, hai đứa ra phường đăng ký kết hôn. Với người Việt,  đám cưới dù ko phải là thủ tục pháp lý thì rất linh đình, nhưng với đăng ký kết hôn, lắm khi chỉ có cô dâu, chú rể.

Đăng ký xong, lão đèo mình về gian phòng tập thể nơi lão ở rồi nhanh chóng…cài cửa lại.

- Giờ mình là vợ chồng hợp pháp rồi, anh…xin phép nhé. Vừa nói, lão vừa làm tới…

Ai ngờ lần đó cũng là thời điểm làm mình bị ngừng cái... chu kỳ. 

Về sau nhớ lại, Lão bảo:

- Em đúng là cái đồ… ruộng hạn lâu ngày.

- Còn anh thì khác gì cơn mưa rào sa mạc? - mình cũng đấu lại, chẳng ngán!

Rồi hai đứa lại ôm nhau, cười như hai đứa trẻ…nhiều năm tuổi.

Được cái, Lão đọc nhiều, nên cũng biết nhiều. Cái gì không biết, mình lại hỏi Lão. Tuy nhiên, Lão lười làm việc nhà nên khi cáu lên, mình mắng Lão: “Anh chỉ được cái chém gió là tài”. Nói cho đúng thì cũng có lúc lão xung phong rửa bát, lau nhà. Nhưng thấy lão làm vừa chậm, vừa không…sạch, nên mình bảo, thôi để em làm cho nhanh, rồi sau chẳng thèm nhờ nữa.

Thương nhất cái khoản Lão trông già trước tuổi. Một hôm mình bảo lão đến trường đón con gái sớm (lớp 2) để về quê. Lúc về nhà lão điên lắm. Hỏi ra thì lão bảo, cô giáo gọi con gái ra cửa bảo “có ông đón về”. Lão bảo cô giáo cấp một rất trẻ mà sao mắt mũi lại kèm nhèm thế!

Lần khác, mình cùng Lão đi bộ quanh nhà. Đang đến đoạn nhà N11B thì có một con bé đi xe máy dừng lại, hỏi Lão, “ông ơi nhà N11B ở đâu vậy ạ?”. Lão điên tiết, bảo đi thẳng đến đầu ngõ rồi hỏi tiếp nhé. Mình bảo con bé, “chính là nhà này em ơi”. Nó rối rít, “em cảm ơn chị ạ”. Lúc đó mình thấy Lão rảo bước rất nhanh, bỏ mặc mình phía sau.

Tối về, Lão trách mình sao lại “bóc mẽ” chồng. Ý Lão là con bé mắt mũi kém thì phải chỉ sai đường cho nó sáng mắt ra. Mình bảo lâu nay mọi người bảo anh già em không tin, nhưng hôm nay thì em thấy rất đúng. Lão giận luôn cả mình, xách gối ra sofa nằm. 

Sau 3 đêm, thấy cũng tồi tội, mình ra nhận lỗi “hôm nọ em hơi quá lời, thực ra anh có già đâu, chẳng qua anh hay đùa. Thôi vào giường ngủ với em đi”. Mình vừa dứt lời, Lão bảo nói thế còn “nghe được”, rồi nhanh chân cắp gối vào giường. Mình là mình đi guốc trong bụng Lão. Lão cũng muốn vào lắm, nhưng sĩ diện, nên khi mình vừa gợi ý phát là lão ok liền (!).

Tối hôm sinh nhật năm ngoái, khi mình đang đứng cửa sổ phòng ngủ xem trời sao thế nào, thì lão bảo, hôm nay mây nhiều (!), chắc chắn có mưa (!) em ạ. Ngó làm gì, vào giường đi…

Tuy hơi ít đọc, mình cũng hiểu ngay ý lão, nhảy tót lên giường.

Nhân ngày sinh nhật năm nay, chúc Lão khỏe mạnh, chăm tập thể dục, chịu khó cạo râu và mặc áo quần màu sáng để trông trẻ ra đôi chút, đỡ gặp phải những người mắt kèm nhèm hoặc đục thủy tinh thể (!) sẽ rất phức tạp. Rồi Lão bảo gì mình sẽ nghe nấy, không cần xem thời tiết mưa, nắng ra sao nữa…

ThanhHuy Trinh

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

AI LÀ TÁC GIẢ HỒ TRƯỜNG?

TỪ KẾ TƯỜNG


"Hồ trường" là một bài thơ cổ nổi tiếng lâu nay vẫn được biết tác giả là Nguyễn Bá Trác, bài thơ "khẩu khí" theo kiểu bất đắc chí của người xưa vẫn thường được anh em trong giới văn chương, báo chí  ngâm nga hoặc đọc cho vui trong bàn nhậu, cùng với bài "Hành phương Nam" của nhà thơ Nguyễn Bính cũng gần một giọng thơ "khẩu khí: tương tự.

Nhưng hoá ra Nguyễn Bá Trác không phải là tác giả mà chỉ là người dịch lại bài "Hồ trường" và đã đăng lần đầu tiên trên tờ báo Nam Phong thời Pháp. "Hồ trường" vốn không phải là bài thơ mà là một khúc ca đặc trưng của vùng đất phương Nam bên... Trung Hoa  không biết tác giả là ai được lưu truyền trong nhân gian rồi tình cờ trong một cuộc rượu Nguyễn Bá Trác (lúc luân lạc bên Trung Hoa) nghe được người bạn mới trong cuộc rượu đọc rồi ghi chép lại.

Lâu nay tôi cũng thường nghe nhiều người bạn "trong giới" ngâm nga hoặc đọc "Hồ trường" trong bàn nhậu lúc xỉn xỉn bằng giọng hào sảng, và cũng được giới thiệu là của Nguyễn Bá Trác. Nay, có tài liệu cho biết rất cặn kẽ về nguồn gốc của bài "Hồ Trường", so lại với "Hồ trường" mà tôi nghe bạn bè đọc trong các cuộc nhậu về tổng thể vẫn vậy nhưng có một vài câu, chữ "tam sao thất bổn". Nếu tài liệu này chính xác, cũng là dịp trả lại "Hồ trường" về nguyên gốc và minh định lại Nguyễn Bá Trác không phải là tác giả mà chỉ là người dịch "Hồ trường".

Âu cũng là điều thú vị về một giai thoại của thi ca, về một bài thơ nổi tiếng lâu nay trong... bàn nhậu.

TÀI LIỆU VỀ HỒ TRƯỜNG

Liem Mai.
𝗕𝗮̀𝗶 𝘁𝗵𝗼̛ 𝗛𝗼̂̀ 𝗧𝗿𝘂̛𝗼̛̀𝗻𝗴
Hồ Trường là tựa một bài thơ nhiều người đọc và yêu mến. Thậm chí một số giáo sư Việt văn đã đọc hay ngâm bài thơ này trong các lớp văn chương bậc trung học ở miền Nam trước 1975. Cuốn Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên của Phạm Thế Ngũ in năm 1965 tại Sài Gòn cũng có ghi lại bài thơ này. Điều đáng tiếc là ít người biết rõ về nguồn gốc bài thơ. Nguyễn Bá Trác là dịch giả hay tác giả? Tựa bài Hồ Trường là một từ Việt hay Hán Việt? Hồ Trường nghĩa là gi? Đáng tiếc hơn nữa là cho đến tận ngày nay, bài thơ được chép lại tam sao thất bản, nguồn này khác nguồn kia và ít có nguồn nào thật đúng, kể cả từ các nghệ sĩ ngâm bài thơ này. Bài viết này cố gắng giải đáp các thắc mắc này.
Trước hết xin nói về nguồn gốc. Bài thơ này xuất hiện lần đầu trên Nam Phong tạp chí, bản chữ Hán năm 1919, còn bàn Quốc văn năm 1920 do Nguyễn Bá Trác đăng tải. Nguyễn Bá Trác sinh năm 1881 tại Quảng Nam. Ông đậu cử nhân năm 1906, nhưng sau đó quay sang học chữ Pháp, hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, sang Nhật năm 1908. Để dập tắt phong trào Dông du, Pháp đã tạo sức ép lên Nhật trục xuất các du học sinh người Việt khỏi đất Nhật. Nguyễn Bá Trác sang Trung Quốc, lưu lạc một thời gian rồi trở về nước, ban đầu chịu sự kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, nhưng sau lại cộng tác với Pháp. Khi Nam Phong Tạp chí xuất bản năm 1917, ông là chủ bút phần Hán văn của tạp chí này, còn Phạm Quỳnh là chủ bút phần Quốc văn. Năm 1932 cùng với Phạm Quỳnh, ông tham chính, chức vụ cuối cùng là Tổng đốc Bình Định. Và cũng như Phạm Quỳnh ông bị Việt Minh giết năm 1945.
Bài thơ nguyên tác chữ Hán, là một phần trong bài Hạn mạn du ký (汗 漫 游 記) đăng nhiều kỳ trên Nam Phong tạp chí phần Hán văn. Hạn 汗 (còn đọc là hãn) nghĩa là mồ hôi, Mạn 漫 nghĩa là đầy. Hạn mạn du ký nghĩa là lời kể lại một chuyến đi gian khổ. Sau đó chính ộng Nguyễn Bá trác dịch và đăng lại trong Nam Phong Tạp chí phần Quốc văn, dịch là “Lời ký của một người đi chơi phiếm”. Trong bài ký nhiều kỳ này, Nguyễn Bá Trác kể lại việc một lần tại Trung Hoa, ông gặp một người Việt đồng hương (Nguyên quân), hợp ý, rủ nhau đi uống rượụ. Nguyên Quân mới cất lời ca bài này, theo giọng Quảng Đông. Một người thứ ba, một võ quan Trung Hoa người Trực Lệ họ Lưu, đang uống rược gần đó, vốn có dịp biết Nguyên quân trước đây ở Tokyo (Đông Kinh nước Nhật) thấy bài ca “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái” lấy làm lạ, hỏi về bài thơ. Nguyên quân cho biết đây là một điệu đặc biệt ở phương nam (Nam phương ca khúc), mà chính Nguyên quân cũng hông rõ tác giả. Võ quan họ Lưu mới xin Nguyên quân viết bài ca ra. 

