Hiển thị các bài đăng có nhãn Momentary Notes. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Momentary Notes. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Trầu Cau ở Huế


Mấy ngày hàn huyên tâm sự trong khu vườn ẩm ướt ở Vỹ Dạ đã trôi qua. Buổi sáng một ngày mưa bão ở Huế tôi ra đi.

Vài phút nữa tôi sẽ đáp chuyến xe đò bảng hiệu “Cafe Hạnh” từ Huế đi về Hội An. Hai người bạn học Sài Gòn nay đang sống ở Huế đội mưa ra tận nhà xe đưa tiễn. Tôi nói với hai người mình thương Huế lắm, mà rồi cũng đang có cảm giác mơ hồ rằng mình sẽ hiếm khi ra Huế được lần nữa vì mình đã già, đã yếu. 

Nhìn chiếc xe đò giường nằm từ từ quẹo tắt ngang qua đường để đến nhà xe đón khách, người bạn tên Sinh nói với cô bạn tên Hạnh: Em thấy chưa, người ta lấy tên anh và em để đặt tên cho hai hãng xe đò đấy. Hạnh cười sung sướng: Ừ! Em thấy rồi.

“Café Sinh” và “Café Hạnh” là hai tuyến xe nối liền Huế và Hội An mỗi ngày bốn chuyến đi về. Hạnh nói với tôi: Còn có thêm hai hãng xe đò nữa là “Cúc Tùng” và “Camel” chạy tuyến này nữa anh à… Em không biết bao giờ anh có thể cho thêm mấy nhân vật Cúc, Tùng, Camel… vào mấy câu chuyện lông bông lãng nhách của anh?

Tôi cười: Hạnh và Sinh, đó là sự ngẫu nhiên của những ngẫu nhiên. Cũng ngẫu nhiên không định trước, những tầng nấc của thời gian quá khứ bị chúng ta dẫm đạp lên như khi ta bước lên những bậc thềm đá cũ kỹ rêu phong để vào nấm mồ nơi vua Gia Long yên nghỉ, một chỗ rất sâu và kín đáo trên một cái cù lao hoang tịch mà mỗi lần qua đó chúng ta phải đi mất một buổi sáng qua một cái cầu phao gập ghềnh trên sóng nước sông Hương và đi qua một con đường đất khúc khuỷu không ai thèm chăm sóc. Sự hoang phế đến chạnh lòng của lăng mộ vua Gia Long làm người ta buồn rầu nghĩ đến sự tàn lụi nhanh chóng của một vương triều mười ba đời vua, mà nay anh Sinh còn đòi rút lại chỉ có bốn đời. Rất ngạc nhiên tại sao anh Sinh nghĩ như vậy?

Rồi hỏi anh Sinh: Không hiểu sao mấy ngày qua anh kể chuyện về vương triều Nguyễn mà chỉ nêu tên có bốn đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… rồi không nói thêm gì nữa. Sao không nghe anh nói gì hết về những vị vua sau đó, kể cả vị vua cuối cùng đẹp trai nhất là Bảo Đại mà mỗi ngày anh vừa uống cà phê vừa ngắm bức hình ông ấy hút thuốc một cách rất say mê?

Anh Sinh: Bốn vị vua đầu được mình tổng kết là Lập-Kiến-Suy-Vong, chỉ cần bốn vị thôi là thấy đã hết một vòng xoay nghiệt ngã của con tạo. Cái thế sự tan nát của đất nước từ cuối thời Tự Đức đã xé nát và chấm dứt sự trị vì thực quyền của dòng họ Nguyễn. Những vị vua sau vua Tự Đức không còn là vua của một vương triều đúng nghĩa nữa. Họ làm vua nhưng không còn có bất kỳ quyền hạn gì. Thế thì chúng ta nên nghĩ về nhà Nguyễn chỉ với bốn vị vua đầu tiên mà thôi. Những người làm vua sau này là sự tiếp nối của hư quyền, họ không phải là vua, họ chỉ là những cái tên để người ta dễ ghi vào sách sử.

Anh Sinh say sưa: Vua Gia Long thống nhất đất nước, “lập” nên một vương triều mới, vua Minh Mạng ra sức “kiến” thiết nước ta thành một quốc gia mạnh mẽ có diện tích to lớn nhất từ xưa tới nay, rồi vua Thiệu Trị vì sức khỏe ốm yếu mà làm mất dần quyền lực ra khỏi tay mình, quyền lực lại rơi vào tay bọn lộng thần nên gọi là “suy”, vua Tự Đức thì bị khiếm khuyết tình dục giống y hệt như tôi… do đó không thể có nổi một đứa trai ruột để mà truyền ngôi, ông vua này lại làm mất nước vào tay người Pháp nên gọi là “vong”.

Sau đời vua Tự Đức thì không ai dám chắc những người lên ngôi vua là thuộc chính dòng hoàng tộc nữa. Những toan tính đen tối trong chốn thâm cung để lại những hoài nghi về nguồn gốc các vị vua được đặt lên ngai vàng. Lập-Kiến-Suy-Vong qua bốn đời vua có phải là một nhận định khách quan về triều Nguyễn hay không? Như ông vua Bảo Đại có chắc chắn là con ruột của vua Khải Định hay không?

Tôi trả lời: Ngày nào đó từ Sài Gòn tôi sẽ viết thư trao đổi thêm với anh. Tôi cảm nhận những điều anh nói có thể đúng và cũng có thể sai. Từ lâu rồi tôi cảm thấy rất hoang mang và hoài nghi khi học, khi nghĩ về sử Việt và người Việt của mấy trăm năm gần đây. Tôi cảm thấy hoài nghi về không gian và thời gian của Huế khi tôi đứng cạnh anh và Hạnh trong buổi sáng hôm nay tại chỗ này. 

Tôi không hiểu anh có thể lo cho hai mẹ con Hạnh suốt cuộc đời này không? Tôi không biết tôi có được ra Huế một lần nào nữa để gặp lại hai người hay không? Tôi hoang mang lắm, hoang mang từ lịch sử, hoang mang về thành phố Huế với bao nhiêu điều vấn vương bí ẩn, hoang mang đến đời riêng của những con người lên làm vua có nguồn gốc không rõ ràng.

Tôi nghe tiếng thở dài của anh Sinh.

