Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình yêu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình yêu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

THEO DÒNG (9).

Anh Luận đi chính thức qua Mỹ, làm việc mấy chục năm kiếm được ít vốn. Anh muốn quay về Sài Gòn kiếm cách đầu tư, làm ăn. Chắc là anh còn thương nhớ cái “berceau” Sài Gòn, chắc là anh muốn lỡ mà có chết thì chết ở Sài Gòn. Chắc là… 

Một lần anh nói chuyện với tôi: Cái chết của ông Ngô Đình Diệm vào ngày 02/11/1963 đã để lại nhiều câu hỏi lớn cho những người dân Bắc di cư như tôi. Những câu hỏi mang tính chất bi quan và tuyệt vọng vì tình hình Sài Gòn những năm đó ngày càng xấu đi. Năm 1967 ông Nguyễn văn Thiệu được bầu làm tổng thống, tình hình càng trở nên xấu hơn. Năm 1975 thì chính quyền Sài Gòn bị mất hẳn. Tôi đi cải tạo ngoài Bắc. Hồi còn trong Sài Gòn tôi có những câu hỏi có thể tóm lại như sau:

1-Ông Ngô Đình Diệm và em là ông Ngô Đình Nhu bị người Mỹ giết có phải vì hai ông không đồng ý cho người Mỹ đem quân vào Việt Nam, không muốn người Mỹ can thiệp quá sâu vào chuyện Việt Nam? Hai ông muốn độc lập?

2-Ông Diệm độc tài và đàn áp Phật giáo, làm mất chính nghĩa tự do và thiên vị Công giáo quá rõ. Nên các tướng lĩnh dựa vào đó mà tìm cách khai trừ ông ra khỏi chính quyền như một cách tạo dựng lại sự tự do, sự công bằng tôn giáo tại miền Nam?

3-Ông Diệm thì tốt, nhưng những người trong gia đình ông như vợ chồng ông Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Cẩn quá xấu xa và quá lộng quyền nên gây ra sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội miền Nam. Do đó cuộc đảo chính ngày 01/11/1963 là phương cách bắt buộc để quân đội quốc gia có thể loại trừ một chính quyền độc tài gia đình trị?

4-Những con số thống kê kinh tế tài chính giai đoạn thời Đệ nhất Cộng hòa là những con số ảo? Tính từ đầu năm 1962 nền kinh tế miền Nam chỉ có cái vỏ, còn cái ruột là viện trợ của Mỹ. Do đó, người Mỹ với viện trợ dồi dào hoàn toàn chi phối chính quyền miền Nam, họ muốn làm gì thì làm?

5-Sau ngày 01/11/1963 Sài Gòn và cả miền Nam lâm vào tình trạng rối loạn từ trong nội bộ lẫn do áp lực Cộng Sản. Nếu còn chính quyền ông Diệm thì chưa chắc tình trạng xấu đó đã xảy ra? Nếu còn ông Diệm thì chưa chắc chính quyền Sài Gòn bị sụp đổ tan tành vào ngày 30/4/1975

6-Việc đưa quân lính Mỹ trực tiếp tham chiến tại Việt Nam là bắt buộc? Hay chính quyền Sài Gòn vẫn có thể tự túc chống Cộng bảo vệ miền Nam mà không cần quân đội Mỹ vào can thiệp? Không có người Mỹ thì Sài Gòn vẫn tồn tại được?

7-…

Anh Luận muốn nói thêm câu hỏi số 7 cho tới số mấy chục gì đó nhưng nghe mới tới đó tôi liền lắc đầu ngăn anh Luận lại: Thôi đi ông nội. Tôi chỉ lo làm kinh tế kiếm cơm thôi, tôi không quan tâm tới những chuyện đó đâu. Tôi sợ bị bệnh đau đầu lắm. Làm ăn ở Sài Gòn ngày càng khó càng mệt, rảnh rỗi tôi muốn nghe cô ca sĩ Dalida hát: Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời… chớ không muốn nghe chuyện rắc rối ngày xưa hay chuyện chính trị chính em bây giờ.

Anh Luận: Hồi bị đưa ra ngoài Bắc cải tạo tôi cũng thỉnh thoảng muốn nghe Dalida hát mà làm gì có Dalida, nên tôi ưa hát lầm bầm trong họng mấy câu nhạc Pháp cho đỡ nhớ cô Dalida.

Cán bộ nghe được liền hỏi: Tiếc nuối tàn dư đế quốc thực dân lắm hả? Muốn ở tù mọt gông không? Tôi trả lời: Tú-lơ-mông đều muốn nghe Dalida hát ông cán bộ à, chớ không phải riêng mình tôi đâu. Cán bộ mắng: Ra tới ngoài đây rồi mà còn mông với vú, mấy anh Sài Gòn sa đoạ đồi trụy ngoan cố thấy mẹ. Tôi cãi lại: Cán bộ ơi nhìn lại đi, tú-lê-dua tôi đã làm chăm chỉ hết mọi việc do các ông sai bảo hết rồi mà. Cán bộ càng mắng mỏ dữ: Thôi đủ rồi nghe. Ông cứ tú, mông, lê mãi tôi cho ông đi mút chỉ cà tha luôn đó.

Thế là sau đó tôi chỉ dám nói tiếng Việt và hết dám hát tiếng Tây.

Những năm cải tạo ban đầu gian khó lắm, lao động nhiều bệnh tật nhiều mà cơm không đủ ăn, thuốc không có để chữa bệnh. Một số người chết vì bệnh tật, do không quen thời tiết khí hậu khắc nghiệt, do không quen ăn uống kham khổ. Số người được cho về nhà từ từ cũng nhiều, nhưng riêng anh Luận là cấp sĩ quan to nên bị giữ lại khá lâu. Anh Luận cũng không biết phải do anh ưa tú, mông, lê… nên bị giữ lại ngoài Bắc lâu quá không? 

Anh Luận kể anh trở về Sài Gòn theo chuyến tàu vét cuối cùng tháng tư năm 1992. Chuyến đó là chuyến chuyên chở những người cải tạo cuối cùng còn sót lại trên đất Bắc. Ngày đó đứng trên ga Hàng Cỏ anh thẩn thờ biết mười bảy năm dài đã trôi qua.