Bài thơ nguyên tác chữ Hán :

Bài thơ chữ Hán bên dưới được chép lại từ Nam Phong tạp chí, phần Hán văn, số 30, có tham khảo bản chuyển ngữ sang Hán Việt của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân.

南 方 歌 曲
丈 夫 生 不 能 披 肝 折 檻 爲 世 扶 綱 常
逍 遙 四 海 胡 爲 乎 此 鄕
回 頭 南 望 邈 無 極 兮 天 雲 一 色 徒 蒼 蒼
立 功 不 成 學 不 就 少 壯 有 幾 辰 兮 坐 視 百 年 身 世 驅 陰 陽
撫 掌 狂 歌 問 斯 世 茫 茫 天 地 安 得 知 一 知 己 兮 試 來 對 酌 祐 予 觴.
予 觴 擲 向 東 溟 水 東 溟 之 水 萬 隊 啓 狂 瀾
予 觴 擲 向 西 山 雨 西 山 之 雨 一 陣 何 汪 洋
予 觴 擲 向 北 風 去 北 風 揚 沙 走 石 飛 殊 方
予 觴 擲 向 南 天 霧,霧 中 有 人 開 口 一 飮 蘧 然 醉
天 地 宇 宙 渾 相 忘 予 不 醉 矣 予 行 予 志
男 兒 自 古 事 桑 蓬 何 必 窮 愁 泣 枌 梓 

Nam phương ca khúc (Khúc ca phương nam)
1. Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Giải nghĩa: Kẻ trượng phu khi sống không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời. Phi can 披 肝 nghĩa là xé gan, vạch gan ra cho đời biết lòng trong của mình. Hạm 檻 (bộ Mộc, 18 nét) là cây cột gỗ dùng làm rường nhà hay rường mái hiên. Chiết Hạm 折 檻 nghĩa là bẻ cột, lấy tích Chu Vân thời Hán Thành Đế dâng sớ hạch tội gian thần. Vua bắt tội, Chu Vân uất ức ghì lại gãy cả rường điện. Nhiều bản Quốc văn bài thơ này lại ghi sai thành Bẻ Cật.
2. Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Giải nghĩa: (Sao lại) rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu? 
3. Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Giải nghĩa: Quay đầu nhìn về phía nam xa xôi, mịt mù hề, bầu trời một màu xanh xanh. Chữ Thương 蒼 (bộ Thảo 14 nét) nghĩa là sắc có xanh. Thiều Chửu giảng Thương Thương (蒼 蒼) là trời xanh.
4. Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thần hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương.
Giải nghĩa: Công không lập thành được, học không xong, trai trẻ còn được bao lâu nữa hề, ngồi nhìn lại thân thế trăm năm chạy theo tháng ngày.
5 Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối hước hữu dư thương.
Giải nghĩa: Vỗ tay mà hát điên cuồng, hỏi đời rằng, đất trời mờ mịt vậy, tìm ở đâu một người tri kỷ, mà đến cùng ta rót chén rượu này. Thương 觴 (bộ Giác 18 nét) nghĩa là chén rượu đã rót đầy.
6. Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng dữ. Cuồng lạn hay cuồng lan là cơn sóng dữ. Nhiều bản Quốc văn ghi sai thành cuồng loạn.
7. Dư thương trịch hướng tây sơn vũ tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mưa núi tây, núi tây mưa một trận nước lênh láng.
8. Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy theo gió bắc, gió bắc tung cát bay đá chạy mọi phương.
9. Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng uống say.
10. Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hỉ, dư hành dư chí.
Giải nghĩa: Vũ trụ trời đất đều mất hết, sao ta không say, mà ta làm theo chí ta
11. Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử 
Giải nghĩa: Xưa nay nam nhi đều làm theo chí tang bồng, sao ta lại buồn khổ nhớ cố hương. Phần tử 枌 梓 ghép từ chữ Phần Du và Tử Ly, các loại cây chỉ quê cũ, như cây đa của làng quê Việt.

Bản Quốc Văn (Nguyễn Bá Trác dịch)

Dưới đây là nguyên văn, kể cả dấu nối và dấn chấm câu từ Nam Phong tạp chí, phần Quốc văn. Bài có chữ Xé, viết sai chánh tả thành Sé, và Thân Thế có lẽ in lầm là Thân Thể, xin giữ nguyên.

Hồ Trường

Trượng-phu không hay sé gan bẻ cột phù cương-thường;
Hà-tất tiêu-dao bốn bể, luân-lạc tha-hương.
Trời nam nghìn dậm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai-trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân-thể bóng tà-dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang-mang, ai là tri-kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ-trường! Hồ-trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông-phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng-lạn;
Rót về tây-phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa-chan;
Rót về bắc-phương, ngọn bắc-phong vì-vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam-phương, trời nam mù-mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam-nhi sự-nghiệp ở hồ-thỉ, hà-tất cùng-sầu đối cỏ cây.

Kết luận : 

Như vậy, Nguyễn Bá Trác là dịch giả chứ không phải là tác giả. Bài nguyên thuỷ chữ Hán là một bài ca đặc biệt phương nam (vùng Lĩnh Nam), không rõ tác giả. Tựa bài ca chữ Hán (Nam phương ca khúc) hay chữ Việt (Hồ Trường) đều do độc giả sau này đặt ra.
Qua bài thơ chữ Việt thấy chữ hồ trường là chữ Việt, do Nguyễn Bá Trác đặt ra. Trước ông chưa ai dùng mà sau ông cũng chưa ai dùng lại chữ này trong thi ca. Chữ Thương trong nguyên tác chữ Hán thì như đã giải thích bên trên, nghĩa là chén rượu đã rót đầy. Có người giải thích chữ mới Hồ Trường là để chỉ một loại bình rượu (một loại bầu hồ lô, phơi khô khoét ruột làm một thứ bình rượu bình dân). Nhưng tôi cho không phải thế. Các nhà Nho xưa thường giữ nguyên tác, ít khi thay đổi khi không có lý do cần thiết. Ta thường nói cạn chén rượu này hơn là cạn bình rượu này. Điểm độc đáo ở đây là từ chữ Thương 觴 (gốc Hán, cũng đọc là tràng hay trường), phát âm theo tiếng Quảng Đông là soeng) ông đã kết hợp với chữ Hồ (chữ Hồ 壺 cũng có gốc Hán, nghĩa là hồ rượu), tạo một hình ảnh lãng tử với hồ lô rượu trên vai.
Tôi có dịp nói chuyện với nhà phê bình văn học Đặng Tiến. Ông cũng đồng ý với tôi về cách hiểu chữ Hồ Trường là chén uống rượu. Ông cho biết thêm là ông có dịp nói chuyện với con cháu của Nguyễn Bá Trác, và họ cũng có cùng ý như thế. Vậy xin ghi lại như một nén hương muộn cho nhà phê bình Đặng Tiến, qua đời hơn ba tháng trước.
Tham khảo trong phần bình luận bên dưới.
Liêm
(08/2023)
Ghi chú: 
Bản Quốc văn bài thơ được chép lại theo cách viết ngày nay: chỉnh lỗi chánh tả (Xé vs sé) chỉnh lỗi đánh máy (Thân thế vs Thân thể, bản tiếng Hán ghi Bách niên thân thế khu âm dương) và bỏ đâu gạch nối (miền Nam bỏ dần từ thập niên 60s, ngoài Bắc có lẽ trước đó)

Hồ Trường

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời nam nghìn dặm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

 St trên fb Trần Bá Đại Dương

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

Phong tục và hủ tục! *



Cái nào ông bà mình đã bỏ thì nó là hủ tục!

Phân biệt rõ giữa phong tục và hủ tục:
風俗 phong tục là thói quen từ lâu.
腐俗 hủ tục là thói quen lâu đời nhưng có tánh không tiến bộ.

Thí dụ như nhìn tấm hình một ông cai tổng ở Gò Công 1920 để móng tay trái dài thòng… Tay để móng vậy thì làm sao làm việc, rồi còn mất vệ sinh, chuyện đơn giản là đi... ị... cũng bó tay!

Thành ra thời hiện đại cắt sạch móng tay, ai để móng tay dài cỡ ông cai tổng này là quái dị.

Ông bà mình xưa búi tóc, sau cũng tự cắt tóc ngắn vì tóc ngắn cơ động, sạch sẽ, nhìn nó lanh lợi hơn búi tóc củ tỏi.

Cái câu "cái râu cái tóc là gốc con người" đã lỗi thời, tóc cắt ngắn thì râu cũng phải cạo.

Ngày nay ai để tóc búi tó, móng tay dài, râu dài rậm rạp là theo hủ tục.

Có vô số hủ tục đã bị ông bà mình bỏ.

Bên Trung Quốc xưa, những nam nữ thanh niên chưa kết hôn không may chết sớm thì cha mẹ bắt buộc phải tổ chức âm hôn cho họ. Minh hôn là đám cưới giữa một người đã mất hoặc vừa mất với một người vẫn còn sống. Ngày nay họ cũng đã bỏ.

Theo hôn nhơn truyền thống ở nước ta từ xưa, tục cưới hỏi phải trải qua 6 lễ:

- Lễ nạp thái.
- Lễ vấn danh.
- Lễ nạp cát.
- Lễ nạp chánh, còn gọi là lễ nạp tệ.
- Lễ thỉnh kì, tức là lễ xin cưới.
- Lễ thân nghinh.

Còn có vụ thách cưới và trả giá…

Xưa, trong lễ nạp tệ nhà gái có quyền đòi hỏi yêu cầu nhiều thứ, từ các đồ quí về trang sức như: vòng, xuyến, hoa tai, xà tích… tới quần áo, bạc trắng, tiền giấy, gạo, lợn, rượu…

Đã gọi là “thách” thì nhà gái thường có những yêu cầu rất cao về các đồ sính lễ. Nhà trai cò kè bớt một thêm hai.

Ngày nay đã bỏ cảnh trả giá, cưới chỉ còn hai tới ba lễ kiểu rút gọn. Nhà gái nào đòi 6 lễ thì… khỏi gả con gái, đem dú ép làm mắm ăn luôn đi. 😊 

Xưa đám ma Nam Kỳ rất phức tạp. Trước khi tẩm liệm, người ta phải trét quan tài cho kỹ ở bên trong. Xưa dùng ổ mối đâm nhuyễn ra trộn với nếp nấu. Dân Nam Kỳ thì xài dầu chai là thứ hay trét ghe mà ém cho kỹ.