Lần này ra thăm Huế tôi dành hầu hết thời gian để sống cạnh hai người bạn học cũ là Hạnh và Sinh. Tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ sự chia ly. Tôi cảm thấy cuốn phim ký ức mà mình quay về họ sắp sửa chấm dứt rồi. Mang máng nhìn thấy chữ “The end” trong mắt họ hay chính trong con mắt của mình, mình cũng không rõ nữa.

Mấy chục năm trước ở Sài Gòn anh Sinh đã từng làm tiếp tân khách sạn, anh Sinh đã nấu ăn cho nhà hàng, anh Sinh đã biết may vá áo quần… Nói chung anh biết và làm được tất cả những công việc tỉ mỉ công-dung-ngôn-hạnh mà một người đàn bà Việt biết làm với một mức độ khéo tay cao. Thời gian lưu lạc ở Huế anh lại học để biết nấu bún bò Huế, biết nấu cơm hến, biết làm bánh ướt thịt nướng, biết làm bánh nậm – bánh lọc – bánh bèo – bánh khoái – nem chua… Chắc vì để có tiền lo cho mẹ con Hạnh anh đã từng làm những loại thức ăn Huế ấy rồi đem ra chợ Đông Ba bán mỗi ngày. Anh còn dạy Hạnh pha cà phê rồi giúp Hạnh lập một quán cà phê nghèo trong khu vườn Vỹ Dạ.

Nhưng tôi nghĩ… quan trọng hơn hết đối với cuộc đời anh Sinh là một công trình tự nghiên cứu về nhà Nguyễn mà anh không tự xuất bản được, đó là cuốn tiểu luận “Lập-Kiến-Suy-Vong”. 

Có lẽ quan điểm của anh Sinh mới quá, anh cho rằng sự suy vong của vương triều Nguyễn bắt nguồn từ sự thiểu năng tình dục hay do máu đồng tính của vị vua thứ tư là Tự Đức. Chính vì những yếu tố tính dục khác thường đôi lúc đầy nữ tính yếu đuối mà vị vua này đã có những quyết định chính trị khác thường không được khôn ngoan làm đất nước rơi vào tay bọn thực dân Pháp. 

Tôi có nói với anh Sinh: Cũng may cho anh cuốn sách không in ra được, cuốn sách này mà được xuất bản thì anh đừng hòng trụ lại Huế được, dòng giỏi gia tộc nhà Nguyễn sẽ mang anh ra mà tùng xẻo thành từng miếng.

Cũng lần cuối ở Huế này, một hôm trong một buổi chiều vàng vọt ngồi uống cà phê trong khu vườn Vỹ Dạ hoang tịch, Hạnh khẻ bảo tôi: Thôi, từ nay anh đừng ra Huế nữa, anh đừng lo lắng cho mẹ con em nữa, em thấy anh đã yếu sức lắm rồi. Đã có anh Sinh lo cho hai mẹ con em mười mấy năm nay. Từ ngày ông chồng cũ của em mất, anh Sinh đã sống giống như một người chồng đầy trách nhiệm đối với em, và là một người cha đúng nghĩa của con em.

Hỏi lại Hạnh: Có thật không? Anh Sinh đồng tính mà? Hạnh đáp: Không, anh ấy không chỉ đồng tính, anh ấy còn lưỡng tính – bisexual nữa. Anh ấy vừa yêu được đàn ông vừa yêu được đàn bà. Dù tình yêu đồng tính hay tình yêu lưỡng tính thì anh ấy yêu rất sâu và rất đậm. Người đàn bà mà anh ấy rất yêu quí mấy chục năm từ ngày chúng mình còn học chung ở Sài Gòn chính là em. Em không để ý quan tâm anh ấy yêu người đàn ông nào, em chỉ biết anh ấy rất yêu em và hết lòng lo lắng cho mẹ con em.

Tôi nhe răng cười buồn: Để hôm nào có dịp ra Huế lại lần nữa anh sẽ tìm cách khám anh Sinh thử xem sao! Anh hồ nghi chữ “bisexual” này lắm. Mà anh cũng không biết anh có còn sức bay ra Huế được lần nữa hay không? Sợ anh Sinh giống như vua Tự Đức, vì tính cách tình dục bất thường nên sẽ có những quyết định bất thường không khôn ngoan ảnh hưởng xấu tới hai mẹ con em.

Hạnh cười: Anh lại nghĩ sâu xa, anh lại bị cái tư tưởng Lập-Kiến-Suy-Vong đầy chất pêđê của anh Sinh ảnh hưởng rồi. Em đã đọc hết cái tiểu luận đó của ảnh, em kết luận: Chúng mình là người Sài Gòn, chẳng ai học sử. Chúng ta sống trong một thời đại nặng nề chính-trị-chính-em nên có kiến thức gì để làm sử học? Rõ ràng những người học hành dang dở như chúng mình không hề có đủ trình độ lịch sử để có tư cách nói và viết về lịch sử nhà Nguyễn.

Hạnh tiếp: Khi nghe em nói vậy, anh Sinh giận em hết mấy ngày, không thèm nói chuyện với em. Em nói với anh Sinh: Em giận anh mới phải. Bộ phận sinh dục của người đồng tính ảnh hưởng chi tới lịch sử của nước nhà mà anh cứ cố nhét nó vào sách vở. Anh sai mà cứ cho là mình đúng, anh đã sai từ ngay lúc ban đầu khi từ một người tầm thường mà đòi làm nhà sử học. 

Tôi hỏi: Rồi anh Sinh phản ứng ra sao? Hạnh cười: Anh ấy rất thất vọng vì bị em chê, anh ấy khóc hu hu mấy ngày rồi ném cuốn tiểu luận vô duyên ấy xuống nhà bếp. Anh ấy bảo: Tùy Hạnh, Hạnh muốn đốt thì cứ đốt.

Tôi: Đừng đốt cuốn tiểu luận đó. Trong đó còn kẹt cái bộ phận sinh dục của người đồng tính.

Mấy ngày bên Hạnh, tôi hay nhấp ngụm cà phê buổi chiều và nghĩ về những người lưỡng tính như lời Hạnh nói. Đó những người có thể vừa yêu người đồng phái vừa yêu người khác phái. Chợt nhớ tới truyện cổ tích Trầu Cau với ba cái chết lãng nhách của ba người Việt, chết vì “mệt, buồn, tuyệt vọng, nên gục xuống” rồi biến thành ba cái gì đó không phải là con người nữa: một cái cây, một cái dây leo và một cái cục đá.