Ngoài Bắc anh nhớ mẹ lắm, mà mẹ anh chẳng còn sức khỏe để ra thăm anh được. Một ngày mưa gió trên đất Bắc nghe tin mẹ mất, anh viết bài “Nhớ Mẹ” rồi ôm đàn mà hát. Những năm sau cùng của cuộc đời cải tạo giống như giam lỏng thôi chớ không còn lao động nặng nề mấy, chế độ cải tạo đối với những sĩ quan Sài Gòn vào những năm cuối cùng không còn gay gắt như hồi những năm cuối thập kỷ 1970, nên anh Luận có xin được một cây đàn guitar làm bạn. Những tiếng đàn, tiếng hát đầu tiên là dành cho mẹ chớ không phải là cho người yêu hay cho vợ, vì vợ anh đã bỏ anh đi lấy người khác lâu rồi…

Cán bộ bảo: Thôi xin ông đừng hát nữa. Ông tru tréo nỉ non quá làm tôi nhớ mẹ tôi quá đi. Mấy năm rồi tôi cũng chưa về quê thăm mẹ được.

Về tới Sài Gòn anh không về nhà mình mà tìm về nhà mẹ. Mẹ anh mất lâu rồi. Nhìn đôi mắt mẹ trong tấm hình trên bàn thờ vẫn trong vắt như ngày anh chưa ra đi, anh Luận kể lại: Người đàn bà duy nhất trong đời tôi có đôi mắt trong vắt là mẹ. Người đàn bà duy nhất không bao giờ từ bỏ tôi, luôn thương yêu tôi cuối cùng chỉ là mẹ.

Anh Luận không về nhà của riêng mình, anh nói vợ anh đã có người chồng khác rồi, con anh đã có cha khác rồi.

Không chờ tôi tò mò hỏi thêm chuyện bà vợ, anh đã kể thêm: Cải tạo được ba năm thì vợ tôi có ra Bắc thăm tôi một lần duy nhất cùng với một người đàn ông lạ. Cô ấy nói nhờ ông này mà em mới có cơ hội ra thăm anh được. Em đi đường xa một mình không quen, em phải có bạn mới xa đi được. Người đàn ông lạ ngượng nghịu nói với anh Luận: Tôi chỉ là bạn của cô ấy, anh đừng lo lắng.

Thăm viếng được nửa giờ đồng hồ thì hết giờ thăm nuôi. Anh Luận hỏi vợ: Từ Sài Gòn ra tới đây mất mất ngày đường hả em? Vợ anh thản nhiên trả lời: Chỉ có một tuần lễ anh ạ, về chắc cũng mất một tuần lễ. Đi đường hết nửa tháng mà thăm anh chưa được một giờ, tiếc quá. Anh Luận đau đớn: Thôi em về đi, cứ coi anh như đã chết rồi. Vợ anh làm bộ rớt nước mắt: Dù sao cũng tình nghĩa vợ chồng, sao em làm vậy với anh được? Anh Luận: Em đã làm được rồi đấy thôi, em đã có bạn đường đấy thôi. Vợ anh Luận hỏi với giọng ráo hoảnh: Anh nói thực đi, bây giờ anh có còn thương em nữa không? Thương em thì phải tin em chớ?

Anh Luận thổn thức mà kể cho tôi nghe: Cậu có biết tôi trả lời với cô ấy thế nào không? Tôi trả lời: Không, tôi hết thương em rồi. Em về đi. Chỉ xin em đối xử với mẹ tôi và con tôi cho đàng hoàng là đủ.

Tôi hỏi anh Luận: Chị ấy phản ứng ra sao hả anh? Người đàn ông đi theo chị ấy suốt cả tuần lễ cả đêm lẫn ngày từ Sài Gòn ra Bắc phản ứng ra sao hả anh? Anh Luận cười không thấy vui hay buồn gì hết trơn: Thực ra vì uất ức quá mà tôi nói như vậy, giờ thăm nuôi cũng hết nên vội vã quá tôi chẳng để ý họ nghĩ gì, thái độ họ vui hay buồn, họ thỏa thê hay còn muốn gì nữa. Mà thôi tôi biết để làm gì. Thế là hết rồi!

Họ đi khỏi rồi. Tối nằm trong trại vắt tay lên trán mà vừa khóc nấc mà vừa vật vờ suy nghĩ. Hàng loạt câu hỏi tới giờ này tôi vẫn chưa biết phải trả lời sao. Tóm lại như sau:

1-Nếu người Mỹ không giết chết ông Diệm thì Sài Gòn có sụp đổ hay không? Sài Gòn không sụp đổ thì mình có phải ra ngoài Bắc học tập cải tạo hay không?

2-Nếu mình không đi cải tạo, gia đình mình có tan vỡ hay không? Nếu mình không đi cải tạo, vợ mình không phải ra Bắc thăm mình và cùng đi cả ngày lẫn đêm với một người đàn ông lạ khác thì cô ấy có bỏ mình ra đi lấy ông chồng khác hay không?

3-Nếu mình không đi ra Bắc, mình có thương mẹ mình đến nỗi khi nghe tin mẹ mất phải cất lên tiếng ca ai oán “Nhớ mẹ”? Bài ca này làm cho ông cán bộ cũng nức nở đòi bỏ về nhà. Tại sao ông ấy thương mẹ quá mà không thương vợ? Mà làm sao biết chắc ông ấy thương mẹ hơn thương vợ?

4-Có phải từ lâu rồi vợ mình chẳng còn thương yêu mình nữa, cho nên chỉ chờ mình bước ra khỏi nhà là cô ấy thay dạ đổi lòng?

5-Nếu mình không nói dại: Thôi em về đi, cứ coi anh như đã chết rồi. Em đã làm được rồi đấy thôi. Và vợ mình không hỏi: Anh nói thực đi, anh có còn thương em nữa không? Thì gia đình mình có tan vỡ hay không?

6-Nếu ngày trở về Sài Gòn mình nén lòng lại, quay trở về nhà của mình thì người đàn ông kia có chịu rút lui và vợ con mình sẽ quay lại với mình?

7-...