Đám tang nhà khá giả để rất lâu, có khi hai tuần, một tháng, thì chuyện bịt quan tài cho kín càng quan trọng. Nếu lỡ có xì hơi người chết ra ngoài rồi lúc di quan hơi nó phụt mạnh làm văng nắp quan tài gọi là bứt néo. Đám nào bị bứt néo rất khổ con cháu, vừa hôi hám dơ dáy vừa bị mang tiếng là con cháu bất hiếu, ông bà không vừa lòng nên động đậy làm hòm bứt néo.

Tuy nhiên do để quá lâu, xác phân hủy sanh ra hơi độc, hòm lại là gỗ không tốt, hoặc trét còn hỡ đâu đó nên nó xì hơi ra, có chổ bị chảy nước. Mùi hôi nồng nặc xông ra…

Gặp vậy thì chủ tang, tức nhiên là thằng trưởng nam – ở Nam Kỳ là anh hai – sẽ phải đi vòng quanh quan tài tìm cho ra cái lổ mọt xì nước đó rồi... cúi xuống lè lưỡi ra liếm lấy dòng nước đó. Và người xưa nói rằng trưởng nam liếm một cái sẽ ngừng xì nước và hết mùi hôi do lòng hiếu thảo của con cháu làm động lòng vong linh người chết nên họ ngừng xì.

"Trai trưởng nam le lưỡi rà hòm,
Gái tiểu nhi than khóc từ chòm cỏ may."

Còn câu “Gái tiểu nhi than khóc từ chòm cỏ may” là mấy cô con gái trong nhà phải rũ rượi xõa tóc lăn xuống đất khóc than khi quan tài đi qua, đầu bẹp xuống đất ngang với cây cỏ may thì mới là con gái hiếu thảo.

Hủ tục này nay cũng không còn vì quá ghê!

Sau 1874, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp nên Nam Kỳ đã theo cái mới, bỏ những những cái cũ không cần thiết.

Chúng ta xài chữ Quốc Ngữ, bỏ bớt những cái luộm thuộm kiểu Tàu xưa, thí dụ viết văn, ăn nói bỏ bớt điển tịch kiểu Tàu, bớt ông Khổng nói, ông Tử khuyên, rồi kiểu thư pháp, viết câu đối chữ Tàu treo đầy nhà cũng bỏ.

Ngày nay thấy nhiều bạn viết liễn đối treo đầy nhà, gần WC cũng treo, rồi bày bàn thờ đầy nhà nhìn cứ như cái chùa, cái cốc của bà bóng.

Rồi các bạn trẻ làm phong trào mặc áo dài xưa, miệng lảm nhảm những câu không ai hiểu.

Họ lôi hủ tục cho sống dậy trong cưới và tang.

Nhiều bạn để râu tóc dài thườn thượt quất nguyên bộ bà ba nhìn ớn da gà. Rồi lập bàn thờ tứ hướng, nhang khói mù mịt, đụng đâu lạy đó, rồi làm gì cũng bói, cũng coi ngày giờ tốt xấu.

Chuyện cần nói cứ nói ngắn gọn, đằng này không làm, bưng khay rượu trịnh trọng “thưa trình".

Đó ko phải là lễ, đó là “diễn” kiểu cải lương, kiểu hát đình hát miễu, kiểu đầu môi chót lưỡi, đạo đức giả.

Cái lễ ngày nay là sự tộn trọng nhau tối thiểu trong học thức, trong ứng xử, chứ không phải lễ kiểu màu mè, cải lương.

Đó không phải là cách sống của dân Nam Kỳ!

Theo Nguyễn Gia Việt
(Tựa do “Sài Gòn trong tim tôi” đặt lại, bài gốc không có tựa.)

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

CUỘC MẠN ĐÀM VỀ CHUYỆN HỌC SỬ XƯA VÀ NAY


      Hiện nay, môn lịch sử vẫn là một trong những vấn nạn lớn nhất trong giáo dục học đường. Bên cạnh đó, một số vấn đề lịch sử thời cận đại vẫn còn nhiều khía cạnh gây tranh cãi. Cuộc mạn đàm giữa nhà báo Song Chi, chủ bút trang Diễn Đàn thế kỷ và người điều hành trang này đã diễn ra xoay quanh chủ đề trên, xin mời các bạn theo dõi

* SONG CHI 
 Thưa anh, trưởng thành ở Miền Nam trước năm 1975, với những kinh nghiệm bản thân về nền giáo dục VNCH, anh có thể nêu lên những nhận xét, đánh giá khái quát của anh về cách dạy và học môn Sử hồi đó ở bậc tiểu học, trung học, đại học. Và xin anh so sánh với bây giờ, từ chương trình học và thi cử, thái độ tiếp thu của học sinh, yếu tố chính trị trong chương trình…?

*LÊ NGUYỄN (LN)
      Với tư cách một người được rèn luyện trong nền giáo dục miền Nam trước năm 1975, đồng thời là người quan sát thường xuyên nền giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN) từ gần 50 năm qua, tôi xin trả lời về tình trạng dạy và học môn Sử tại miền Nam trước 1975 và tại Việt Nam hiện nay.
      Có lẽ Song Chi cũng như nhiều người sẽ đồng ý với tôi rằng sự khác biệt lớn nhất giữa giáo dục lịch sử ở hai miền Nam và Bắc, vào hai thời điểm khác nhau, là yếu tố chính trị. Trong khi tại miền Nam trước 1975, hoàn toàn không có sự lồng ghép yếu tố chính trị vào chương trình dạy và học môn sử thì tại miền Bắc trước 1975, cũng như tại cả nước hiện nay, yếu tố này chiếm một tỉ lệ rất đáng kể trong chương trình giáo dục hàng năm.
      Nói đến giáo dục tại miền Nam trước 1975, gần đây người ta nhắc nhiều đến ý niệm khai phóng. Đó là điều có thật. Trong suốt thời gian theo học các bậc Tiểu học, Trung học và Đại học, các học sinh, sinh viên được tự do tiếp cận với các nền văn hóa, các trào lưu tư tưởng trên thế giới, mà không hề bị lèo lái theo một xu hướng chính trị nào. 
       Vào giữa thập niên 1960, khi cuộc chiến Nam-Bắc đã bước vào giai đoạn khốc liệt, chính quyền miền Nam vẫn để cho các sách tìm hiểu về chủ nghĩa Marx-Lénine được phát hành rộng rãi trong công chúng. Bản thân tôi từng là độc giả của những quyển sách loại này, như Tìm hiểu triết học của Karl Marx của Trần Văn Toàn (Nxb Nam Sơn, 1965), Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung (Nxb Nam Sơn, 1965), bài viết nhan đề “Cộng sản, người anh em của tôi”, của một cây bút Công giáo, in trên tạp chí Đất Nước .... Những văn hóa phẩm đó không phải là tài liệu tuyên truyền nhằm cổ động hay chống lại chủ nghĩa Marx-Lenine, mà đơn thuần là những tài liệu có tính học thuật, giúp người đọc bổ sung vào kiến thức sẵn có của mình.
      Trong khi đó, tại miền Bắc trước 1975, người dạy và người học sử bị gò ép trong một khuôn khổ chật hẹp về mặt học thuật pha lẫn các yếu tố chính trị, nhiều sự kiện lịch sử bị “uốn nắn” theo chiều hướng nhằm khêu gợi trong các tầng lớp thanh thiếu niên ở miền Bắc lòng yêu nước cuồng nhiệt, đồng thời kích động sự căm thù của họ đối với chính quyền đang tồn tại ở miền Nam. 
      Thực tế cho thấy hình thức giáo dục đó đạt được hiệu quả nhất định khi cuộc nội chiến đang tiếp diễn. Nhiều thanh thiếu niên miền Bắc đã lăn xả vào cuộc chiến với “lý tưởng” giải thoát đồng bào miền Nam “khỏi gông cùm của đế quốc Mỹ và chế độ Mỹ-ngụy”. Song sau năm 1975, khi chế độ đối nghịch không còn nữa, giang sơn đã nằm trong tay một chính quyền duy nhất, lẽ ra cách dạy và học sử cũ cần được thay đổi cho phù hợp với hiện thực của xã hội thì lại vẫn tiếp tục kéo dài, vẫn nhắc lại sự căm thù cũ, với những nhân vật hư cấu không còn tác dụng gì đối với cuộc sống đang đòi hỏi sự trung thực, sự hòa hợp của lòng người. 
     Chương trình giáo dục môn sử hiện nay không theo kịp đà phát triển của nhận thức chung trong xã hội, đặt học sinh trước ngả ba đường, trong sự mâu thuẫn và nghịch lý giữa nhiều sự thực lịch sử được truyền bá trong xã hội với những kiến thức giáo điều, lạc hậu họ được dạy dỗ ở học đường. Gần đây, học sinh năm cuối bậc trung học được dạy sử theo cách thức như để trở thành những nhà chiến lược quân sự, phải học thuộc từng chi tiết các trận đánh giữa quân đội Việt và Pháp vào cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, về quân số các bên, về ngày tháng, địa điểm xảy ra trận chiến, về thương vong của cả hai bên ... Những con số khô khan làm lùng bùng những cái đầu thơ trẻ đã dẫn đến tình trạng chán ngán chung của học sinh đối với môn sử, hậu quả là khi môn thi Sử trở thành môn nhiệm ý thì có trường thi chỉ có mỗi một thí sinh thi môn này...
     Hiện tượng đáng buồn đó đã không được các nhà giáo dục lưu tâm, có lúc còn chủ trương đưa môn Sử thành môn tự chọn, hạ thấp tính cần thiết và tầm quan trọng của một môn học mà hầu hết các nước trên thế giới luôn quan tâm rèn luyện cho thanh thiếu niên nước họ. 
     Những yếu tố trình bày trên đã góp phần giải thích cho tình trạng chán học môn lịch sử hiện nay.
    
*SONG CHI 
 Trước 1975, và cho đến gần đây, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu và giáo dục XHCN, chế độ phong kiến là thối nát, nhà Nguyễn ươn hèn, bạc nhược, vua Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà…” v.v…bỏ qua tất cả công lao mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước của nhà Nguyễn. Và còn nhiều nhân vật, sự kiện khác nữa cũng bị đánh giá cực đoan và thiếu khách quan như vậy. Thưa anh nghĩ gì về điều này?