Tôi nói: Để kể cho Hạnh nghe truyện cổ tích “Trầu Cau”… Xưa giờ người ta hay kể chuyện Trầu Cau để nói về tình anh em hay tình nghĩa vợ chồng. Mấy hôm nay anh lại nghĩ chẳng phải. Đó là những mối tình lưỡng tính! 

Câu chuyện kể vào đời vua Hùng Vương thứ tư có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau. Nhấn mạnh với Hạnh: Đấy! Bắt đầu một chuyện tình đồng tính giữa hai thằng con trai rồi đấy! Tân và Lang rất thương yêu nhau, tình yêu đó không đơn giản là tình thương huynh đệ bình thường giữa hai anh em trai, nó là một thứ tình yêu đồng tính vô cùng mãnh liệt, nó có thể dẫn tới cái chết khi người ta yêu không được hay người ta yêu trong thất vọng não nề.

Tân và Lang cùng yêu một người con gái đẹp trong làng, nàng này đẹp não nùng, đẹp quyến rũ mới ác. Nhưng chỉ có Tân cua và lấy được người con gái ấy, chắc vì Tân đẹp trai hơn, manly hơn Lang. Còn Lang thì thua trắng, vừa mất Tân vừa không có được người đàn bà đẹp. Sau khi có vợ thì Tân không còn chăm sóc đến Lang nhiều như trước nữa. Lang lấy làm buồn rầu, vừa thất tình chị dâu vừa thất tình anh ruột của mình. Đích thị Tân và Lang là lưỡng tính, vừa yêu con trai được mà vừa yêu con gái được, bisexual chứ còn gì nữa?

Hạnh nghe anh kể chuyện Lang bị chết nè: Rồi Lang buồn bực – frustrated mà bỏ nhà đi bụi. Bụi tới bên bờ suối thì Lang mệt, buồn, tuyệt vọng, gục xuống chết và thân tàn hóa thành một tảng đá vôi.

Tới Tân chết nè: Tân, sau một vài ngày không thấy em về nhà, vì quá thương em nên quyết bỏ vợ đi tìm em. Cũng đến bờ suối đó thì Tân cũng mệt, buồn, tuyệt vọng, gục xuống chết và thân tàn hóa thành cây cau bên tảng đá vôi.

Tới người đàn bà đẹp chết nè: Vợ Tân không thấy chồng quay về cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng đến đúng “position” là cái bờ suối, ngồi kê đít trên cục đá, thân dựa vào cây cau. Nàng cũng mệt, buồn, tuyệt vọng, gục xuống chết và thân tàn hóa thành dây trầu đeo trên cây cau, đít còn đeo trên cục đá vôi.

Tôi nhe răng cười hỏi Hạnh: Em thấy bà này ghê chưa ? Hồi sống thì lấy ông anh, tới hồi chết thì bám cổ đeo lên người ông anh mà chết, nhưng gốc rễ vẫn bám chặt lấy tảng đá vôi!

Hạnh phì cười: Kể tiếp đi. Mà thôi chắc hết truyện rồi phải không? Chết là hết, Chuyện của ba người, mà ba người chết hết rồi thì còn chuyện gì mà kể nữa?

Tôi tiếp: Còn nữa chớ bộ. Một ngày nọ có hai vợ chồng người nọ đi hái lượm thức ăn, vì bị đám khỉ-vượn tranh hái trái cây ngon ăn trước hết rồi nên không còn trái cây, họ đói quá lần tới bờ suối xơi nhầm một lúc ba thứ đó: lá trầu, quả cau và đá vôi. Khi ăn cả ba thứ trầu, cau và vôi quyện lại thì mồm họ có sắc đỏ như máu. Hai vợ chồng tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện hai anh em ruột cùng yêu một người đàn bà đẹp… để kể thành truyện cổ tích đồng tính và lưỡng tính đầu tiên của Việt nam có tên là «Trầu Cau». 

Người đàn bà đi hái lượm nói với chồng: Hôm nay thiệt lãng nhách, mình đi tìm thức ăn mà không thấy thức ăn, lại tìm thấy được truyện cổ tích đồng tính và lưỡng tính có màu đỏ chét như màu máu tươi của em mỗi tháng. 

Người chồng gật gù: Đúng vậy đó em.

Hạnh cười khúc khích: Thôi đi anh, anh nói nghe ghê quá. Cái gì anh cũng dám nói toẹt ra được. Thôi cứ tạm cho là anh kể đúng đi. Nhưng, anh Sinh đích thị là một người lưỡng tính. Khi chồng em chết rồi thì anh ấy không còn yêu được một người đàn ông nào nữa. Bây giờ anh ấy chỉ yêu em. Anh yên tâm chưa? Và khi chồng em chết thì anh ấy cũng chẳng tự tử chết theo, anh ấy vẫn sống nhăn răng mà nuôi hai mẹ con em. Tụi em không thể là những nhân vật màu đỏ chét của một câu chuyện Trầu Cau thứ hai đâu anh ạ.

Mấy ngày hàn huyên tâm sự trong khu vườn Vỹ Dạ ẩm ướt nước mưa đã trôi qua. 

Rồi vào một buổi sáng trời mưa bão mình đã bước lên chuyến xe đò chuẩn bị rời Huế đi về Hội An. Hai người bạn học cũ đứng dưới lề đường có hàng cây buồn rũ rượi trong mưa vẫy tay chào từ biệt. Mình vẫy tay chào lại mà lòng buồn rười rượi. Lần này cảm giác lưu luyến Huế rất nghẹn ngào, vì mình không tin sẽ được ra thăm Huế của mình thêm một lần nào nữa. 

Xe rời Huế đi Hội An, mình đang di chuyển từ một vùng ký ức thâm u của kinh thành cũ kỹ bên bờ sông Hương đi về phố Hội của sông Hoài.

MOMENTARY NOTES

Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

Sướng khổ áo quần.



Học hành ngáp ngáp được ba năm, cuối năm 1983 tôi bị cô giáo chủ nhiệm cho ở lại lớp. Biết sao giờ, mình học dốt quá nên thi rớt đó mà! Buồn vì chuyện học hành bê trễ kéo dài, cơ hội xin việc sớm để có tiền tiêu càng khó khăn. Cũng rất lo khi phải đi học thêm một năm nữa thì lấy gì mà sống, quần áo mới đâu ra mà mặc?