Như lần trước, anh Luận muốn hỏi thêm câu số 7 cho tới câu số mấy chục gì đó nhưng nghe tới đó tôi liền lắc đầu ngăn anh Luận lại: Thôi đi ông nội. Tôi chỉ lo làm kinh tế kiếm cơm thôi chớ không muốn nghe những câu chuyện tình cảm éo le quá. Nói qua chuyện khác cho vui đi.

4/4/2018.
Momentary Notes

Ảnh Dang Danh st



Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Chị ơi, em yêu chị

Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.
Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”.
Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”.

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!
Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mình , tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.
Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.
***

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.
Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v…

Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, l.ê.n g.i.ư.ờ.n.g…”
Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:
“Chị ơi, em yêu chị!”.
Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.
***

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.
Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:
“Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”.
Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?
Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.
Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.
Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”.

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.
***

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.
Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.
Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!
Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.
Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.
Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”.
Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?
Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.
***

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.
Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:
“Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”.
Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:
“Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”.
Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt
***

Năm th.á.n.g như bài ca, tình yêu như ngọn lửa
Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:

“Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

Nguồn: xaluan

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

BA GIÒNG NƯỚC MẮT



https://youtu.be/XMlDNlhIcPM
Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy.
Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

***
Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần "inh". Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng "con gái cầm roi đi quyền" đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá.
Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn.
Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính.
Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn "chúng mình ba đứa" nữa.
Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.
Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình được lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.
Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch.
Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần "anh về với em rồi anh lại đi". Có lẽ nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.
Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.
Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi nhà phía trước "thăm dân cho biết sự tình", không ngờ "hồn lỡ sa vào đôi mắt em", đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.
Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế.
Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị. Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.
Chỉ có thằng Bình là "số đẻ bọc điều". Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo "tán", sau các buổi tan trường.
Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập.
Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu : cháo trắng ăn với hột vịt muối.
Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao "đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng" như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán.
Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.
Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.
Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi "xác thân đã nhuốm mùi trần tục", một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.
Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói "lắm mối tối nằm không", đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.
Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà.
Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình.
Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học.
Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.
Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.
Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục.
Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..
Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.
Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.
Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện "học tập cải tạo" bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh "nước mất nhà tan" này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.
Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.
Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng.
Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.
Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.
Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ.
Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế "ứng chiến" để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình.
Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.
Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão.
Và vẫn còn hàng ria mép.
Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.
- Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.
- Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình. Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.
Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.
- Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.
Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự :
- Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao.
Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết.
Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.
Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.
- Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác ?
- Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi "mu" qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.
- Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác ?
- Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ.
Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.
Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về.
Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.
Người ra mở cửa là Mỵ Khê.
Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.
Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.
Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm. Tôi chưa biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.
- Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng.
Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống
- Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao ?
- Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.
- Bây giờ mày tính sao ? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày ?
- Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.
- Còn mày thì sao ?
- Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Nauy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.
Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời.
Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má.
Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.
Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.
Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định :
- Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.
Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình :
- Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về.
Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật.
Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.
Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà :
- Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối. Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào :
- Hello, Ninh ! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.
Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ.
Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.
phạmtínanninh

fb Pham xem share

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

LY CAFE

Em vắt nỗi buồn
Vào chiếc ly xinh định đem đi tặng
Anh muốn nhận
Thì đăng ký sớm nghe không

Ly cà phê cóc có gió lạnh đầu đông
Có nhịp đập gõ chênh vênh
trong tim người ở lại
Em đi xa
Bứt từng cơn nắng quái
Gửi ngược vài dòng tê tái buồn hiu

Rượu
Hay cà phê
Ly nào có hương tình yêu
Có vị nồng nàn môi em sót lại
Hỡi người đau tim vì hoài mê gái
Vắng em rồi
Anh uống mãi không say

Monghoa Vothi
1/5/2017

****

Đau tim khổ lắm chứ
Gái ở đâu mà mê
Thiên đường đang mở ngõ
Lối đi nào cũng thảm thê

Buồn chi mà phải vắt
Nhịp đập nào chênh vênh
Con tim đau ai thắt
Đứt bóng lấy gì nhớ quên

Muội thật là tinh quái
Ta giờ cũng hư hao
Cafe buồn đắng ngái
Tê tái chỉ càng thêm đau

Thôi thì xa dù nhớ
Vẫn có còn hơn không
Con chim hờn trách quở
Mà nghe hơi ấm trong lòng

Ngày hôm nay tan lễ
Gió chập chờn đi hoang
Đời vẫn là như thế
Sớm muộn gì rồi cũng tan

Cảm ơn cảm ơn nhé
Chén rượu hồng vừa trao
Say ư không rơi lệ
Lệ chẳng làm ta bớt đau...

Vui nha... huynh đi nhậu đây

TRẦN PHONG VŨ

****

Hey ! Chầm chậm chút
Rượu đang cơn lôi đình
Cà phê vừa giận dỗi
Uống gì cho em tin ?

Rằng người đi còn nhớ
Ở lại nhiều chênh vênh
Không leo mà mỏi gối
Con dốc nằm không yên

Con dốc chiều chủ nhật
Nghe gió vừa kêu tên
Chợt hồn như chấu cắn
Trách cao xanh vô tình

Phải đâu muội tinh quái
Chỉ tội huynh hay buồn
Giấu mùa thu đắng ngái
Uống một mình đau thương

Bên này chuông thánh lễ
Kêu bên kia nguyện cầu
Cuộc đời dù không dễ
Vẫn còn bao nhiệm màu

Biết ly này rơi lệ
Biết ly kia rơi sầu
Có ai về kịp hứng
Quất roi vào lòng nhau

Monghoa Vothi







Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

'Thư gửi chồng nhân ngày 20/11'




"Ngày xưa chồng quyết lấy cho được vợ vì chồng vốn mê phụ nữ có cái mác nhà giáo, bất chấp ngoài cái mác nhà giáo đó ra thì vợ chả có gì đặc sắc, lại còn mắc cái tính ngang ngạnh ẩm ương, dở tương dở mắm.

Chồng nghĩ giáo viên nhàn hạ, ngày vài tiết ở trường thôi, nhiều thời gian lắm đây. Vợ sẽ chu toàn tề gia nội trợ, hầu nội hầu ngoại. Chồng tha hồ thảnh thơi bù khú bạn bè. Nhưng chồng đã nhầm to. Vợ hết giờ lên lớp lại tất bật với sổ điểm, báo giảng, kính thưa các kiểu họp, kính thưa các kiểu sổ sách, hồ sơ chuyên môn.

