Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh thắng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh thắng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

HÃY NGỦ YÊN ĐÀ NẴNG CỦA TÔI ƠI

TRẦN TRUNG ĐẠO·WEDNESDAY, MARCH 29, 2017

Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng thực dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ những chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okay, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm Hoa Kỳ lừng danh, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đầu tiên nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Hoa Kỳ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành hai năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn "viện trợ" hai Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu khó tánh ở Cổ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát ra khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.

Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
mắt hồng liệng cái ngoắt tay
dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
chập chùng xuân ảnh vải hương
ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
giả vờ châm thuốc nhâm nhi
nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.
(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán Luân Hoán)

Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa đã không về nữa. Các cô đã ra đi, bỏ lại sau lưng hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

Các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mát. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.

Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.

Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém thực dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ căm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được Hong Kong, Philippines, và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

Đà Nẵng của tôi sau 1975 không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước: "Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi" đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say" đã được thay bằng những những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.

Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.

- Anh sắp phải đi xa.
- Em biết.
- Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
- Anh nói với em rồi. "Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa." Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.
- Không phải. Đó là chuyện hồi chưa "giải phóng", bây giờ thì khác.
- Bây chừ anh tính đi đâu?
- Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.
- Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.
- Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.
- Anh lại hứa.

Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào: "Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi. Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì. Tôi là người đi chinh chiến dài lâu. Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu". Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để "lòng man mác buồn" nhưng là chia tay vĩnh viễn, nát tan.

Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là giòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.

Bao nhiêu năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng ở Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.

Và biết đâu, nhờ chưa về mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi. Nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