Mình buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Cuối năm 1983 thấy Sài Gòn tiêu điều nhợt nhạt do thiếu lương thực, thiếu viện trợ và nhất là thiếu điện chiếu sáng vào mỗi đêm suốt mấy năm liền, các con đường lớn và nhất là các hẻm nhỏ thường tối om om từ lúc mới chạng vạng tối.

Điện ở Sài Gòn bị cúp hay bị yếu thường không được thông báo trước, trong thuật ngữ ngành điện gọi là blackout (cúp điện) hay brownout (điện yếu), còn cúp luân phiên theo kế hoạch thì được gọi là rolling blackout.

Nghe người lớn kể lại: Tối om om do cúp điện hay thiếu điện ở Sài Gòn suốt thời chiến tranh 1954-1975 là rất hiếm khi xảy ra, chỉ trừ khi nào có chiến sự lớn hay có chính biến thì Sài Gòn mới phải cúp điện vài giờ. Sau vài giờ cúp thì đèn điện lại sáng tưng bừng. Sài Gòn ngày trước sáng như một viên ngọc chắc nhờ đèn điện sáng choang chứ chắc chưa hẳn vì nó là một viên ngọc thực, bởi suy xét lịch sử mới thấy trong lòng nó luôn chất chứa quá nhiều cát bụi.

Những ngày tháng đó, rất nhiều người Sài Gòn muốn ra đi, vì Sài Gòn u ám quá, chắc cũng một phần do cúp điện hay yếu điện. Nhưng muốn bỏ đi nước ngoài thì cũng phải có vàng, có tiền… mới đi được.

Thời gian trôi nhanh, những câu chuyện ngày cũ giờ đây đã trở thành những kỷ niệm buồn vui, có khi hằn sâu sắc trong ký ức hay có khi đã đi vào quên lãng. Những chuyện còn nhớ được, về già mỗi lần ai hay chính mình nhắc lại lòng bỗng thấy tưng tưng.

Nói chung, những dư vị buồn vui của một Sài Gòn khó nhọc sau ngày hòa bình sẽ khó mà quên được, bởi nó ấn tượng, có khi nó gây đau đớn, có khi nó làm mình buồn cười mà cũng có khi làm lòng mình buồn rười rượi... mỗi khi nhớ lại.

Mấy người chung ký ức Sài Gòn với tôi vào thời gian đó bây giờ có khi đã đi xa thật, xa không phải chỉ về không gian mà xa cả thời gian… Nay ngồi nghĩ lại, thấy đời người sao giống như những chiếc lá vàng rơi. Mình chắc cũng sắp rơi…

Áo quần thời khổ... 

Hồi về lại Sài Gòn cuối năm 1980 tôi có hai cái quần kaki cũ từ thời còn làm trong nhà nước cứ thế mà vá đụp vá chằng mặc đi học, áo cũng còn hai cái cũ. Hai bộ áo quần dù đã cũ và rách nhiều chỗ, nhưng suy nghĩ thế là cũng tươm tất lắm rồi. So với những người nghèo đói ở nông thôn miền Nam mà tôi biết vào lúc ấy… mình cũng còn chưa đến nỗi nào.

Năm 1980 tôi ghé ngang Bến Cầu tỉnh Tây Ninh nghỉ chân trên đường tìm về lại Sài Gòn, thấy có người đàn ông mặc quần đùi ngắn củn cởn may bằng vãi của bao bột mì Liên Xô. Lại chứng kiến có người đàn bà bán quán nước lớn tuổi đang cởi trần chắc vì phải nhường áo cho con gái mặc… Thằng bạn trời ơi làm bộ mắng yêu cô con gái: Lẽ ra em phải biết hy sinh để cho má được ăn mặc tươm tất một chút, em còn trẻ thì ăn mặc sao cũng được, sao lại giành áo của má để má phải cởi trần? Sao em không đưa áo cho má mặc?

Gặp cô gái thuộc loại không vừa, cô đốp chát lại ngay: Má em bắt em mặc áo đó, má nói má già rồi có cởi trần đưa vú ra ngoài cũng không sao. Còn nếu em cởi trần thì chắc mấy anh nổ con mắt thành thương binh hết, tội nghiệp cho mấy anh.

Hai mẹ con dựng quán bán thứ nước ngọt tổ hợp hổ lốn cùng các thứ bánh trái rẻ tiền trên con đường ven biên giới. Chắc họ quá nghèo nên không thể đi ra khỏi nơi đây. Hay là vì không thể cởi trần đi khỏi nơi đây?

Bà già nghe con gái đối đáp liền cười hềnh hệch giơ nguyên hàm răng sún góp lời: Mấy thằng mày ghê lắm, tao già háp cởi trần mà có thằng còn lén nhìn tao đăm đăm như muốn ăn tươi nuốt sống, con gái tao mà cởi trần chắc tụi bây thành quỉ quá! 

Nói xong bà già lấy bàn tay dơ chùi vào bộ ngực nhăn nheo đi bỏ đi vào phía trong. Thằng bạn nói lén: Tay bà già mới bốc bánh cho tụi mình ăn rồi bả chùi lên ngực tụi bây ơi!

Từng thấy những cảnh đó nên dù chỉ có hai bộ quần áo cũ để đi học, tôi vẫn tự an ủi hai bộ quần áo mà biết giữ gìn cho khéo thì cũng có cái thay ra thay vào đến trường đến lớp với người ta. Với lại, nhìn lại mấy đứa em trai ở nhà thì cũng chẳng đứa nào có đồ mới để mà mặc đi học, có đứa tuổi đã mười bảy mà phải mặc bộ đồ củn cởn của tuổi mười ba, thấy mình có hai bộ quần áo cũ để đi học cũng còn tốt chán.

Tôi mặc bộ áo quần kaki như thế tới trường. Các bạn trẻ thuộc các gia đình có điều kiện thì được mặc quần áo thay đổi liên tục. Mấy năm khó khăn đó thấy có chị đã biết mặc quần jean áo pull, có chị biết mặc đầm xòe đi học. Còn tôi thì năm năm 1980-1985 cứ đồ rách đồ cũ mà chơi.