Về đến nhà, vợ lại sấp ngửa soạn giáo án, chấm bài, mấy trăm bài vừa hòm hòm, chưa kịp ngồi rung đùi thì ngoảnh đi ngoảnh lại đã đến kỳ kiểm tra, vào điểm mới. Vợ lại vốn ham tiền, hở tí thời gian rảnh rỗi nào là lại ù té đi dạy thêm, đi dịch. Mà không muốn ù cũng không được, mai đến kỳ nộp các kiểu thuế đời rồi. Chồng lo nấu cơm, rửa bát, giặt giũ, đưa đón con, ngược xuôi nội ngoại nhé. Đàn ông phải đeo tạp dề làm việc nhà, hậm hực thì cũng cố mà chịu nhé. Mục đích hôn nhân thứ nhất của chồng đã không đạt được.

Chồng nghĩ giáo viên dạy con học thì chuẩn không cần chỉnh rồi, nhiệm vụ khó chịu này chắc chắn thoát đây. Chồng tha hồ thảnh thơi thể thao thể dục, bia bọt tay vịn về muộn. Nhưng chồng đã vỡ mộng. Vợ ngày nào cũng nói liên mồm, thậm chí hét khản cổ, về đến nhà, mặt vợ nhàu như tàu lá héo, thở hắt như bệnh nhân hen phế quản cấp, sức đâu, hứng thú đâu dạy con học nữa. Chồng tự lo kiểm tra bài vở, học cùng con, dạy con nhé. Trái chuyên môn thì cũng cố mà phấn đấu nhé. Mục đích hôn nhân thứ hai của chồng đã đổ bể.

Chồng nghĩ giáo viên tính nết nhẫn nhịn dịu dàng, nhà cửa sẽ êm ấm lắm đây. Chồng tha hồ thảnh thơi nhẹ nhõm cái tâm hồn. Nhưng chồng đã sốc tâm lý nặng. Một lớp vợ dạy có hơn 50 em, bao nhiêu là lớp nhân lên. Vợ chỉ có hai con mắt, lườm được góc này để chúng nó ngồi im, thì góc khác đứa đánh đấm giật tóc nhau, đứa nhảy dựng lên ghế, đứa ném sách phi vở, chưa kể vô số điều kinh khủng hơn thế…

Điên tiết lắm nhưng vợ vẫn phải nhịn, vẫn phải dịu dàng và nhẹ nhàng, cố mà nghĩ "là trẻ con mà, đáng yêu đấy chứ", "cô giáo phải như mẹ hiền chứ". (Gớm, ở nhà có mỗi một đứa con, không hiếm khi con hư, vợ gầm gào dữ tợn). Nhưng ở trường, vợ phải giữ hình tượng, rèn luyện bản lĩnh và cốt cách nhà giáo. Chỉ một chút thiếu kiên nhẫn thôi là viên phấn trong tay sẽ bay thẳng vào cái đám đang nhốn nháo như cào cào kia, hoặc tệ hại hơn là một cái bạt tai thích đáng cho sự hỗn láo vô lễ nào đó.

Nhưng vợ tỉnh lắm, vợ biết chúng không phải con mình, vợ hiểu luật giáo dục lắm, thời buổi này mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh tiến bộ và dân chủ kinh lên được. Giáo viên thậm chí còn không dám nặng lời, huống chi nặng chân nặng tay. Thông tin thì rất nhanh, sự thật dễ bị bóp méo, tai nạn nghề nghiệp sẽ cực nghiêm trọng nếu một phụ huynh chuẩn mực nào đó đưa hành động phản sư phạm của vợ lên báo, vợ sẽ nổi tiếng và sự nghiệp cao quý của vợ coi như tiêu.

Thế nên khi về nhà vợ khao khát được hiện rõ nguyên hình là người bình thường với mọi ái ố hỷ nộ. Đừng hy vọng hay đòi hỏi vợ nhẫn nhịn dịu dàng nếu chồng hư, con láo. Vợ mà cố nhịn nữa thì ngay ngày mai vợ đi nhà thương điên đấy. Lỡ vợ có nổi khùng phát vào đít con, gân cổ cãi chồng, hay phi cả mâm cơm ra đường thì chồng cố bịt tai bịt mắt bịt mồm lại nhé, thương vợ thì cho vợ xả lũ tí. Mục đích hôn nhân thứ ba của chồng đã phá sản.

Chồng nghĩ giáo viên một năm được ăn chơi ở không 3 tháng hè. Chồng chẳng biết thế nào là ốm nghén, chẳng biết thế nào là mang nặng đẻ đau, chồng chỉ thích nhiều con, 3-4 đứa càng tốt. Giáo viên có những 3 tháng hè, tha hồ tầm bổ, đẻ con bú mớm... Nhưng chồng đã hết hy vọng. 3 tháng hè của vợ còn bận hơn trong năm. Hết luyện thi, trông thi, chấm thi chính, chấm phúc khảo, rồi lại tập huấn, trại hè…, ngoảnh đi ngoảnh lại, chưa có lúc nào cùng chồng con đi nghỉ thì hè đã hết vèo. Chưa kể vợ mà làm chủ nhiệm thì sự hy sinh còn lớn hơn nhiều. Chồng có buồn thì cũng tỉnh giấc mộng nhiều con đi nhé. Mục đích hôn nhân thứ tư của chồng đã thất bại.

Chồng nghĩ giáo viên là người nhà nước, lương bổng yên tâm, chế độ ổn định. Chồng tha hồ thảnh thơi bỏ nhà nước, yên tâm ra làm ngoài, nuôi chí kiếm bội tiền, đổi danh phận cho vợ thành vợ đại gia. Trong lúc chưa đâu vào đâu hoặc lỡ gặp rủi ro, ít nhiều đã có lương nhà nước của vợ. Chồng đừng tưởng ngon ăn thế. Lương vợ được nhà nước ưu ái trả ngót 3 triệu đồng một tháng. Đấy là vợ tốt nghiệp chính quy một trường đại học sư phạm danh tiếng trong nước, rồi được đào tạo chính quy tại một trường sư phạm danh tiếng ở nước ngoài, cộng mười mấy năm kinh nghiệm đứng lớp.