*LN - 
      Trong suốt những thập niên 1960, 1970,  có lẽ môn học lịch sử tại miền Bắc đã dựa vào những nét cơ bản được xác định trong các tài liệu chính thống do nhà nước ban hành, tiêu biểu là bộ “Lịch sử Việt Nam”  do Ủy Ban Khoa học- Xã hội Việt Nam soạn thảo, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành tại Hà Nội năm 1971, trong đó, những dòng trích dưới đây có thể được xem là tuyên ngôn về triều Nguyễn: 
“Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài. Gia Long lên làm vua lập nên triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân ... Triều Nguyễn là vương triều tối phản động ...Bản chất cực kỳ phản động của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố, trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và những người thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em... "Chính quyển nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc….” (hết trích).
      Trong cuộc chiến kéo dài vào những năm 1954 -1975, có thể các nhà sử học XHCN thời ấy xem chính quyền miền Nam từng đặt dưới quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, của Thủ tướng Ngô Đình Diệm, cựu Thượng thư Bộ Lại triều Nguyễn, là sự kế thừa của vương triều Nguyễn, đả phá, lên án triều Nguyễn là cách chống lại chế độ kế thừa đang tồn tại ở miền Nam.
      Có thể đưa ra một nguyên nhân khác nữa: những người thực hiện cuộc cách mạng tại miền Bắc tự coi phong trào nổi dậy của mình từ đầu thập niên 1930 là hiện thân, là sự tiếp nối của phong trào Tây Sơn, vốn là tổ chức quân sự không đội trời chung với nhà Nguyễn.
     Thực tế cho thấy, quan điểm chính thức về nhà Nguyễn thể hiện trong bộ sách lịch sử phát hành tại miền Bắc vào đầu thập niên 1970 và các sách giáo khoa lịch sử được biên soạn trên tinh thần đó đã dẫn đến những hệ quả đáng tiếc trong nhận thức của giới học sinh, sinh viên và công chúng tiếp cận với lịch sử nhà Nguyễn. Bản thân tôi từng nghe hậu duệ của một vị đại thần triều Nguyễn, giữa chỗ đông người, đã gọi vua Tự Đức là “thằng”; mặt khác, nhiều độc giả hẳn biết chuyện một cận thần cũ của vua Bảo Đại viết sách về triều Nguyễn đã đơm đặt điều này, điều nọ, bêu xấu triều Nguyễn một cách hèn hạ như thế nào để lấy lòng chủ mới ….   
     Để củng cố cho chủ trương xem nhà Nguyễn là thế lực “thối nát, tối phản động”, người ta đã viện dẫn nhiều luận cứ, trong đó nổi bật là hai khái niệm “bế quan tỏa cảng” và “cõng rắn cắn gà nhà”. Chuyện bế quan tỏa cảng vẫn còn có nhiều điều cần được làm rõ, riêng chuyện “cõng rắn cắn gà nhà” chứng tỏ một hình thức “nói lấy được”. Người ta khoác tội cõng rắn cho chúa Nguyễn Ánh dựa vào hai sự kiện:
1) Việc chúa Nguyễn sử dụng dưới trướng của ông khoảng một chục cựu sĩ quan, chuyên viên người Pháp hoạt động độc lập, không dính líu gì với chính quyền Pháp và không hề giao cho họ một chức vụ quan trọng nào trong bộ máy chính trị và quân sự của ông. Đến thập niên 1800, sau khi chúa Nguyễn thống nhất giang sơn, phần lớn số người này đã rời Việt Nam, trở về nước.
2) Việc Nguyễn Ánh tiếp nhận hai vạn quân Xiêm tăng cường trong đạo quân còn suy yếu của ông, đặt lực lượng ngoại viện này dưới sự chỉ huy thống nhất của tướng Việt Châu Văn Tiếp. Đây là kết quả sự thỏa thuận của vua Xiêm và chúa Nguyễn, căn cứ vào sự cam kết “hoạn nạn thì cứu nhau” giữa đại thần Nguyễn Hữu Thụy (Thoại), đại diện chính quyền nhà Nguyễn và đại diện chính quyền Xiêm La vào năm 1783 (Đại Nam thực lục – Tập 1 – NXB Giáo Dục 2002, trang 221).
      Không thể có cái gọi là “cõng rắn cắn gà nhà” với một nhúm ngoại binh một hai chục người, cũng không thể gọi một lưc lượng ngoại viện là xâm lăng, khi người đứng đầu hai chính quyền Việt và Xiêm thỏa thuận hỗ trợ lẫn nhau khi hoạn nạn.
       Có lúc, để ý nghĩa của sự lên án nhà Nguyễn “cõng rắn cắn gà nhà” được trọn vẹn hơn, người ta đã liên kết sự hiện diện của nhúm người Pháp trên (vào cuối thế kỷ 19) với việc quân Pháp đánh chiếm Gia Định vào thập niên 1860, mà không hề lý tới việc người Pháp cuối cùng trong số trên đã rời hẳn Việt Nam từ năm 1824, và trong suốt 36 năm sau đó, không hề có người Pháp nào trong triều đình Huế cả.
     Với việc triều đình Huế để mất dần đất nước vào tay thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ 19, người ta lấy thắng lợi của các phong trào giải phóng dân tộc vào thế kỷ 20, với sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất của các phong trào quốc tế, làm chuẩn mực để lên án nhà Nguyễn, mà không hề lý tới việc có sự cách biệt quá lớn về vũ khí, kỹ thuật quân sự giữa một đế quốc sừng sõ phương Tây (Pháp) và một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị cô lập về mọi mặt ở phương Đông như Việt Nam. Khi lên án nhà Nguyễn để mất nước, họ cũng vô tình hay cố ý quên rằng, không riêng gì Việt Nam, Lào và Campuchia ở Đông Nam Á, nhiều nước ở Bắc Phi như Algérie, Tunisie, Maroc..., ở Tây Phi như Sénégal, Bali, Côte d’Ivoire… cũng từng là mồi ngon của đế quốc Pháp, nhiều nước như Ấn Độ, Miến Điện, Singapore, Malacca ...cũng từng là nạn nhân của đế quốc Anh.
    Khuynh hướng chung của giới sử học XHCN những thập niên 1960-1970 là lấy hiện tại làm chuẩn mực để phê phán quá khứ, tạo ra những khuôn mẫu nhất định, theo một định hướng nhất định và nhào nặn mọi yếu tố lịch sử vào trong những khuôn mẫu đó, theo những định hướng đó.
     Chính trong chiều hướng đánh giá lịch sử theo một khuôn mẫu nhất định này mà có một thời gian dài, những mặt tích cực của vua chúa nhà Nguyễn trong việc mở mang bờ cõi, phát triển xã hội, giao dịch với các lân bang (Lào, Chân Lạp, Xiêm la, Miến Điện ...) trên thế mạnh, đã không hề được nói đến.

* SONG CHI
Cuộc“Tọa đàm về các chúa Nguyễn – Những dấu ấn lịch sử và văn hoá trên vùng đất Phương Nam” với sự tham dự của các diễn giả, trong đó anh đảm nhận phần nói về Nguyễn Ánh–Tây Sơn và phần nhà Nguyễn–Pháp, do Hội đồng Nguyễn Phước tộc tổ chức gần đây và quay video đưa lên YouTube, phải nói rất thú vị, bổ ích. Thưa anh những cuộc tọa đàm “nói lại cho rõ” như vậy có hay được các tổ chức, nhóm tư nhân thực hiện không, hiệu quả tới đâu? Còn về phía nhà nước, cho tới nay quan điểm “chính thống” về nhà Nguyễn, các nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký) v.v…có chút gì thay đổi không thưa anh?

* LN 
       Theo những gì đả xảy ra cách nay gần nửa thế kỷ, chúng ta thấy rằng cái nhìn cực đoan về lịch sử đã được thể hiện ngay từ sau ngày 30.4.1975, khi người ta gỡ bỏ hết các bảng tên đường mang danh các công thần triều Nguyễn như Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu ...., xóa bỏ tên các trường học kỳ cựu nhất của Sài Gòn và một số tỉnh như Petrus Ký, Gia Long, Phan Thanh Giản, Võ Tánh …
      Đề cập đến các buổi tọa đàm “nói lại cho rõ”, ít ai quên được cuộc hội thảo quy mô về nhà Nguyễn do những người có trách nhiệm cao nhất tại Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ở Thanh Hóa vào năm 2008. Cuộc hội thảo thổi một luồng gió mới vào không khí ngột ngạt vẫn còn bao trùm lãnh vực nghiên cứu, dạy và học môn lịch sử, song không lâu sau đó, những người tổ chức cuộc hội thảo, trong đó có nhà sử học Phan Huy Lê, đã hứng chịu không ít búa rìu tới tấp của những người còn chủ trương bảo tồn các định kiến cũ. Chính những điều đáng tiếc như thế đã khiến những ai có tâm huyết với lịch sử chùn bước, tìm cách thể hiện quan điểm của mình dưới những hình thức âm thầm hơn, “tế nhị” hơn.
      Gần đây, có những dấu hiệu cho thấy cái nhìn đối với lịch sử thời nhà Nguyễn của các cơ quan, giới chức có trách nhiệm về văn hóa-lịch sử đã có cởi mở hơn, công tâm hơn, chẳng hạn vào năm 2019, bản dịch tác phẩm The Tây Sơn uprising (Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn) của George Dutton, giáo sư sử học trường UCLA (Đại học Los Angeles, Mỹ), đã được phép phát hành nhằm phổ biến khối tư liệu phong phú và nhiều quan điểm khách quan về nhà Tây Sơn trong giai đoạn diễn ra cuộc nội chiến những năm 1771-1802. Bản dịch tác phẩm được in đến lần thứ ba chỉ trong vòng 2 tháng cho thấy sự hưởng ứng nồng nhiệt của công chúng yêu lịch sử, đồng thời phản ánh tính cởi mở trong quan điểm của các giới chức có trách nhiệm về văn hóa-lịch sử.       
      Tất nhiên, sự cởi mở, phóng khoáng như vừa kể trên chưa thể gọi là đầy đủ, thỏa đáng, trong một môi trường học thuật đòi hỏi sự cải tiến về nhận thức, sự xác định lại những giá trị chưa được công nhận trong một thời gian dài. Những con đường mang tên các công thần triều Nguyễn chưa được phục hồi tên cũ như là dấu hiệu của sự sửa sai, nhìn nhận lại lịch sử, việc dạy và học môn lịch sử vẫn chưa có sự thay đổi nào đáng kể, vẫn là những kiến thức đã được định hình từ cách nay 5-7 mươi năm, khiến người học thường bị hụt hẩng khi so chiếu những hiểu biết của họ tại học đường và những gì họ tiếp thu được trong đời sống, qua mạng xã hội, qua sách báo phát hành trong thời gian gần đây.
      Dù sao, những chuyển biến về nhận thức các vấn đề lịch sử trong xã hội ngày nay đang có chiều hướng đi lên, dẫu có chậm, điều này cho phép chúng ta hi vọng vào những thay đổi, chuyển biến sâu sắc hơn, thực chất hơn, trong tương lai

* SONG CHI 
Về nhà Tây Sơn, sự đánh giá dưới chế độ VNCH và chế độ XHCN hiện nay rất khác nhau. Anh nhận thấy nội dung sự đánh giá của hai thời kỳ trước (tại miền Nam) và sau 1975 khác nhau như thế nào, quan điểm riêng của anh ra sao về vấn đề này?