Cuối năm 1981, bà chị bạn dì tình cờ gặp tôi lóc cóc đạp xe đạp đi học trên con đường Đinh Tiên Hoàng thơ mộng với cái quần kaki rách, bà thương hại nói để tao may tặng cho mày một cái quần tây đen và một cái áo sơ-mi mới để đi học với người ta. Ít gì cũng là sinh viên đại học, không nên mặc quần áo vá đùm vá chụp, cũng không nên mặc đồ may bằng vãi bao bột mì Liên Xô viện trợ, loại vãi bao bì này ưa sinh rệp cắn ở mấy khe kín rất ngứa ngáy. 

Bà chị bạn dì của tôi lúc ấy vừa đang học đại học, vừa học may vá quần áo cho đàn bà con gái trong xóm chợ Lăng Cha Cả nhằm kiếm chút đỉnh tiền xài.

Quần tây đen bà chị bạn dì mới may cho, mặc được một hai lần tới trường thì tôi phải bỏ ở nhà vì bạn bè cùng lớp cứ nhìn tôi mà cười cợt. Bà chị ấy may quần tây đen cho tôi giống y như quần lĩnh bóng của đàn bà, có gắn thêm cái dây kéo fermeture ở một bên hông, mỗi lần muốn đi tiêu đi tiểu tôi cũng chẳng biết phải làm sao cho tiện.

Cái áo màu đỏ nâu của bà chị tôi mặc đi học được suốt mấy năm, mặc hoài thành thương hiệu cho tới lúc tuổi già. 

Mấy chục năm sau tình cờ gặp lại một chị bạn cùng trường, chị còn nhắc: Hồi đó em nhớ anh có cái áo màu nâu đỏ mặc hoài suốt mấy năm học, tới bây giờ đã mấy mươi năm rồi mà em vẫn còn nhớ rõ cái màu là lạ của cái áo. Ủa, sao hồi đó ngày nào anh cũng mặc cái áo màu đỏ đó hoài được vậy?

Tôi thở dài: Tội nghiệp tôi lắm cô ơi. Hồi thời nghèo đói đó cứ tối tối là tôi phải cởi trần nhúng nước cái áo màu nâu đỏ rồi phơi hong ra gió cho kịp khô để sáng mai có cái áo khô mà đi học tiếp. Hồi đó nhà nghèo làm gì có xà bông để giặt đồ, chỉ dùng nước trơn để nhúng áo rồi phơi gió, thế nên áo lâu ngày phải có mùi hôi.

Hồi đó vô trường tôi ít dám đứng hay ngồi gần mấy cô bạn trẻ đẹp xinh cùng trường cùng lớp lắm, tôi thường ngồi một mình ở chiếc bàn cuối lớp, chắc ngồi một mình để tự ngửi mùi mình. Chắc cũng vì vậy mà suốt mấy năm học tôi không dám nói yêu ai, thậm chí riết rồi thành người xa lạ với đám bạn gái trong lớp trong trường. Tôi chỉ dám đứng xa xa nhìn ngắm người ta để rồi vẽ lại. Nhiều người không biết chuyện lại khen: Thằng này chỉ lo học, không tới trường để yêu đương gái gú bậy bạ, chắc nó phải học giỏi lắm đây.

Giỏi con khỉ gì! Hết năm thứ ba là tôi bị lưu ban đó cô. 

Cô bạn: Tội nghiệp anh quá đi! Ừ... mà anh nói anh đứng xa xa nhìn ngắm chúng em rồi anh vẽ. Vậy anh vẽ cái gì vậy?

Tôi: Thì vẽ bậy vẽ bạ đó mà! Giờ già quá rồi hết nhớ được.

Năm năm học trôi qua tôi luôn đứng xa xa ngắm đàn bà con gái. Ngày ra trường tôi ra chợ đồ cũ mua một bộ áo quần tàm tạm để có thể bỏ áo sơ-mi vô thùng mà đi xin việc. Cũng lăn qua lộn lại mấy cơ quan, từ Sài Gòn rồi xuống tỉnh tìm việc này việc kia hết mấy tháng, cuối cùng được nhận vô cảng Sài Gòn đi xà-lan.

Làm nghề sông nước thì được phép ăn mặc khá tự do, xà lan nóng nực nên tôi hay mặc trần xì cái quần xà-lỏn hay cái quần chip đi đi lại lại trên boong tàu kiểm tra hàng hóa hay thiết bị tàu. Lâu lâu về Sài Gòn mới phải khoác vội bộ áo quần bảo hộ lao động lên văn phòng ký giấy tờ. Suốt hai ba năm sau khi ra trường, chuyện ăn mặc quần áo cho chỉnh tề không quan trọng lắm vì ngoài hiện trường sông nước nóng bức chủ yếu là cởi trần.

Cởi trần hồi đi xà lan trên sông là vì nóng bức, chứ không phải vì hoàn cảnh nghèo bắt buộc phải cởi trần để nhường áo cho con gái như bà già bán nước ngọt ở Bến Cầu mà tôi biết năm nào.

Áo quần thời sướng...

Sau này… tôi được phân công lên bờ làm đại lý hàng hải để quản lý công việc xuất nhập cảnh các tàu biển nước ngoài đến Sài Gòn, Vũng Tàu bốc xếp hàng xuất nhập khẩu. Cơ quan bắt buộc tôi phải ăn mặc quần áo chỉnh tề để đi đối ngoại. Bắt đầu có chút tiền nên tôi có thể mua quần jean áo thun áo sơ-mi bỏ vào quần tây kéo fermeture phía trước. Biết thắt nịt da gọn gàng, biết mang giày tây đánh xi bóng để làm việc với người nước ngoài, biết mang cặp Samsonite.

Nhưng dù có tiền rồi tôi cũng còn giữ một thói quen rất kỳ cục từ thuở hàn vi là không thể thoải mái khi mặc đồ mới hay đồ lớn được, không thể mang cà-vạt lâu vì mỗi lần mang cà-vạt tôi có cảm tưởng như đang bị ai thắt cổ hay bóp cổ không nói tiếng Anh trơn tru được. Làm kinh tế đối ngoại nhiều năm nhưng suốt cuộc đời làm việc của tôi chỉ có một cái áo vest duy nhất hồi năm 1989 may để mặc trong đám cưới, lâu lắm khi nào có dịp rất quan trọng tôi mới lấy chiếc áo vest này ra mặc thêm một lần.

Thường tôi chỉ mặc chiếc áo vest khi nào ra phi trường Tân Sơn Nhất hay phi trường Nội Bài đón các đoàn đại biểu hàng hải ngoại thương sang làm việc hay sang ký hợp đồng với cơ quan.