Vợ còn chưa dám kể nếu không có biên chế thì 3 tháng nghỉ hè, nửa tháng nghỉ Tết được hưởng lương 100 phần trăm theo hệ số 0x0, vợ còn chưa dám kể nếu chẳng may thi trượt kỳ thi công chức thì tất cả bằng cấp hay kinh nghiệm lẫn tâm huyết đều nối đuôi nhau lên đường ra trận để hy sinh. Mà thi công chức thời buổi này như thể nào thì chồng biết rõ rồi đấy. Sức vợ chắc không đua nổi. Thế nên lỡ chồng làm ăn lụi bại, vợ không thể là chỗ dựa kinh tế cho chồng lo sự nghiệp dài hơi được đâu. Chồng tự nghĩ cách lo nồi cơm hàng ngày cho cả nhà nhé. Để con đói và thất học là tội của chồng đấy. Mục đích hôn nhân thứ năm của chồng đã bất thành.

Chồng nghĩ giáo viên sống bằng dạy thêm là chính, nên lương có thấp một chút cũng chả sao. Chồng đừng tưởng đơn giản thế. Ngay cả dạy thêm - một công việc làm ngoài giờ, chính đáng và lương thiện, vợ cũng lo ngay ngáy nay bị cấm, mai bị soi, ngày kia bị cắt giảm thù lao. Học thêm - do nhu cầu thực sự khiến học sinh hoặc phụ huynh tự tìm đến năn nỉ, vợ đã đuổi quầy quậy, mà vẫn lo ngay ngáy mang tiếng o ép mời chào học sinh đến nhà cô học. Vợ đọc ở đâu đó trên báo có đồng nghiệp bị bắt quả tang dạy thêm và bị phạt 10 triệu đồng. Vợ muốn đứt dây thần kinh luôn. Đời đã có đủ loại tặc, lâm tặc, tin tặc, hải tắc, cẩu tặc, giờ có cả giáo tặc nữa. Nghĩ mà đau ứa nước mắt chồng ạ.

Chẳng phải vì sợ mà vì ngẫm cái nghề giáo này bạc quá, tội quá. Vợ thấy bất công lắm. Thiết nghĩ nghề nào cũng có quyền mưu sinh và làm giàu bằng nghề, nhưng nghề nào làm giàu thì được, chứ nghề giáo thì phải cống hiến, phải hy sinh, phải thanh bạch bần hàn. Giàu một tí là bị thiên hạ lên án liền, dạy thêm một tí là bị thiên hạ ném đá liền. Mà vợ cũng đã giàu đâu, dạy thêm cũng đã cố gắng hạn chế tối đa rồi. Ôi chao, nghề giáo khó sống quá, khó chiều thiên hạ quá.

Ở đất nước mình, thói đời giàu thì bị ghen ghét, nghèo thì bị coi khinh, trung bình thì dở sống dở chết. Vợ đang tận hưởng cuộc sống ở mức trung bình. Lương thì thấp lè tè như vậy (thiếu khoảng 500 nghìn nữa mới đủ trả lương ôsin), chế độ thì bấp bênh, lớp thì đông, chất lượng học sinh thì lổn nhổn, thời lượng giờ giảng thì tí tẹo, sách giáo khoa thì sơ đẳng, thi cử thì khó khăn, quy chế đường lối thì thay đổi đột ngột và liên tục, áp lực điểm số, thành tích, chỉ tiêu thi đỗ thì lớn, kỳ vọng của phụ huynh thì vĩ đại, đòi hỏi chuẩn mực xã hội thì cao chót vót…, bảo vợ nên làm sao cho phải, cho cân bằng và đúng mực cả nghiệp và đời.

Vợ chả kêu ca, so bì, trách móc gì khi mà cái cơ chế này nó thế. Vợ sẽ cố gắng hoàn thành tốt vai diễn chính trong tấn bi hài kịch “Nghiệp và đời” này. Vợ chỉ thấy ái ngại cho chồng, cứ tưởng hay cho lắm vào cái nghề của vợ. Chồng phải tìm cách an ủi động viên vợ nhé. Vợ mà nản bỏ nghề thì mục đích hôn nhân thứ sáu của chồng sẽ tan thành mây khói.

Chồng nghĩ giáo viên đời vinh quang, có hậu lắm. Quen biết bao thế hệ phụ huynh mà, đào tạo bao thế hệ học trò mà. Chồng ơi, nhân gian luôn có trước có sau vậy sao? Vợ chỉ được xem như người đưa đò thôi, đò qua sông thì xuôi ra biển lớn. Đời rộng thế, dài thế, trăm mối thế, chẳng mấy ai ngoái lại bến xưa để ơn cô nghĩa thầy đâu. Nên vợ cũng không đòi hỏi bao thế hệ học trò phải nhớ mãi đến mình, vì bản thân vợ cũng chẳng có điều kiện để thăm thầy cô cũ của mình và của con.

Nhưng vợ nghiệm ra hình như có rất ít người hiểu nỗi thâm sâu của câu: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Và cũng có không ít người trưởng thành về thể xác, có thể cũng đạt đỉnh cao về kiến thức, nhưng lại chẳng thực sự thành nhân. Nên chồng đừng động vào nỗi niềm riêng của vợ rằng, đứa này đứa nọ, ngày xưa vợ thương yêu chúng như thế, hết lòng giúp chúng như thế, hy sinh thời gian, sức lực và tiền bạc cho chúng như thế, nay chúng xem cô như người không quen, hoặc nếu có dịp nói đến cô, thì cũng coi cô như một bà già hết thời…

Chồng ạ, ai cũng có những chặng thời gian buộc phải đi qua. Và chẳng lâu đâu, chúng cũng sẽ giật mình vì thời trẻ vụt qua rồi. Nếu chúng là người rộng lượng, nhân hậu và hiểu biết, thì sẽ thấy vui vẻ hạnh phúc trước những thành đạt của thế hệ sau, sẽ bình yên thanh thản lui về phía mùa đông của cuộc đời, mỉm cười nhìn những nỗ lực thời thanh xuân của mình đã đơm hoa kết trái... Vợ đủ tuổi, đủ trải nghiệm để bình thản và rộng lượng với tất cả những điều không mãn tâm.