*LN 
       Ở miền Nam trước 1975, sự đánh giá về nhà Tây Sơn gần như hoàn toàn dựa vào tính khách quan của lịch sử, song các hiểu biết về phong trào này từ giữa thập niên 1965 trở về trước vẫn còn khá phiến diện và thiếu sót. Phải chờ đến năm 1966, với sự ra đời của tập san Sử Địa do một số nhà nghiên cứu và sinh viên khoa Sử trường Đại học sư phạm Sài Gòn thực hiện, và sự xuất hiện của tác phẩm “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802” của Tạ Chí Đại Trường (1973) thì phong trào Tây Sơn mới được đánh giá đầy đủ và có thực chất hơn.
     Ở miền Bắc, từ thập niên 1970 trở về trước, sự nhận định và đánh giá về nhà Tây Sơn, chủ yếu dựa vào hai yếu tố cốt lõi:
- Tây Sơn là phong trào nông dân nổi lên đánh đổ nhà Nguyễn thối nát, chủ trương mang lại cơm no áo ấm cho dân nghèo
- Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn là hai thực thể hoàn toàn đối nghịch nhau, một bên tượng trưng cho tinh thần quật khởi, cho cách mạng xã hội, một bên là vương quyền thối nát, phản động, đầy rẫy áp bức, bất công, cần được loại bỏ nhanh chóng.
      Ngày nay, với những tư liệu và chứng lý mới, giới học thuật phủ nhận tính chất nông dân của phong trào Tây Sơn, vì tổ chức này thiếu hẳn 3 yếu tố cốt lõi của một phong trào nông dân:
1) Không được khởi xướng bởi người nông dân, chỉ là việc thực hiện tham vọng giành chính quyền trong tay nhà Nguyễn của anh em nhà Tây Sơn, vốn chẳng phải là nông dân.
2) Trong việc khởi phát cuộc nổi dậy và suốt cuộc nội chiến, không có bóng dáng người đại biểu nông dân nào trong bộ máy lãnh đạo của phong trào Tây Sơn.
3) Mục tiêu tối hậu và duy nhất của phong trào Tây Sơn là giành lấy chính quyền, không nhằm vào việc cải thiện đời sống của người nông dân. Dưới thời Tây Sơn, người nông dân vẫn bị áp bức, bị bóc lột sức lao động, đời sống vẫn nghèo đói, cơ cực, không khác chi dưới thời Lê-Trịnh hay thời các chúa Nguyễn, thậm chí có thời điểm còn tệ hại hơn. 
Về điều này, giáo sư sử học người Mỹ George Dutton, tác giả quyền “The Tây Sơn uprising” (Cuộc nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn) đã phân tích khá tinh tế như sau:
“Người nông dân thời kỳ Tây Sơn là những kẻ lót đường cho quân đội, là đối tượng của sự lao dịch, là nguồn tiếp tế và nguồn lợi tức cho phong trào. Những người đàn ông và đàn bà đó có thể nuôi ước vọng về một cuộc sống tốt hơn, điều này phản ánh trong sự ủng hộ đầy vẻ lạc quan của họ khi nhìn thấy những biểu hiện sớm sủa của cuộc nổi dậy, song những ước vọng đó sớm nhường chỗ cho một thực tế đầy thất vọng và theo những chứng cứ khả dĩ nhất, ít có người nông dân nào nhìn thấy một sự cải tiến đáng kể trong đời sống của họ phát xuất từ hành động của nhà Tây Sơn” (George Dutton, The Tây Sơn Uprising, University of Hawai’i Press, Honolulu, 2006, tr. 121-122, LN dịch)
      Nói tóm lại, chúng ta nêu lên những mặt tích cực và tiêu cực của nhà Tây Sơn không phải nhằm đánh đổ “thần tượng”, vì họ chưa bao giờ có thể là thần tượng, mà chỉ nhằm trả họ về với thực chất của họ, với những mặt mạnh, mặt yếu, những cái xấu, cái tốt hiển hiện của phong trào do họ khởi xướng. Tìm mọi cách triệt hạ họ hay tôn xưng họ như thần thánh đều mang tính cực đoan và xa rời với thực tế lịch sử.

*SONG CHI 
 Có phải vì nỗi niềm ưu tư khi thấy lịch sử được viết, được dạy một cách không trung thực mà anh trở thành nhà nghiên cứu lịch sử độc lập, rất khác với ngành nghề anh đã học tại Học viện Hành chánh trước kia, hay còn vì lý do gì khác?

 *LN
         Trong mỗi con người đều có lòng yêu mến cội nguồn nơi mình sinh ra, và dù sống trong hoàn cảnh nào cũng không thể quên đi cội nguồn đó. Trong thời gian đảm nhiệm công việc của một viên chức hành chánh trước năm 1975, tôi có cơ duyên tiếp cận được nhiều tư liệu do người Pháp để lại khi họ rút khỏi Việt Nam, và qua đó, mình thu thập được nhiều kiến thức hữu ích về lịch sử cận đại của nước nhà. 
     Mặt khác, sự khác biệt, thậm chí đối nghịch giữa những gì mình hiểu biết qua sách vở, tài liệu, với những gì mà lịch sử “hiện đại” vạch ra cũng trở thành một thách thức thú vị để mình có dịp nói lên quan điểm và những hiểu biết cá nhân, nhằm giúp cho môi trường sử học ngày càng trong sáng, nhân bản hơn, các sự kiện và nhân vật lịch sử được đánh giá khách quan và công tâm hơn….
     Tất nhiên, đó chỉ là mong ước, còn việc mình làm được đến đâu, có hiệu quả như thế nào, thì lại là chuyện khác!

*SONG CHI 
Một câu hỏi cuối cùng, Anh có những mong muốn, đề xuất gì về việc viết sách Sử cũng như dạy và học Sử hiện tại?

*LN 
     Theo tôi, trong nền giáo dục hiện tại, cần trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức lịch sử theo ít nhất 3 tiêu chí: khách quan, trung thực và công bằng. Thiếu những yếu tố cốt lõi đó, lịch sử chỉ là những câu chuyện đùa, những dối lừa, gạt gẫm, khiến giới trẻ mất đi khả năng nhận thức đúng đắn nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử khác nhau.
- Cách dạy và học môn lịch sử hiện nay cần được thay đổi sâu sắc trên tinh thần phi chính trị hóa, bỏ đi những bài học xơ cứng, giáo điều, nêu bật những công lao to lớn của tiền nhân, giúp giới trẻ biết nhận thức, trân trọng và yêu quý những di sản do tiền nhân đã tạo ra bằng mồ hôi, máu và nước mắt. Các cuộc nội chiến, dù là ở thời nào, cũng cần được nhắc lại với thái độ nhân văn, trong tinh thần hòa hợp dân tộc, giảm đến mức tối thiểu tính kích động, chia rẽ và hận thù. Có như thế, sách giáo khoa lịch sử mới góp phần sản sinh ra những thế hệ người Việt sống có đạo lý, biết hòa hợp với nhau trong tinh thần dân tộc, biết yêu quý và bảo tồn di sản do tiền nhân để lại.
- Trong trường học, cần nâng cao hơn nữa trình độ về ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên, cụ thể là Hán ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ.., giúp họ có điều kiện tiếp cận với các nguồn sử liệu về Việt Nam viết bằng ngoại ngữ. Hiện nay, chỉ riêng trang Gallica của Tổng thư viện Pháp đã chứa hàng ngàn tài liệu khác nhau về lịch sử Việt Nam các thế kỷ 17,18, 19, 20,  người có vốn Pháp ngữ tương đối có thể khai thác nhiều nguồn sử liệu có giá trị.
      Gần đây, các công ty sách, các nhà xuất bản đã làm khá tốt việc dịch và phổ biến cho công chúng hàng chục tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của Paul Doumer, Silvestre, Philastre, Hocquart, L. Pallu …
      Mặt khác, các sinh viên tốt nghiệp ban Hán-Nôm bậc đại học cần được tạo điều kiện tiếp cận với kho sách cổ bằng tiếng Hán-Nôm, đặc biệt là khối lượng đồ sộ các châu bản triều Nguyễn, để nghiên cứu, dịch thuật, phục vụ cho cộng đồng …