Cái áo vest duy nhất để đối ngoại của tôi bị một lỗ thủng nhỏ, do vào ngày đám cưới khách uống nhiều rượu bị say, họ hút thuốc rồi vô ý gạt tàn thuốc vào, cái áo vest bị cháy một lỗ nhỏ nằm phía bên vạt áo trái phía trước. 

Hồi còn làm cho nhà nước vào năm 1990, tôi được cơ quan phân công tiếp đoàn đại biểu của một hãng tàu Pháp sang Việt Nam mở tuyến tàu container nối kết cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn của Việt nam và cảng trung chuyển Singapore. Nếu nối kết được thành công thì hàng xuất khẩu của Việt nam sẽ được chuyển đến tập trung tại Singapore, và rồi từ Singapore có thể đi khắp các cảng trên thế giới. Hãng tàu này cũng dự định xây mới cảng container Tân Thuận. Tôi mặc áo vest đón khách và làm việc mấy hôm.

Công việc đối ngoại tiếp khách của tôi cứ trôi trôi như vậy với cái áo vest duy nhất bị lủng một lỗ cho tới khi tôi bỏ nhà nước ra ngoài làm cho tư nhân vào năm 1995.

Năm 1997 tôi thay mặt cho hãng tàu Ben Line Agencies của Singapore đi tiếp đón ông giám đốc tiếp thị một hãng tàu container của khối Ả Rập muốn mở tuyến tàu nối Sài Gòn, Hải Phòng với mấy nước Trung Đông. 

Tôi lại mặc chiếc áo vest này đi ra phi trường đón khách.

Ông giám đốc tiếp thị của hãng tàu Ả Rập bây giờ té ra chính là ông giám đốc marketing của hãng tàu Pháp ngày trước đã gặp tôi năm 1990. Vừa check-in xong, ra khỏi phòng khách của phi trường gặp tôi đứng cầm bảng tên đứng đón, ông này ghé tai tôi nói nhỏ: Đã mấy năm rồi nhưng khi mới nhìn thấy ông tôi đã nhận ra ông ngay.

Tôi hỏi nịnh: Sao ông tài quá vậy? Tôi nghĩ nhận xét của ông tinh tế, trí nhớ của ông thật là tốt, chắc hồi nhỏ ông học hành giỏi lắm? Chắc ông chưa bao giờ thi rớt ở lại lớp?

Ông Tây cười hóm hỉnh trả lời: Chẳng có gì tài năng cả. Tôi nhận ra ông vì ông cũng còn mặc cái áo vest bị cháy một đốm ở vạt phía trước này. Nói xong, ông lấy tay chỉ vào chỗ lỗ thủng trên vạt áo trước của tôi. Rồi ông tiếp: Với lại ông chẳng bao giờ chịu mang cà-vạt cả. Người châu Âu tiếp khách lúc nào cũng ráng thắt cái cà-vạt. Người châu Âu rất ngạc nhiên khi thấy người ta trang trọng ra sân bay đón mình mà không thèm mang cà-vạt. Bảy tám năm rồi tôi thấy ông vẫn vậy.

Tôi nhột lắm nên định sau chuyến đó sẽ may một cái áo vest mới để thay cho cái áo vest cũ bị lủng một lỗ vì cháy tàn thuốc.  Cũng tự nhủ với lòng mình sẽ mang cà-vạt thắt cổ thường xuyên. 

Định vậy thôi chứ chưa bao giờ làm, vì năm nay là năm 2021 rồi, kiểm tra lại tủ quần áo tôi vẫn chỉ có một cái áo vest duy nhất mà thôi, áo này may vào năm 1989 khi tôi mới cưới vợ, cái áo bị lủng một lỗ.

Năm 1989 khi tôi lần đầu tiên biết mặc áo vest để đám cưới và sau đó biết mặc áo vest để đi đối ngoại tiếp đón khách nước ngoài… thì trong suy nghĩ của tôi: Sài Gòn sắp thay đổi, sắp bắt đầu một thời gian mới khởi sắc, sắp chấm dứt mười lăm năm tối om om.

Tôi theo dõi trong hồi hộp lo lắng và rồi thấy Sài Gòn bắt đầu từ năm 1989 đã bớt brownout và blackout, kinh tế Sài Gòn bớt u ám nên lượng người gốc Hoa và người Việt tìm cách vượt biên nhằm đi tìm một đời sống tốt đẹp hơn ở nước ngoài đã bắt đầu giảm hẳn. Và một hai năm sau thì chuyện vượt biên có lẽ đã chấm dứt.

Năm 1991 khi có được đứa con trai đầu lòng, tôi nhủ lòng: Nhứt định không để cho thằng nhỏ này phải khổ sở vì quần vì áo như mình thời đi học 1980-1985. Nó sẽ có đủ quần đủ áo thay đổi mà đi học cho khỏi mặc cảm với bạn bè. Ta cũng sẽ nhớ rất kỹ, ta sẽ may cho mày một loạt quần tây mới toanh mà không có cái nào phải kéo fermeture ở bên hông.

Momentary Notes
27/5/2021

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

Ne me quitte pas!

Momentary notes

Khi vào tiếp quản Sài Gòn vào tháng Năm 1975, có lẽ hai mặt hàng mà mấy người lính miền Bắc muốn tìm mua nhiều nhứt là cái đài chạy bằng transitor bán dẫn (là cái máy thu thanh, dân Sài Gòn gọi là cái ra-dô/ radio) và cái đồng hồ đeo tay. 

Lúc đầu tôi thấy lạ, cuối năm 1976 được phân công lên vùng cao công tác… tôi mới thấy rõ hai vật mình cần có nhứt vào lúc đó cũng chính là cái đồng hồ và cái radio. Chắc tôi giống như mấy anh bộ đội ngoài Bắc hồi giữa năm 1975 rồi. Nhưng có vài điểm khác biệt, người ngoài Bắc thích xài đồng hồ Seiko tự động automatic của Nhựt-bổn có cửa sổ ghi ngày tháng, còn tôi rất thích loại đồng hồ hiệu Poljot lên dây cót bằng tay của Nga, chắc do cái vỏ ngoài của Poljot trông cứng cáp bền chắc hơn Seiko, nghĩ mình có lỡ va chạm mạnh cũng sẽ không làm đồng hồ bị đứng kim.