Chồng cũng nghĩ giáo viên được xã hội trọng vọng kính nể lắm. Giá mà được như thế. Cướp giết hiếp giờ nhản nhản khắp nơi, và vị quan tòa đời luôn đanh thép phán rằng nguyên nhân đạo đức xuống cấp là do giáo dục nhà trường chưa tốt. Lạ thật, ở trường vợ chỉ dạy kiến thức, dạy điều hay lẽ phải thôi, vợ mong mỏi hơn ai hết học trò thành người. Có đốt đuốc cả ngày lẫn đêm cũng không thể tìm được thầy cô nào đủ tầm tàn bạo để soạn nổi một giáo án "cướp giết hiếp". Tủi ghê chồng ạ. Gia đình và xã hội đi đâu mất tiêu? Trách nhiệm nặng như quả tạ đặt lên đôi vai sắp sụn của nghề giáo.

Lại sắp 20 tháng 11 nữa chồng ạ. Nói thật là ngày này vợ chỉ muốn trốn đi đâu đó thật xa. Vợ chả thích gặp phụ huynh, chả cần phong bì phong bao quà cáp. Miệng thế gian độc địa. Người ta bảo những người làm nghề giống vợ chỉ mong đến ngày này để nhận phong bì. Người ta chả cần biết bao nhiêu ngày còn lại, những người làm nghề giống vợ vất vả, cực nhọc triền miên đến thế nào. Người ta dúi vội cho cái phong bì, trước mặt cười cười nói nói cảm ơn như đúng rồi, nhưng sau lưng, vợ biết thừa, hẳn là ngàn vạn lời đàm tiếu. Có bao nhiêu tình cảm thực sự trong sự cho đi đó? Vợ tin là có, nhưng chắc là rất ít. Mà thôi, cái ít mới là cái quý chồng nhỉ, và vợ trân trọng lắm.

Nếu chồng có hỏi vợ ước gì trong ngày này. Vợ ước gì ư? Tính vợ từ thời trẻ đã dở hơi, toàn ước điều không thể. Vợ ước lương giáo viên của vợ được khoảng 45 ngàn đôla/năm như ở Singapore, vợ ước lớp vợ dạy có khoảng 25 đứa như ở Nhật, vợ ước vợ thực sự được quan tâm, tạo điều kiện để có chế độ ổn định như hứa hẹn ở nhiều cuộc họp cấp bộ, cấp sở suốt cả chục năm nay... Đấy, vợ cứ ước cái điều trên mây đó đấy. Ai phạt, ai đánh thuế đâu. Chắc cũng chả ai nỡ ghét bỏ, trù dập vợ vì những điều ước chính đáng đó.

Vợ thề, nếu điều ước thành hiện thực, vợ sẽ là một cô giáo cực chuẩn, ở trường vợ thực sự dịu hiền, tâm huyết và trách nhiệm (chứ không phải gồng mình lên cố gắng, nhiều khi đến mức giả dối). Vợ thề, nếu điều ước thành hiện thực, 8 giờ hành chính, ngoài tiết dạy, vợ cống hiến trọn vẹn cho học sinh (tự nguyện, chứ không phải để cần một đồng thù lao). Vợ thề, nếu điều ước thành hiện thực, vợ không bị chi phối tâm và sức cho các cua dạy thêm, dịch thêm nữa (khỏi cần cấm, khỏi cần soi, khỏi cần này nọ, đố ai thuyết phục vợ nhận lớp dạy thêm, dịch thêm đấy). Vợ thề, nếu điều ước thành hiện thực, về nhà vợ vô cùng đảm đang, chu toàn, và dịu dàng âu yếm.

Nghề của vợ là như vậy đó. Chồng có ân hận khi đã chọn vợ không? Còn vợ, vợ không ân hận khi chọn nghề, hay nói đúng hơn, nghề đã chọn vợ và vợ sẽ gắn bó trọn đời với nghề cho đến khi nào nghề bỏ vợ".

Đỗ Sông Hương (vnexpress)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Con đường tìm mẹ

Câu chuyện cậu bé đi tìm mẹ khiến cả nước Đức cảm động
Bé trai Derby hơn 9 tuổi là một cậu bé bị bỏ rơi và lớn lên ở cô nhi viện. Cậu bé mong muốn được tìm thấy mẹ. Tình yêu của Derby đối với người mẹ trong mơ của mình và con đường tìm mẹ đặc biệt của em đã làm cảm động người dân nước Đức.
Con đường tìm mẹ đặc biệt của Derby
Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền tìm theo tiếng khóc thì phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đã đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.
Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Cậu bé có tấm lòng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: “Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”
Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.
Nữ tu sĩ nghe xong giật mình hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”
Derby trả lời: “Tại vì con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”
Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: “Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi”.
Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Cậu hy vọng những dòng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem tình cảm của cậu đến với mẹ.
tìm mẹ, nước Đức, derby, cậu bé mồ côi, cảm động, 10 việc tốt,
Derby thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Ánh mắt của em không khỏi mong mỏi, khát khao tìm thấy mẹ. (Ảnh: Internet)
Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mãnh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các kênh truyền hình đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những hình ảnh về tình mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đìa trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nhìn cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới hình ảnh này đã nói với nữ tu sĩ: “Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”
Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi vì suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức gì của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.
Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: “Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, vì vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra trò chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ thì số hạt gạo đã là 18 triệu tỷ hạt”.
Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ý nghĩ này đã khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: “Xin cô (chú…) hãy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”. Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm lòng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của mình, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của mình.
Sức mạnh của “10 việc tốt”
Derby không thể ngờ mình lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức.
Rick là một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đã 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của mình, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương trình của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hãng truyền hình và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xã hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.
Tháng 10/2003, ông đã xin đài truyền hình cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đã tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đã bị vẻ đẹp của dòng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đã gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.
Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.
Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cảm ơn cháu rồi ạ!”.
Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái gì cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.
Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đã để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn dò ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hãy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nhìn qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong lòng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.
Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân mình có giá trị hơn rất nhiều.
Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đã trở lại đài truyền hình làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và hòa đồng với mọi người hơn.
Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền hình sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đã nói với khán giả: “Trước đây, tôi đã nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính mình”. Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong vòng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: “Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đã tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!”
Thông qua truyền hình, chương trình của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đã có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm “10 việc tốt” này. Thậm chí còn rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền hình bởi vì họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.
Tháng 1/2004, Derby đã đến đài truyền hình chia sẻ về câu chuyện của mình. Tại hiện trường, có người đã hỏi cậu: “Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rõ chuyện đời mình. Rất nhiều người đã vô cùng xúc động và bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ mình.
Ông Rick đã ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: “Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ tìm được mẹ!”
Tình yêu của hàng ngàn người mẹ
Sau sự tình ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đã đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng thì giờ đây lại đối xử với nhau rất có tình. Mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.
Derby đã trở nên rất nổi tiếng và đài truyền hình cũng giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi vẫn không thấy xuất hiện…
Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không tìm thấy tiền trên người cậu bé, nên đã đâm trọng thương cậu bé.
Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu mãi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” mãi không thôi.
Đài truyền hình tiếp sóng trực tiếp tình trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…” Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành hình trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.
Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: “Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: “Tôi từ nhỏ đã không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm tình của Derby”.
Có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby thì chỉ có một. Cho nên, đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi vì cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.
Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt. Cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: “Con trai Derby yêu quý! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. Derby dường như nhìn thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đã rất ngạc nhiên và hỏi:“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”. Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nhìn Derby và gật đầu. Hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: “Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”
Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu còn muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đã không còn sức lực nữa rồi…
Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại vì muốn được nhìn thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều òa khóc, cảm thấy như trái tim mình đang vỡ tan ra.
Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đã nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.