Lê Nguyễn thuật lại
19.8.2023

https://www.diendantheky.net/2023/08/nhung-van-e-quanh-viec-day-va-hoc-su.html

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

Một số nhân vật lịch sử yêu nước chống Pháp nhưng không đứng chung phe Cộng Sản Việt Nam nên bị bắt, bỏ tù, giết, thủ tiêu, truy đuổi... từ trước "Cách Mạng Tháng 8/ 1945" đến bây giờ.
Hình Đường Hồ Văn Ngà (SG trước 4/1975) - Không tìm ra chân dung. Hình Ông Bùi Quang Chiêu (Sg trước 1975 có tên đường BQC)
1. HỒ VĂN NGÀ
Trong một đoạn văn NHỚ HỒ VĂN NGÀ, Vương Hồng Sển kể:
‘Hồ Văn Ngà da ngăm ngăm đen, mặt xương mắt sáng, miệng rộng, có cái cười rất cởi mở. Nhà nghèo, Ngà rất chăm học, giờ chơi luôn luôn ở lại lớp, tay cầm cục phấn, học riêng không cần thầy. Ngà có hoa tay, viết được cả tay trái, và khi vẽ vòng tròn trên bảng, Ngà cầm phấn quay một vòng tròn hơn vẽ có công-pa tức cái qui. Tuy nghèo mà rất gan dạ, chuyện gì dầu trái, như bỏ trường, cắt nghĩa Ngà nghe phải tai thì hưởng ứng mà theo, bất chấp hậu quả... Cho đến năm đệ tam, Ngà học ngang lớp với tôi. Tôi hơn Ngà môn thể dục và môn tập đọc nhạc phổ (solfège) nhưng chỉ hơn trong hai năm đầu, đến năm thứ ba, Ngà giựt luôn quán quân hai giải này, bỏ tôi xa lắc. Ngà thấy tôi yếu về khoa học và toán, Ngà cố tình chỉ bảo đủ mọi cách, nhưng tôi vẫn hoàn tôi. Nhớ lại năm 1921, vô học đệ nhị mà không sao yên thân. Lão Thomas cho ăn cực quá, nuốt không vô... thêm có nhiều lý do khác, khiến chúng tôi, nhóm học trò khu bản xứ, từ đệ tứ đến đệ nhứt, đồng lòng thừa dịp chiều thứ năm thầy dắt ra dạo chơi ngoài phố (promenade) rồi bỏ luôn không trờ về trường, phản đối tổng giám thị Thomas bất công nhiều nỗi. Ngày sau là ngày thứ sáu, định kéo lên thống đốc nạp đơn kêu nài, nhưng lính đến giải tán . . nhưng cuộc làm reo (grève) bãi học nầy, lần hồi đưa vào thất bại. Chúng tôi không có dự bị, vấn đề ăn và chỗ ở làm cho luống cuống. Đêm đầu có tiền đi xem ciné rồi ăn mì thế cơm. Ngủ thì chen nhau nằm sắp chồng sắp lớp trong một phòng trọ tối tăm. Mấy hôm sau, cạn tiền phải sống bằng viện trợ, đúng hơn là tiền bố thí của mấy thầy hãng tư, kẻ mươi đồng, người hảo tâm hơn cả là năm mươi đồng, làm sao đủ cho hơn hai trăm đứa nheo nhóc phần đói, phần được thơ cha mẹ tuân lời đốc học khuyên răn làm mất hết tinh thần. Chưa đưọc một tuần lễ, tôi được thơ bảo đảm của Ba tôi từ Sóc Trăng gởi lên trong ấy có kèm một bưu phiếu mười đồng bạc, phải vô trường nhờ thầy Dực trên văn phòng lãnh hộ mới xong. Lúc ấy tôi chỉ ăn một ổ bánh mì bốn xu trừ cơm mỗi ngày và đã hai hôm như vậy nên xót ruột quá... Hôm sau trình diện để lãnh tiền, tôi mục kích một cảnh đáng thương tâm và cũng đáng kể lại đây. Hôm đó tại văn phòng, tôi thấy Ngà bị nghiêm thân từ Tân An bắt trói hai tay dẫn ra mắt đốc học Limandoux. Giữa ông Tây quan năm nhà binh và một ông già cổ học Đông Phương, có ông giáo Dực đứng làm thông ngôn. Ngà hai tay bị trói bằng dây luột đứng sát vách. Tôi, với một bộ đồ bà ba nhục nhục cả tuần chưa thay, đứng bên Ngà, vô tình trở nên một nhân chứng bất đắc dĩ.

- Con của ông, Limandoux nói, đã không nghe lời chỉ bảo và ngổ nghịch bỏ trường ra theo bọn mất dạy, ông là cha, lỗi ấy về ông.

 - Thưa quan đốc học, thân phụ của Ngà nói, quan đốc nói như vậy, tôi dân quê dốt nát xin đỡ lời. Ngà, lúc còn ở nhà tôi, rất ngoan, tôi nói gì, Ngà nghe nấy. Lúc ấy, ‘tử bất giáo, phụ chi quá’, quan đốc trách tôi là phải. Nhưng lúc đó, Ngà biết nghe lời cha mẹ. Chỉ từ khi lên đây ăn học ở trong trường và được quan đốc dạy dỗ, từ ấy Ngà trở nên ngỗ nghịch. Hễ ‘giáo bất nghiêm, sư chi đọa’ thưa quan đốc, vậy lỗi ấy về ai?

 Ông Limandoux nghe ông giáo Dực dịch xong, lật đật đứng dậy xin lỗi, bắt tay ông già nhà quê, mà rằng: ‘Con ông học rất giỏi, đứng đầu trong lớp. Tôi không nỡ đuổi mấy đứa như vậy. Lời ông nói rất chí lý. Nay ông bảo Ngà vô học lại’. Nhưng Ngà khoanh tay cung kính đáp bằng tiếng Pháp:

- Thưa ông Đốc, tôi không thể vô học một mình. Nếu ông ép tôi cũng nhảy rào trở ra. Chừng nào ông tha tội tất cả anh em chúng tôi, thì tôi mới chịu vâng lời.

 Ngà mất học bổng ...

 Hồ Văn Ngà quê ở Cần Đước, - trên Quốc Lộ 50, Saigon/ Gò Công, gần cầu Mỹ Lợi, xưa là "bắc" Cầu Nổi, sinh năm 1902 - tuổi con cọp -  Ông học trường Chasseloup Laubat, giỏi tất cả các môn. Năm 1925, ông đậu tú tài, được học bổng, du học Pháp. Thi vô mấy trường đại học ở Paris bây giờ khó lắm, phải học sinh xuất sắc mới hy vọng. Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường đang học toán cả. Hồ Văn Ngà cũng thi vô đại học toán. Sắp tốt nghiệp thì Hồ Văn Ngà bị đuổi.

Lúc bấy giờ ông đang làm Hội Trưởng "Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương" tại Pháp, tổ chức cuộc biểu tình trước điện Élysée, dinh tổng thống Pháp để chống lại vụ xử tử đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí.

Cuộc biểu tình bị đàn áp thẳng tay. Thay vì đưa tòa án thì bọn Tây bí mật trục xuất những sinh viên chúng cho là "bất trị" về Việt Nam.

Những người bị trục xuất gồm có:

     1- Lê Bá Cang.
      2- Phan Văn Chánh.
      3- Trần Văn Chiêu.
      4- Trần Văn Đởm.
      5- Trương Duy Đạm.
      6- Trần Văn Giàu.
      7- Ngô Quang Huy.
      8- Đặng Bá Lân.
      9-Vũ Liên.
      10- Hồ Văn Ngà.
      11- Đặng Tấn Phát.
      12- Trịnh Văn Phú.
      13- Huỳnh Văn Phương.
      14- Trương Duy Tam.
      15- Nguyễn Văn Tạo.
      16- Nguyễn Văn Tân.
      17- Trần Văn Tự.
      18- Lê Thiết Tự.
      19- Tạ Thu Thâu.

         Về nước, ôn dạy học ở tư thục Lê Bá Cang, vẫn bí mật hoạt động. Khi chính quyền Pháp sụp đổ, ông thành lập "Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng", thường tổ chức diễn thuyết, để kêu gọi lòng yêu nước của dân chúng, ược mọi người, dù trí thức hay bình dân tham gia rất đông. BS Trần Ngươn Phiêu viết trong hồi ký: "người viết bài đã có những phút vô cùng cãm động khi nghe ông Ngà đọc diễn văn nhân cuộc tập hợp lớn, ngày 18-3-1945, mừng nước nhà được thoát ách thực dân Pháp, tổ chức ở Vườn Ông Thượng (lúc ấy còn gọi là vườn Bồ Rô).

Cũng năm 1945, Hồ Văn Ngà cùng Huỳnh Giáo Chủ, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch và 7 tổ chức khác kết hợp thành "Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt" chống Pháp giành độc lập.
    
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nguyễn Văn Sâm được Triều đình Huế cử làm Khâm sai Nam bộ, nhưng vì chưa về Saigon kịp nên 5 ngày sau, ngày 19 tháng 8, Hồ Văn Ngà làm quyền Khâm sai cho đến ngày 22 tháng 8 thì Khâm sai Nguyễn Văn Sâm mới về đến Saigon.
 
 Hồ Văn Ngà bị giết (trích):

 "Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp đã tái chiếm được Saigon. Kháng chiến Nam bộ chia ra làm hai cánh. Nhóm Đệ Tứ rút về miền Đông. Nhóm Quốc Gia đi về hướng miền Tây.

Ngày 8-10-45, ở mặt trận miền Đông, Việt minh trở mặt bất ngờ bắt và thanh toán những người khác chánh kiến trong đó đặc biệt người Đệ Tứ bị giết thê thảm (tất cả đảng viên nòng cốt Đệ Tứ đều bị chôn sống ở sông Lòng Sông – Bình Thuận – gồm có Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số, Phan Văn Hóa, Trần Văn Sĩ, Nguyễn Văn Soái, Nguyễn Văn Tiền...), Nguyễn Long Thanh Nam đánh giá những người này là ‘lãnh tụ xuất chúng về tài ba, đã nổi bật như những ngôi sao sáng của sinh hoạt chính trị tranh đấu miền Nam trong thập niên 30, 40.’

Đầu tháng 10 năm 1945, quân Pháp tìm cách xua quân tấn công ra ngoại ô để khai thông đường tiếp tế lúa gạo từ miền Tây.

Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Lâm Ngọc Đường đang lui cui lập ủy ban phong tỏa Saigon - Chợlớn để chận bước tiến của quân Pháp thì Nguyễn Văn Trấn, lúc đó bề ngoài tự xưng là Giám đốc Quốc gia Tự-vệ-cuộc, nhưng phần hành là trưởng đoàn ám sát của Việt minh, tuân lệnh của Trần Văn Giàu đem thuộc hạ bám sát Hồ Văn Ngà. Hồ Văn Ngà bị bắt trong nhà của ông Nguyễn Bá Tường lúc ban đêm.