Radio thì người vùng ngoài thường gọi là cái đài. Nghe nói trong thời gian chiến tranh 1954-1975 dân ngoài Bắc chỉ được nghe một đài Hà Nội do nhà nước độc quyền phát thanh thôi, nếu bị công an bắt quả tang đang lén nghe đài Sài Gòn hay nghe đài nước ngoài có khi bị đưa đi cải tạo mút chỉ cà tha. Có lẽ sau 1975 chính quyền có nhiều chuyện quan trọng hơn cần phải làm nên họ không còn để ý kiểm soát gắt gao chuyện dân lén nghe đài nào nữa. Nên cứ bỏ tiền ra mua một cái radio của Nhựt-bổn, của Mỹ hay của Hà Lan… rồi muốn nghe đài gì thì cứ một mình len lén mà nghe, nhưng nhớ vặn volume nho nhỏ đừng cho hàng xóm biết là được rồi. 

Đồng hồ để xem thời gian mà làm việc cho đúng qui định, như tôi hồi mấy năm đó cứ sáng sáng bảy giờ mở cửa làm việc cho tới mười một giờ trưa rồi chuẩn bị thu xếp đồ nghề gọn gàng để tự lo bữa ăn trưa, chiều làm việc từ một giờ tới bốn giờ… xong xuôi đóng cửa ra ngoài đi lang thang kiếm nhà quen quen nào đó gần gần trong vùng mình đang làm việc để xin góp gạo góp khoai ăn ké buổi chiều. 

Ăn một mình buồn lắm, ăn chung với nhiều người càng đông càng vui, có dịp nói chuyện qua lại với nhau cho mình đỡ cô đơn. 

Bữa cơm chiều vùng cao thời đó thiếu gạo và thiếu đạm. Ăn chung với người ta hay nghe người ta hỏi: Sài Gòn có gì lạ không? Chắc họ biết tôi có cái đài vặn eo éo suốt ngày ở chỗ mình đang làm việc.

Tôi trả lời: Nghe trên đài sáng nay nói tình hình không có gì lạ. Nhân dân đang hào hứng thi đua lao động sản xuất sáng tạo để xây dựng thành công... Người ta liền ngắt lời: Mấy cái đó tôi biết hết rồi! Ý tôi hỏi là Sài Gòn lúc này số người vượt biên có nhiều dữ hôn? Có thiếu ăn dữ hôn? Mấy người bị đưa đi học tập cải tạo được thả về nhà nhiều chưa?

Tôi: Trên đài có nói tới mấy cái chuyện đó đâu mà tôi biết để mà trả lời cho mấy người? Hỏi mấy câu dễ chết không à.

Nghe đài... ngoài việc để nghe những tin tức mà ai ai cũng đã biết theo ý muốn của chính quyền... còn để sáng sáng chúa nhật tôi đón nghe chương trình nhạc nước ngoài theo yêu cầu của thính giả. Suốt từ năm 1976 tới năm 1980, mỗi sáng chúa nhật đài phát thanh Sài Gòn có phát chương trình nhạc nước ngoài theo yêu cầu (không biết có ai yêu cầu thiệt hay không, hay là đài phát thanh tự nói vậy cho xôm tụ). 

Nhạc nước ngoài phát từ đài phát thanh nhà nước ở  Sài Gòn phát về các tỉnh suốt năm năm đó chỉ có mấy bài tủ cho tới nay tôi vẫn còn nhớ hoài: Triệu đóa hoa hồng, Kachiusa, Đôi bờ… và một hai bài nhà nước chọn của Tây của Mỹ như Đồng xanh, Ngôi nhà mặt trời mọc, Papa… Chương trình nhạc này thời lượng chỉ có nửa tiếng đồng hồ từ mười giờ sáng cho tới mười giờ rưỡi ngày chúa nhật. Phát đi phát lại mấy bài đó cho tới hết giờ rồi thôi. Suốt năm năm cũng chỉ có chừng đó bài. 

Quên nữa, còn có bài Thuở ấy tuổi thanh xuân, nhạc Liên Xô do anh Chung Tử Lưu ca... 

Nghe mấy bài hát đó tôi không thích chút nào nhưng cứ phải nghe mãi cho nó đỡ buồn. Bài tôi thích thì họ đâu có phát. Nói cho cùng, ở vùng sâu vùng xa không có gì để giải trí, một tuần nghe mấy bài đó phát đi phát lại trên đài mình cũng cảm thấy đỡ đỡ buồn. Có còn hơn không. Có thêm tiếng người dù là tiếng người từ cái radio mình cũng cảm thấy đỡ cô đơn...

Nhứt là vào mấy ngày mưa bão dầm dề, sống một mình mà không có cái đài phát tiếng e-e chắc mình chết sớm quá.

Ban ngày nghe đài nhà nước. Tới tối đóng kín cửa hay kiếm chỗ nào vắng vẻ nghe đài VOA hay đài BBC phát bằng tiếng Việt... để biết thêm đôi chút về mấy người nghệ sĩ Sài Gòn nổi tiếng, ai còn ở lại trong nước và ai đã bỏ đi nước ngoài. Biết thêm được chút đỉnh tình hình thế giới đang thay đổi ra sao. 

Mấy năm đó mấy đài đặt bên Trung Quốc phát sóng cực mạnh trên nhiều tần số, họ tuyên truyền chống đối chính quyền Việt Nam khá gay gắt. Có đêm nghe một đài lạ nói ông Nguyễn Cao Kỳ mới lén đi trực thăng từ Mỹ về Lâm Đồng rồi nhảy dù xuống Cầu Đất để chuẩn bị họp hành với các lãnh đạo dân tộc thiểu số của mặt trận Fulro… Tối đó tôi nín tiểu cả đêm không dám bước ra khỏi trạm đi vệ sinh vì lúc đó mình đang làm việc và ở ngay trong trạm y tế Cầu Đất.

“Trên đài có gì lạ không anh?”