Liên Tâm Sưu tầm
hình em Derby



Copy fb Lien Tam Ton NU

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Ngậm ngùi nỗi nhớ bạn tri âm!

Thành Được – Út Bạch Lan Ngậm ngùi nỗi nhớ bạn tri âm!

Đôi uyên ương sân khấu Út Bạch Lan & Thành Được...
Hai nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan là đôi diễn viên lý tưởng của sân khấu cải lương miền Nam. Cả hai đều có đủ yếu tố thinh và sắc, ca ngâm diễn xuất vừa hay vừa ăn ý với nhau, lại có sắc đẹp để thể hiện tính cách và sắc diện của nhân vật trong các tuồng Tàu, tuồng Nhựt, tuồng dã sử Việt Nam, tuồng xã hội xưa hay xã hội hiện đại.

Sự kết hợp của hai nghệ sĩ tài danh Thành Được – Út Bạch Lan trên con đường nghệ thuật sân khấu là một giai thoại đẹp mà các nghệ sĩ cải lương các thế hệ sau thường nhắc. Có người gọi đó là do duyên số, người khác cho là do sự an bài của Tổ nghiệp.
Sự nghiệp cầm ca của Út Bạch Lan tăng tiến mau một cách phi thường.

Năm 12 tuổi (1947) Út Bạch Lan và Văn Vĩ còn đi ca dạo ở xóm chợ bến đò, ở bồn binh Saigon để nhận được tiền thưởng của các khách qua đường hoặc các bạn hàng chợ.
Năm 15 tuổi (1950) Út Bạch Lan đã nổi danh ca sĩ của Ban cổ nhạc Thành Công – Đài phát thanh Pháp Á.
Năm 17 tuổi Út Bạch Lan là đào phụ của các gánh hát Tiếng Chuông, Tô Huệ và thật sự trở thành đào ca của đoàn Thanh Minh – Bầu Nghĩa trong hai năm 1955, 1956, qua các tuồng: Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Nhớ Rừng, Đồ Bàn Di Hận, Núi Liễu Sông Bằng, Hồi Trống Văn Lâu, Áo Gấm Khôi Nguyên… của các soạn giả Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh. Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan hát cặp với các danh ca cổ nhạc Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Quang Phục, Minh Tấn, Hoàng Giang, Việt Hùng….
Năm 1958, bà bầu Kim Chưởng mời Út Bạch Lan về hát ở đoàn Kim Chưởng với tiền contrat là một triệu đồng, sau hai năm cộng tác, số tiền contrat đó được tặng dứt cho Út Bạch Lan. Nếu chưa hát đủ hai năm, nửa chừng Út Bạch Lan bỏ đi hát gánh khác thì phải bồi thường cho bầu gánh số tiền gấp đôi.

Út Bạch Lan yêu cầu bà Kim Chưởng mời nghệ sĩ Thành Được về đoàn Kim Chưởng hát cặp với cô thì cô mới ký contrat. Lúc đó Thành Được là kép trẻ của đoàn hát Thanh Cần của tỉnh Sóc Trăng. Thành Được về hát cho đoàn Thúy Nga – Phước Trọng và vừa mới nổi danh trong vai Tô Điền Sơn tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở. Khán giả Saigon và Lục tỉnh chưa biết nhiều về kép Thành Được.
Bà Kim Chưởng phải đích thân đến xem một suất hát của đoàn Thúy Nga – Phước Trọng để đánh giá sự diễn xuất và sức thu hút khán giả của Thành Được. Bà xem xong, liền bí mật mời Thành Được đến nhà gặp bà và Út Bạch Lan bàn thảo việc hợp tác với nhau trên sân khấu Kim Chưởng. Thành Được và Út Bạch Lan cùng ký hợp đồng với bà Kim Chưởng và chỉ trong hai tuần sau đó, Thành Được và Út Bạch Lan hát cặp đôi trên sân khấu Kim Chưởng qua tuồng Thuyền Ra Cửa Biển. Báo chí kịch trường nhất loạt viết nhiều bài tường thuật tuồng, phê bình diễn xuất và đề cao hai nghệ sĩ trẻ tài danh Thành Được – Út Bạch Lan như hiện tượng đặc biệt trong ngành sân khấu cải lương trong cuối thập niên 50 của thế kỷ trước.
Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan tiếp tục được các ký giả kịch trường và khán giả lục tỉnh tán thưởng qua các tuồng: Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nửa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa…