Hồ Văn Ngà có lúc bị nhốt chung với tướng Cao Đài Trần Quang Vinh. Người sau này chạy thoát được. Sau này, ngày 13-6-1946 tại Thái Lan, Trần Văn Giàu có thú nhận với Trịnh Hưng Ngẫu rằng hắn đã có giết tới 2500 ngưới quốc gia trong thời đó.

Nguyễn Long Thành Nam viết: ‘Trường hợp Hồ Văn Ngà xảy ra như sau:

Ông Hồ Văn Ngà là lãnh tụ cầm đầu đảng Việt Nam Quốc Gia Độc Lập đã nhiều lần tuyên dơng ý chí: ‘sẳn sàng phục vụ bất cứ ai có tài cứu nước, nhưng chính ông lại là nạn nhân của Việt Minh. Ông bị công an Việt Minh bắt trong lúc cùng với Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân thành lập ủy ban Phong tỏa Đô thành Saigon-Chợlớn. Ủy ban này ra đời để ngăn chặn bước tiến của quân đội Pháp, trong khi các cán bộ Cộng Sản trong Lâm ủy Hành chánh Nam bộ đã bỏ chạy. Ủy ban đặt văn phòng tại nhà ông Nguyễn Bá Tường, và thực hiện công tác phong tỏa Đô thành khá hiệu lực. Nửa đêm khi ông Hồ Văn Ngà đang ngủ, công an Việt Minh tới bắt, không nêu lý do, tội phạm chi cả.
          
Theo Trịnh Văn Thanh thì Hồ Văn Ngà bị giết vào cuối năm 1946. cái ngày mất của Hồ Văn Ngà có quan hệ đối với trách nhiệm của Trần Văn Giàu vì khoảng thời gian đó Trần Văn Giàu (người Nam) đã bị Hồ Chí Minh gọi ra Hà nội và giữ lại luôn. Đảng CS đưa Nguyễn Bình (người bắc) từ Bắc vào thay thế. Chắc chắn cái quyết định bắt và giam Hồ Văn Ngà là của Trần Văn Giàu giao cho thủ hạ Nguyễn Văn Trấn thi hành.

Hồ Văn Ngà bị đưa đi biệt giam tại Cà mau rồi đem đi giết tại hòn Đá bạc. Một bữa trưa, một cai ngục vốn là người học trò cũ có cho Hố Văn Ngà hay rằng tối nay chúng được lệnh giết ông và yêu cầu ông thầy chạy. Nhưng ông thầy này không chạy.
          
Theo Hứa Hoành, Hồ Văn Ngà bị đâm chết vào ban đêm và thi hài bị thả trôi sng. Trước khi chết, Hồ Văn Ngà có nói ‘Các anh giết tôi thì giết, nhưng đừng nói... tôi là Việt gian!.’

Tại sao không giết liền mà giết nguội?

Có ba lý do song song.

Cái lý do thứ nhứt là vì Hồ Văn Ngà là một lãnh tụ quốc gia có uy tín nhứt lúc bấy giờ, ông có thể có một giá trị lợi dụng. Chừng nào chắc chắn không thể lợi dụng được thì hạ thủ đâu có muộn.

Cái lý do thứ hai theo ông Nguyễn Long Thành Nam là ‘Ngà bị giết vì một lòng tin tưởng rằng mình là bạn của Trần Văn Giàu, không bao giờ Giàu hại mình. Hồ Văn Ngà bị giam chung với Vũ Tam Anh, Trần Quang Vinh ở Cà Mau, hai ông Vinh, Anh vượt thoát nhờ kế hoạch phá khám của Nguyễn Thành Phương (Cao Đài). Có thể Nguyễn Long Thanh Nam ngụ ý rằng Hồ Văn Ngà có nhiều cơ hội vượt ngục nhưng chỉ chờ Trần Văn Giàu thả ra đàng hoàng chớ không chịu trốn.

Cái lý do thứ ba là tại ông có một người em ruột đang theo Việt minh, không phải làm lính gác cổng mà là Ủy viên của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh. Người em út này tên là Hồ Văn Hoa (Chín Huê), bác sĩ y khoa tốt nghiệp tại Hà nội. Nếu Chín Huê tìm cách cứu anh và quậy tùm lum thì Hồ Văn Ngà có thể được thả ra, nhưng Chín Huê sẽ bị coi là thành phần không trung kiên và sẽ không được xài. Đàng này sau cả năm mà Chín Huê không có can thiệp gì cả đủ để chứng minh ‘trí thức đầu hàng giai cấp’ của mình rồi thì Việt minh đâu còn e ngại gì nữa mà không giết êm người tù.

Trong lúc Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch đem Thanh niên Tiền phong giao cho Việt minh để lập công lớn phá vỡ Mặt trận Quốc gia Thống nhất, nhưng sau này không được xài vì bị đánh giá là thành phần chao đảo, BS Hồ Văn Hoa thì một lòng một dạ giữ kín cái miệng, không có than phiền việc đảng giết anh Tư của mình, và vẫn hăng hái công tác đảng, thường xuyên gặp mặt Nguyễn Văn Trấn. Nguyễn Văn Trấn tự khoe:

‘Ủy ban kháng chiến hành chánh đặt ở chỗ trạng sư Nguyễn Thành Vĩnh, bây giờ họp hành rôm rả với những: Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Trần Bảo Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Hướng, Trần văn Nguyên, Đặng Minh Trứ, Nguyễn Phú Hữu, Tạ Nhứt Tứ, Tạ Như Khuê, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Chi, Hoàng Nghiệp, Đặng Văn Tốt, Nguyễn Văn Ấm, Nguyễn Văn Hoa, Hồ Văn Huê... và Phạm Thiều, với tôi’.

Chín Huê sau này được tưởng thưởng, cho làm những nhiệm vụ tin cẩn. Có lúc làm y sĩ riêng của Hồ Chí Minh, có lúc làm Đại tá Cục trưởng Cục quân y Việt cộng, có lúc làm Thứ trưởng Bộ Y tế của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt nam. Quyền của Chín Huê lớn hơn quyền của Bộ trưởng Dương Huỳnh Hoa vì Chín Huê có chân trong đảng. Trong bưng, đám cán bộ y tế gọi Chín Huê là ‘ông Thầy’. Sau 1975, Chín Huê có về Saigon và được cấp một căn nhà ở Gia định. Một năm sau, Chín Huê chết và xác của y được đem quàn ba ngày tại Dinh Độc lập.

2.  BÙI QUANG CHIÊU.
Có người kể rằng trên chuyến tàu La Touche Treville - Latouche-Tréville -, hồi năm 1911, đưa "Anh Ba" từ bến Nhà Rồng qua Marseille, "Anh Ba" có gặp ông Bùi Quang Chiêu. Bấy giờ ông Bùi Quang Chiêu đã là kỹ sư, lớn hơn "Anh Ba" 17 tuổi, đang làm quan cho Tây. Khi ông Bùi Quang Chiêu hỏi "Anh Ba" muốn đi Tây "để làm gì?" thì "Anh Ba" trả lời "để đi học". Sau đó, tới Pháp "Anh Ba" xin vô học "trường Thuộc Địa" mà không được, chớ có nghe nói "để làm cách mạng" cái gì đâu, như Việt Cộng tuyên truyền. Sau đó, Ông Bùi Quang Chiêu cũng có gặp Nguyễn Tất Thành vài lần nữa ở Paris. Bấy giờ, "Anh Ba" không cần "ngụy danh" nữa, mà nói tên thật. Ông Bùi Quang Chiêu cũng nói chuyện với Nguyễn Tất Thành vài lần nữa, nhưng bây giờ ông Nguyễn Tất Thành theo Cộng Sản rồi, quan điểm chính trị giữa hai người khác nhau. Ngay cả với nhóm các ông Nguyễn Thế Truyền, luật sư Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, những người từng giúp đỡ và dạy tiếng Pháp khi Nguyễn Tất Thành mới tới Pháp, Nguyễn Tất Thành còn coi không ra gì, huống chi ông Bùi Quang Chiêu. Cụ Phan Chu Trinh có bài viết than phiền Nguyễn Tất Thành chê ông ta là "hủ nho", là "lạc hậu". Theo Cộng Sản mới là tiến bộ.

Trong cuốn "Từ Thực Dân đến Cộng Sản", giáo sư Hoàng Văn Chì có kể một câu chuyện. Một năm, hình như luật sư Phan Văn Trường từ bên Tây về, có ghé Chợ Bến Thành thăm ông Nguyễn Sinh Sắc - tức Huy - đang lưu lạc ở Saigon - làm "thầy thuốc Bắc", "chấm tử vi" cho khách hàng. Luật sư Phan Văn Trường chê trách Nguyễn Tất Thành nầy nọ, nói rằng, Nguyễn Tất Thành đã theo Cộng Sản rồi, "quay lưng lại" với gia đình - vô gia đình - với đất nước - vô tổ quốc - v.v... Ông Nguyễn Sinh Huy giận lắm. Một lần nào đó, Nguyễn Tất Thành lén về Saigon, ghé chợ Bến Thành thăm cha. Ban đầu, cha con nói chuyện vui vẻ. Đến khi Nguyễn Tất Thành xác nhận với cha rằng ông đã theo Cộng Sản, vô gia đình, vô tổ quốc, thì cha con cãi nhau. Ông Nguyễn Sinh Huy giận lắm, cầm cái chổi lông gà tính "quýnh" con, thì Nguyễn Tất Thành đã nhanh chân chạy xuống thang lầu rồi đi mất, không bao giờ gặp lại cha nữa. Năm 1945 hay 46, khi Nguyễn Tất Thành, - chính là Hồ Chí Minh - làm chủ tịch ở Hà Nội, ông Nguyễn Tất Đạt - thường gọi là "anh cả Đạt", anh cả của ông Hồ Chí Minh có ra Hà Nội "thăm em". Hai anh em chỉ gặp nhau có một lần đó rồi thôi, rồi không bao giờ ông anh đi thăm ông em một lần nào khác nữa. Đã là vô gia đình thì anh em gì. Người ta phê bình như vậy.