Ở Cầu Đất, ở Bảo Lộc, ở Long Khánh, ở Bến Tre rồi Tây Ninh... suốt năm năm dài đã có bao nhiêu người hỏi tôi câu đó khi họ nhìn thấy tôi hay nghe đài. Khá nhiều người hỏi bởi vì họ không hề biết tôi vặn đài lên cho có tiếng người thôi chớ tôi đâu có lắng nghe được gì... Cho tới giờ tôi không nhớ hết được bao nhiêu người đã hỏi mình: Trên đài có gì lạ không anh? Nhiều người hỏi tôi câu đó đã không còn ở Việt Nam lâu rồi. Họ đã bỏ ra đi với nhiều lý do, không biết có ai ra đi vì muốn ra nước ngoài để được nghe tin tức radio thiệt là nhiều và nghe nhạc vàng cho nó đã? 

Có khi vì phải nghe đi nghe lại mấy cái tin tức một chiều ngày này qua ngày khác, phải nghe mấy bài nhạc cũ mèm dở ẹc không thể chịu đựng nổi nữa nên họ đã bỏ đất nước này mà ra đi? Tôi không gặp lại bọn họ nên tới giờ tôi không rõ lắm. 

Có nhiều người tôi không quan tâm tới chuyện họ đi hay họ ở, nhưng cũng có nhiều người khi họ bỏ ra đi đã làm tôi buồn rầu có khi buồn ít có khi buồn nhiều tới phát khóc... Hồi đó mình còn trẻ, còn sung nên tình cảm bạn bè khác phái hay tình cảm trai gái yêu đương lai láng có nhiều hơn mức bình thường một chút chắc cũng không có gì là lạ. 

Có người bỏ ra đi nhưng mình cảm thấy hết sức dửng dưng, có người bỏ ra đi đã làm mình nức nở gào lên như cố nhạc sĩ Jacques Brel: Đừng bỏ tôi ở lại một mình! Je ne quitte pas!

Cái đài và cái đồng hồ đeo tay thân thiết với tôi cho tới cuối năm 1980. Về tới Sài Gòn thì tôi không cần chúng nữa vì ở Sài Gòn phố xá lúc đó đông người qua lại, nhiều người vẫn còn đeo đồng hồ, mình không biết bây giờ là mấy giờ thì có thể hỏi thăm người này hay hỏi nhờ người khác. 

Ra ngồi ngoài quán cà-phê sẽ biết được nhiều tin tức hay ho sốt dẻo hơn là ngồi căng tai ra nghe tin tức của các đài nhà nước. Tại các quán cà-phê cóc hay các nơi bạn bè tụ tập đàn ca thường có máy cassette để mình nghe lại các bản nhạc vàng Sài Gòn thời trước 1975 hay nhạc tình của Tây. Ở đó, ngồi nghe những bài nhạc nước ngoài sướt mướt cảm thấy thoải mái hơn là nghe chương trình nhạc yêu cầu được phát trên đài. Năm 1980 Sài Gòn tuy rất nghèo tiền nghèo gạo nhưng các bài nhạc vàng trong dân gian đã phong phú khá tự do nhờ các băng nhạc cassette chui. Nói vậy chớ đừng hứng quá, vặn volume to quá là coi chừng có chuyện.

Nhạc trước 1975 hay sau 1975 đều có bài hay bài dở. Thời nào cũng có người hát hay và người hát dở ẹc. Mỗi người nghe cũng có các sở thích rất khác nhau... 

Có bài hát tôi thích nghe hoài mấy chục năm, nghe từ hồi còn học trung học cho tới lúc bị banh-ta-lông cũng còn rưng rưng nước mắt mỗi lần nghe. Đó là bài Đừng bỏ tôi ở lại một mình/ Ne me quitte pas! Chắc là vì bài hát đó hợp với tâm trạng cuộc đời mình, cả cuộc đời mình chưa hề biết bỏ rơi ai mà chỉ bị người khác xù.

Năm năm 1975-1980 tôi gắn bó với cái đài và cái đồng hồ. Năm năm 1980-1985 tôi gắn bó với trường với lớp...

Cuối năm 1980 tôi vào học chung một lớp Anh văn với mấy anh chị trẻ có già có. Bên nam lớn tuổi có anh Hậu, anh Xá, anh Lân, anh Lâm, tôi (Momentary Notes) và anh Nguyễn Tuấn trưởng lớp. Nam sinh viên trẻ tuổi hơn có các anh Nghiêm, Hiếu, Lượng, Thảo, Hùng, Hiệp, Bửu, Lương Tuấn. Sinh viên nữ khóa 1980 thường là từ lớp 12 thi lên thẳng đại học, họ ít tuổi hơn so với bên nam, có các chị Kim Nguyên, Bích Thu, Thu, Dung, Lý, Trầm Hương, Thanh Hương, Thanh Nhàn, Lan Hương, Đoan Hậu, Ngọc Nhâm, Mỹ Hạnh, Hạnh, Thanh Hoa, Vân Anh, Bích Ngân…

Nhiều bạn đã đi ra nước ngoài sinh sống, nhưng tính ra vẫn còn quá phân nửa ở lại Việt Nam.

Một người mất sớm do tai nạn giao thông là anh Hậu, còn đa số cả nam lẫn nữ nghe nói vẫn còn đang rất mạnh khỏe sống phây phây, chỉ một hai người ngáp ngáp giống như tôi.    

Các thầy cô dạy lớp Anh văn Tổng hợp năm học 1980... tôi vẫn còn nhớ rõ. Thầy Bách, thầy Xiêm đã bỏ Sài Gòn ra đi khá sớm, thầy Diệm ở lại dạy học và đã mất trên chục năm rồi. Các cô giáo đều trẻ tuổi. Đã ra nước ngoài sống như cô Hải, cô Loan, cô Thuý. Ở lại còn cô Nguyệt và cô Hạnh...

Các cô giáo dạy lớp chúng tôi vào năm 1980 khá trẻ tuổi, chắc tuổi họ chỉ xấp xỉ bằng tuổi của tôi thôi. Họ nhỏ tuổi hơn anh Hậu, anh Xá. Sau 1975 vì thiếu giáo viên tiếng Anh, trường đã đưa các sinh viên vừa mới tốt nghiệp xuống dạy học cho các lớp dưới. Còn mấy anh học trò già vì hoàn cảnh này khác sau năm 1975 phải bỏ học vài năm mới được cho đi học lại, nên khi bước vào lớp cuối năm 1980 có trò lớn tuổi hơn các cô giáo trẻ.

Cũng không biết khi các cô giáo trẻ bỏ trường bỏ lớp bỏ Sài Gòn ra đi, có anh học trò già nào đã gào lên nức nở: Ne me quitte pas!