Trần Trung Đạo


Bãi Lăng Cô



Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

Nước Mỹ nơi tôi sống

"San Diego là một thành phố quan trọng của tiểu bang California nằm bên bờ Thái Bình Dương miền Nam Cali. Nó nằm ở phía Nam thành phố Los Angeles cách thành phố nầy khoảng 190 cây số, và phía Bắc biên giới Mexico. Dân số San Diego khoảng 1,301,617 người, tính theo thống kê năm 2010. Nó là thành phố lớn hạng nhì ở Cali, và hạng 8 ở Mỹ. Vợ chồng tôi có gia đình sống ở đây, nên qua đây thăm viếng rất thường.
San Diego là thành phố đông dân Việt Nam sanh sống hạng 4 ở Mỹ, sau San Jose (101,964 người), Garden Grove (48,436), Westminster (37,673) và Houston (34,838). Theo thống kê dân số năm 2010, hiện có 33,149 người Việt Nam đang định cư tại đây. Nếu tính quận San Diego, số này lên đến 44,202 người. Nhiều báo và đài TV của Mỹ phỏng định hiện nay có khoảng 40,000 cư dân ở khu đô thị này.
San Diego là nơi sanh ra bang California. Đây là nơi người Âu Châu đi tìm thuộc địa đã đổ bộ trước tiên khi họ khám phá ra miền bờ biển Thái Bình Dương của Mỹ.
Năm 1542, Juan Cabrillo đồ bộ lên Vịnh San Diego và tuyên bố chủ quyền của Tây Ban Nha trên miền đất rộng lớn ở đây. Dựa trên căn bản này, 200 năm sau người Tây Ban Nha đã tuyên bố chủ quyền đối với vùng đất gọi là “Alta California“. Vùng này bao gồm lãnh thổ của nhiều tiểu bang của Mỹ ngày nay như: California, Nevada, Arizona, Utah, miền Tây Colorado và miền Tây Nam Wyoming.
Tại San Diego, năm 1769 người Tây Ban Nha xây cất pháo lũy Presidio, và Hội Truyền Giáo Mission of San Diego gần đó. Đây là nơi định cư đầu tiên của người Tây Phương ở Cali.
Năm 1821 San Diego thuộc nước Mexico. Năm 1850 vùng đất nầy thuộc Mỹ sau khi Mỹ thắng trong chiến tranh Mỹ-Mexico (Mexico-American war). Mexico cũng mất vùng Alta California kể từ đó.
San Diego khí hậu ấm áp quanh năm, mùa đông không lạnh mùa hè không nóng. Người Việt Nam mình sống ở đây rất đông.
San Diego cũng nổi tiếng vì cảng ở đây nước sâu rất thích hợp cho căn cứ hải quân, nên hải quân Mỹ đóng quân ở đây.
Những bãi biển ở đây rất nổi tiếng, bãi biển Coronado được nhiều Tổng Thống Mỹ đến thăm viếng. Ngoài ra nhờ sự giúp đỡ của Đại học San Diego thuộc Viện Đại Học California (UCSD) nên Công nghệ sinh học ở đây phát triển mạnh.
Ở San Diego có 3 chợ Việt Nam nằm ở 3 khu Đông, Trung Tâm và Bắc San Diego, để phục vụ cho người Việt trong vùng. Cả ba nơi này đều được người Việt Nam biết đến với tên Phố Sài Gòn Nhỏ, hay Phố Việt Nam Nhỏ. Tuy nhiên cho tới nay chỉ một chợ được chánh quyền thành phố chánh thức công nhận là Phố Sài Gòn Nhỏ thôi. Đó là khu City Heights phía Đông San Diego.
Tháng 6 năm 2013, hội đồng thành phố San Diego đã biểu quyết với đa số tuyệt đối, tất cả đồng ý không có phiếu chống, đặt tên cho khu Việt Nam ở đường El Cajon vùng City Heights là Phố Sài Gòn Nhỏ. Tên tiếng Mỹ chánh thức khu này là "Little Saigon Cultural and Commercial District" (Phố văn hóa và thương mại Sài Gòn Nhỏ).
Phố Sài Gòn Nhỏ trải dài đường El Cajon khoảng 6 blocks, với hơn 120 tiệm, quán ăn, và dịch vụ do người Mỹ gốc Việt làm chủ. Khu này vui lắm. Tôi hãnh diện với người Việt Nam ở Mỹ. Họ đến đây với hai bàn tay trắng. Họ được cho ở những khu nghèo khổ, đổ nát, xuống dốc, dân Mỹ sống lâu ở đây ai cũng muốn dọn đi. Người Việt Nam mình dọn đến, làm việc, hy sinh, chịu khó mở tiệm tùng kinh doanh, làm sống lại những khu đổ nát, tạo được nhiều Phố Sài Gòn Nhỏ khắp nước Mỹ. Tuyệt vời.
Không phải riêng tôi phục người Việt Tỵ nạn mình. Nhiều nhà nghiên cứu và ký giả nhiều báo cũng đã chú ý đến sự kiện này. Khu El Cajon là khu nghèo nhất trong 3 khu chợ Việt Nam ở San Diego. Nhưng ở đây chính người Việt Nam đã xây dựng trở lại, và cứu khu nầy khỏi sự đổ nát.
Ông Frank Vương, chủ tịch Hội Phố Sài Gòn Nhỏ San Diego (Little Saigon San Diego Foundation) đã tuyên bố đại khái, Phố Sài Gòn Nhỏ sẽ giúp người ta quảng bá khu này như một khu văn hóa cá biệt, một điểm đến du lịch của thành phố San Diego.
Thật vậy, với quyết định đặt tên Phố Sài Gòn Nhỏ cho khu này, chánh quyền địa phương đã nhìn nhận sự đóng góp về văn hóa và thương mại, cũng như sự phát triển kinh tế của cộng đồng người Việt Nam ở đây. Khu này sẽ từ từ được đổi mới, nhà của sẽ đẹp hơn, phố xá sạch sẽ hơn, ít tội phạm hơn, đường đi bộ sẽ được sửa chữa để du khách dễ đi bộ tà tà thăm khu phố này. Tóm lại cuộc đời ở đây sẽ đáng sống hơn.
Báo Mỹ đã phỏng vẫn nhiều cư dân ở đây. Đài TV Fox 5 có phỏng vẫn một bà Việt Nam tên Kim-Trang Đặng đã đến đây ty nạn 30 năm trước. Bà đã bỏ nước ra đi sau khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn, lấy tên lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh đặt tên cho thành phố. Bà Trang Đặng đã nói như sau: "Thật là cảm động. Chúng tôi đã mất tên Sài Gòn vào năm 1975. Bây giờ chúng tôi đã có được tên này trở lại ở đây. Tim tôi rung động".
Trong phần Thư Mục này tôi liệt kê nhiều bài và hình ảnh những ngày vợ chồng tôi thăm viếng thành phố San Diego, như thăm viếng Bảo tàng Hàng Hải, Công Viên Mission Bay (Vịnh Mission), Bến Cảng San Diego, Phố Ý Nhỏ (Little Italy), Phố Cổ San Diego, bãi biển Coronado, khách sạn Coronado nơi các Tổng Thống Mỹ đến ở, công viên Balboa, vườn hồng tưởng niệm Inez Grant Parker, tàu lặn B-29 của Nga, và một tiệm ăn Việt Nam sang trọng ở đây.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

PHÁ TAM GIANG.