Khi vua Hàm Nghi bị Tây đày qua Algerie, Bùi Quang Chiêu là người Việt Nam duy nhất được đến bệ kiến và thăm vua.

Ông Bùi Quang Chiêu sinh năm 1873, quê ở quận Mỏ Cày, Bến Tre - Việt Cộng Đồng Khởi bắt đầu ở quận nầy. - Ông vừa học chữ Nho, vừa học tiếng Tây, đậu bằng kỹ sư canh nông. Em gái ông Chiêu là vợ ông thông ngôn Trần Văn Thông. Ông được vua ban cho chức tổng đốc, lại được Tây gắn cho cái huy chương "Bắc Đẩu bội tinh", là huy chương cao nhất của Pháp. Ông Thông là nội tổ bà Trần Lệ Xuân, tức "Bà Ngô Đình Nhu". (1)

Các con ông Bùi Quang Chiêu đều học giỏi, tháng năm 1945, đều bị Việt Minh giết cả, gồm ông Bùi Quang Chiêu, ba người con trai với cô con gái út, - giết cả nhà, như người ta thường "than" cho gia đình ông - còn sót bà Henriette Bùi, đậu bác sĩ. Bà thoát chết, sống ở Pháp. Ông Bùi Quang Chiêu là kỹ sư canh nông đầu tiên người Việt Nam. Bà Henriette Bùi là người nữ Việt Nam đầu tiên đậu bằng bác sĩ. Cả hai cha con đều là "đầu tiên".

Cộng Sản giết ông vì nói ông "theo Tây". Đó là vu cáo, chụp mũ, chứ thực ra, Hồ Chí Minh cũng như đám "lâu la" quanh ông Hồ có mặc cảm, thù ghét ông Bùi Quang Chiêu. Hồ Chí Minh không thể nào quên được "mối hận" trên chuyến tàu La Touch Tréville, từ Saigon đi Marseille, Hồ - tức "Anh Ba" phải trốn trên tàu, làm bồi, trong khi ông Bùi Quang Chiêu là một ông quan Annam làm việc cho Tây, oai phong, ăn sung mặc sướng... lại còn kêu "Anh Ba" tới "dạy đời" khuyên "Anh Ba" phải sống thế nầy, thế nọ. Không những trên tàu, qua tới Paris, gặp "Anh Ba" ở chỗ ở của mấy cụ Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, "ông quan" Bùi Quang Chiêu vẫn còn cái giọng "dạy đời" như thế, trong khi Nguyễn Tất Thành - tên của "Anh Ba" bây giờ - làm đơn xin vô học trường Thuộc Địa mà Tây không cho.

 Cộng Sản thù ghét nhứt là quan điểm về giai cấp của ông Bùi Quang Chiêu. Hồ Chí Minh hết lòng ca ngợi lập trường "vô giai cấp" của Mác-Lê, trong khi Bùi Quang Chiêu lại chủ  trương:

"Trong một bài phỏng vấn được đăng trên Phụ Nữ Tân Văn năm 1929, Bùi Quang Chiêu khẳng định rằng bất bình đẳng là một điều kiện tự nhiên của cuộc sống và là nguyên tắc căn bản của trật tự xã hội: "Trên đời này làm gì có bình đẳng? Tôi xin kể ra một thí dụ, giả như một người nhờ vào những trường hợp ngẫu nhiên nào đó, hoặc nhờ vào tài sản, nhờ vào những thành công của mình mà lên được hàng lãnh đạo trong giới thượng lưu; đương nhiên người đó có quyền hưởng thụ nhiều ưu đãi hơn là một anh phu quét đường. Anh phu quét đường thì ngu dốt, anh ta không làm được nghề gì khác ngoài việc quét đường. Thành ra anh ta chỉ có được một quyền là quyền được sống. Đó là lẽ tự nhiên." Trong bầu cử 1939, Đảng Lập hiến thất bại, theo Ngày Nay: "Từ ngày có nghị viên quản hạt đến nay, chưa bao giờ có bóng một người của giai cấp cần lao ra tranh cử. Cái nghị viện tối cao ấy dành riêng cho bọn nhà giàu và nhất là cho bọn người trong đảng lập hiến..."

Có thể có người không đồng quan điểm với ông Bùi. Người ta có thể thảo luận, tranh cãi... nhng không ai chủ trương "giết chúng đi" như Cộng Sản, như Hồ Chí Minh, như Trần Văn Giàu, như Trường Chinh.

Bùi Quang Chiêu là một người yêu nước, - yêu nước theo cách của ông - là cách của cụ Phan Chu Trinh, chủ trương "không bạo động" như cụ Phan Chu Trinh. Cụ Phan Bội Châu thì chủ trương bạo động. - Tuy khác lập trường nhưng "hai cụ Phan" rất tương kính nhau, chữ không chủ trương "Giết chúng đi" như "cụ" Hồ. Có ba người có lập trường gần giống nhau: "Pháp Việt đề huề" của Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu và Albert Sarraut. Ông Bùi Quang Chiêu từng thề trước mồ cụ Phan Chu Trinh "Tây Hồ anh ơi, tôi xin thề hy sanh cho chủ nghĩa Pháp Việt đề huề".

Trong chiều hướng nầy, ông Bùi Quang Chiêu thành lập đảng "Lập Hiến". Thật ra, đảng Lập Hiến không phải là một đảng như chúng ta thường hiểu, lại không phải là một đảng "sắt máu" như đảng Cộng Sản. "Hiện tượng" nầy, là "mặt thật" cá tính của ông Bùi Quang Chiêu. Ông là người quảng giao, ưa kết hợp bạn bè. Trí thức miền Nam thời ấy, không ít người là bạn ông, thành ra đảng Lập Hiến của ông, có tính chất là "một câu lạc bộ" hơn là một đảng phái:

"Đảng Lập hiến Đông Dương (tiếng Pháp: Parti Constitutionaliste Indochinois) là một chính đảng hoạt động ở Nam Kỳ trong thập niên 1910 đến 1930, vận động đòi tự trị cho Việt Nam  để lần hồi giành lại độc lập hoàn toàn cho người Việt. Đảng Lập Hiến dùng 3 tờ báo: La Tribune Indochinoise (Báo Đông Dương), L'Echo Annamite và Đuốc Nhà Nam làm diễn đàn. Tuy gọi là Đảng nhưng những Đảng Lập hiến lại tổ chức giống như một câu lạc bộ chính trị của giới điền chủ, nghiệp chủ, công chức người Việt ở Nam kì."

Các "bạn bè" thường quan hệ với ông là luật sư Dương Văn Giáo; nhà báo, giáo sư Diệp Văn Kỳ, (2) nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Trần Như Lân, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh...

 Ông Bùi Quang Chiêu là người năng động, "cá tính Nam Bộ" thích làm những công việc hữu ích cho người khác. Mới qua Pháp, ông thành lập hội Hội tương tế Đông Dương (Association mutuelle des Indochinois). Về nước, ông tham gia Hội Trí tri, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục mở mang dân trí, nhiệt thành cổ xuý cho phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Bùi Quang Chiêu cũng là đảng viên "đảng Cấp tiến" và "đảng Xã hội Chủ nghĩa Cấp tiến" của Pháp (tiếng Pháp: Parti Radical et Radical-Socialiste) nên nhân lúc Alexandre Varenne của đảng "Xã hội Cấp tiến" Pháp được bổ nhiệm làm toàn quyền vào năm 1926 với hứa hẹn cải tổ cai trị ở Đông Dương, Bùi Quang Chiêu lại sang Pháp vận động chính giới Pháp với loạt bài "Pour le Dominion Indochinois". Ông đưa ra "Bản yêu sách 9 điều khoản" gồm:
1. Tự do ngôn luận,
2. Tự do báo chí,
3. Tự do hội họp và lập hội,
4. Tự do đi lại,
5. Cải cách giáo dục,
6. Điều chỉnh chế độ lương bổng cho công bằng giữa người Pháp và người Việt,
7. Nới rộng quyền đại diện chính trị,
8. Nâng cao đời sống lao động,
9. Bãi bỏ độc quyền kinh tế.

 Vì chủ trương "Pháp Việt Đề Huề" nên ông "tham gia hoạt động trong các Hội đồng Quản Hạt. Ông tranh cử cuộc bầu cử tháng 10 năm 1926. Kết quả là ông cùng 9 đảng viên đảng Lập Hiến đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, chiếm trọn 10 ghế của người bản xứ. Ông được bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng." Năm 1927 nhờ sự vận động của ông cùng các nhân sĩ khác như Phan Văn Trường, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Vũ Đình Dy và Nguyễn Phan Long, người Pháp mới bãi bỏ điều kiện Pháp tịch cho những học sinh muốn sang Pháp du học. Ông mở tư thục "An Nam Học đường" ở Sài Gòn.
     
Hiện nay, Cộng Sản cho đặt tên ông ở một con đường ở Trà Vinh. Để làm chi? Cộng Sản thấu hiểu nỗi đau của thân nhân ông, của dân chúng Bến Tre, cho dân chúng Bến Tre "uống nước đường" khi họ nghĩ và thương một người hết lòng vì dân vì nước, đã bị ông Hồ Chí Minh và bè đảng "giết cả nhà", ngay cả với cô con gái út của ông mới 16 tuổi?

hoànglonghải
(kỳ tới: 9./ Cụ Thiều Chửu)
 

(1) Ông Phan Văn Nghị, con trai cả của bác sĩ Phan Văn Hy - Quảng Trị -, năm 1946 bị Tây bắt ở Hà Nội, chờ đem đi bắn, thì được ông Trần Văn Thông can thiệp, Tây phóng thích, thoát chết.

(2) Ông Diệp Văn Kỳ là giáo sư trung học của giáo sư Lý Chánh Trung, và cũng là ngoại tổ nhà báo Hoàng Dược Thảo./

Đọc Thêm
 
Viết về Hồ Văn Ngà - Nam Kỳ Lục Tỉnh (google.com)
Bùi Quang Chiêu – Chính khách, Nhà báo, Kỹ sư canh nông đầu tiên của Nam Kỳ :: Suy ngẫm & Tự vấn :: http://xn--chngta-qya.com/ (chungta.com)

 FB Uoc Nguyen
Nguồn : saigonweeklyonline.com