Có lẻ những ai trong miền Nam cũng đều biết câu ca dao:
Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh, nước biết như tranh hoạ đồ.
Thương anh, em cũng muốn vô,
Sợ TRUÔNG nhà Hồ, sợ PHÁ TAM GIANG.
Phá Tam Giang là một Phá nằm trong hệ thống Phá Tam Giang- Cầu Hai, diện tích phá TG khoảng 52km2, trải dài khoảng 24km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương chảy ra cửa biển Thuận An, thuộc địa phận của 12 xã, bốn huyện: Phong Điền, Quãng Trà, Hương Trà và Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là thuỷ lộ chính nên ngày xưa ai muốn lên kinh thành đều phải vượt phá TG, tuy là đầm nhưng lại có sóng. Độ sâu nơi đây từ 2-4m, có nơi sâu đến 7m.
Điều đáng để chúng ta hãnh diện là Phá Tam Giang là một vùng đầm LỚN VÀ ĐẸP NHẤT ĐÔNG NAM Á, vì vậy khi đến Huế các bạn nên đến đây để chiêm ngưỡng nét đẹp thiên nhiên mà tạo hoá đã ban tặng cho đất nước chúng ta. 
Từ Huế có hai con đường để đi đến phá TG. Đường thứ nhất là đi dọc theo QL1 khoảng 11km thì đến, đường này gần nhưng không đẹp. Đường thư hai là đi vòng quanh trong TP Huế qua những khu lăng tẩm, những khu nhà cổ hay những cánh đồng lúa nên thơ, đường này dài độ 15km tuy xa hơn một chút nhưng đa số mọi người thích đi theo lộ trình này hơn vì cảnh quan rất đẹp.
Thời gian để ngắm cảnh đẹp của phá là 5g30' sáng khi bình minh lên và 17g30' khi hoàng hôn xuống. Chúng ta nên chịu khó đi sớm để ngắm cảnh mặt trời mọc vàng rực pha lẫn màu đỏ thẫm bao trùm cả vùng đầm rộng 52km, rực rỡ trong ban mai và thật không uổng công chúng ta dậy sớm. Sau khi ngắm bình minh xong, chúng ta có thể vào chợ để ăn sáng và mua sắm hoặc có thể ăn sáng cùng dân địa phương trong những căn chòi giữa đầm để vừa ăn vừa ngắm cảnh. Nhưngx địa điểm chúng ta có thể tham quan như làng chài THÁI DƯƠNG HẠ cổ xưa hàng mấy trăm năm hay THÀNH PHỐ LĂNG dành cho những người cõi âm trong làng, được xây cất như một biệt điện thu nhỏ có đầy đủ cuộc sống DƯƠNG SAO ÂM VẬY. Ngoài ra cũng có Đình làng Thái Dương Hạ đậm nét kiến trúc VN. Ở đây còn có RỪNG NGẬP MẶN RÚ CHÁ là một khu rừng nguyên sinh, nếu nán lại đến chiều chúng ta có thể ngắm từng đàn chim bay về tổ khi chiều tà buông xuống.
Như đã nói ở trên, khi đến vùng Phá TG này, ngoài cảnh bình minh, chúng ta không nên bỏ qua cảnh hoàng hôn trên phá với những tia ánh sáng màu tím đặc trưng của Huế rãi dài trên mặt Phá TG thật lãng mạn và thơ mộng, theo kinh nghiệm nhiều người đã đi, thời gian để ngắm hoàng hôn trên Phá đẹp nhất từ 16g-17g30'. 
Sở dĩ có tên Phá Tam Giang vì nơi đây là noi hội tụ bởi ba con sông lớn: sông BỒ, sông HƯƠNG và sông Ô LÂU sau đó đổ ra cửa biển Thuận An nên nước ở đây LỢ mà không mặn vì vậy các đặc sản ở đây như cá DÌA, cá Chình, ghẹ, tôm , nghêu... Ở đây rất chắc thịt và ngọt dù độ lớn thua các đặc sản vùng biển. Giá cả ở đây rất rẻ và cuộc sống người dân nơi đây còn đậm chất dân dã dù không thiếu những phương tiện hiện đại. Thật thiếu sót nếu đến nơi đây mà không thưởng thức món bánh xèo cá Chình.
Có một lần nào đó, bạn hãy tìm đến nơi đây để một lần thử lênh đênh trên mặt Đầm Phá TG để ngắm cảnh với làn gió mát rượi, cùng nhấm nháp một ít rượu chuồn với những con cá Dìa ngọt lịm và đâu đó những giọng hò Huế nhẹ nhàng bay bổng trong ánh chiều tà, bạn sẽ thấy cuộc đời nhẹ nhàng, đẹp và đáng yêu đến dường nào....
Hãy đến và trãi nghiệm để cảm nhận những ân sủng của tạo hoá đã ưu ái cho chúng ta còn đẹp gấp ngàn lần những điều đã nói trên và nghe đâu đây văng vẳng giọng hát trầm mặc.. Chiều trên Phá Tam Giang, anh chợt nhớ em.....
P/S:

HỒ THỊ CẨM VÂN