Tuy nổi danh nhưng hai nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan chưa được khán giả ghi nhớ qua một vở tuồng đặc biệt nào như các nghệ sĩ tài danh thế hệ trước. Ví dụ hai nghệ sĩ Bảy Nhiêu và Năm Phỉ được nhắc nhở, gắn liền với hai vai Tống Nhân Tôn và Bàng Quí Phi tuồng Xử Án Bàng Quí Phi; nghệ sĩ Năm Châu và nữ nghệ sĩ Phùng Há qua vai An Lộc Sơn và Dương Quí Phi qua tuồng An Lộc Sơn; nghệ sĩ Tám Danh được khán giả nhắc đến gắn liền với vai anh ghiền trong tuồng Tứ Đổ Tường; nghệ sĩ quái kiệt Ba Vân được nhớ với vai Phê tuồng Khi Người Điên Biết Yêu; nữ nghệ sĩ Tư Sạng gắng liền với sự thành công qua các dĩa hát Mẹ Dạy Con, Đêm Khuya Trông Chồng, Hồn Bướm Mơ Tiên…

Mãi đến khi cặp nghệ sĩ Thành Được – Út Bạch Lan về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga năm 1961 thì họ mới thật sự được gắn liền tên tuổi của mình qua hai vai Tùng và The trong tuồng Nửa Đời Hương Phấn. Mấy chục năm sau, nhiều thế hệ trẻ diễn hai vai Tùng và The mà chưa có cặp nghệ sĩ trẻ nào diễn hai vai đó hay bằng Thành Được với Út Bạch Lan.

Tóm tắt vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng:

Tùng (Thành Được) và anh là Hai Cang (Hữu Phước) mồ côi cha mẹ, được ông bác đem về nuôi dưỡng. Khi trưởng thành, Tùng được ông bác giao cho việc trông coi cửa tiệm mua bán đồ điện ở Saigon. Tùng gặp và yêu say đắm một kỹ nữ tên là Hương (Út Bạch Lan). Nhưng ông bác và anh Hai Cang phản đối vì chuyện tình đó làm điếm nhục gia phong, nhưng Tùng vẫn quyết định sẽ thành hôn với Hương.
Khi Tùng đến nhà Hương báo quyết định thành hôn cùng Hương thì bất ngờ Tùng gặp Định (Việt Hùng) tên lưu manh đã lừa tình và đưa Hương vào con đường bán phấn buôn hương. Định hăm dọa sẽ nói cho cha mẹ của Hương biết sự thực về cuộc đời “son phấn” của nàng với ý định chiếm giữ Hương và ngăn không cho Hương lấy Tùng.
Trước đó, Hai Cang đã gặp Hương, năn nỉ xin Hương xa lánh Tùng để Tùng được trọn hiếu với cha nuôi, nay Tùng lại gặp Định trong nhà Hương nên Hương nói dối với Tùng là Hương đã nhận lời kết hôn với người khác rồi. Hương muốn tìm sự yên tĩnh tâm hồn, cô trở về nhà cha mẹ ruột (Minh Điễn và Hoàng Vân) và sống ở dưới quê với cái tên The của cha mẹ đặt cho. Không ngờ The (Hương) gặp bà chủ nợ Hai Lung (Cô ba Thanh Loan), bà nói cho cha của The biết The từng là gái buôn hương bán phấn ở Saigon dưới cái tên Hương. Cha của The cảm thấy như bị sỉ nhục nên đuổi The ra khỏi nhà.
The (Hương) trở về Saigon, đến thăm em gái ruột là Diệu (Ngọc Nuôi), không ngờ người con gái được Tùng cưới hỏi lại là Diệu, em của The (Hương). Lúc này Tùng cũng biết được là anh ruột của Tùng là Hai Cang đã yêu cầu Hương xa lánh Tùng và việc Hương bị Định làm hại cuộc đời cũng chỉ vì Hương là gái quê, không hiểu lòng hiểm độc và gian trá của tên Định lưu manh.
Đau đớn tột cùng, Hương cắt tóc quy y, mượn cửa thiền để chôn vĩnh viễn quãng đời cay đắng. Tùng đến chùa xin Hương tha thứ, mẹ và em của Hương cũng van xin nàng trở về cuộc sống với cha mẹ ở quê hương. Nhưng Nửa Đời Hương Phấn, đối với Hương đã là dĩ vãng, nàng ngậm ngùi chôn thân trong cửa thiền mãi mãi.

Nghệ sĩ Út Bạch Lan trong vai Hương, cô gái giang hồ trong Nửa Đời Hương Phấn, là một cô gái đẹp sang trọng mà không hề có nét lẳng lơ của phường bán phấn buôn hương nhưng số phận quá bất hạnh khiến cho khán giả càng thêm thương xót cho Hương khi mà nàng muốn hoàn lương nhưng lại bị tên lưu manh Định xuật hiện bất ngờ, đã đẩy Hương vào ngõ cụt và Tùng lầm tưởng sự thay lòng đổi dạ của Hương, chàng bèn phó mặc việc hôn nhơn của mình cho Hai Cang định đoạt.
Hương bàng hoàng đau khổ, chỉ còn con đường trở về quê nghèo là khả dĩ xoa dịu nỗi đau. Qui cố hương, bất ngờ gặp lại bà chủ nợ Lung, bà khai quật dĩ vãng gái buôn hương của Hương cho cha mẹ nàng biết. Và một lần nữa, Hương vấp phải sự lạnh giá nhục nhã vì tội điếm nhục gia phong.

Cha của Hương (Minh Điển) giận dữ khi The (tên ở quê của Hương) vừa chào cha:
Cha Hương: Không có cha con gì hết! Người nói chuyện với tao, tuy là xác con…
(Ca Kim Tiền Huế) …The, nhưng là hồn của con Hương. Trước kia mày là đứa con gái đàng hoàng. Nay mày lại đi làm bại hoại gia phong, lễ giáo nhà tao. Tao cũng tin mày đi làm ăn chân thật. Chớ tao đâu có dè. Mày đem tiết trinh đi bán cho người ta để nuôi mẹ cha. Trời ơi! Cái đồ quân mất dạy, đừng léo hánh về đây, để làm nhục tổ tông.

Hương ca: Con cúi đầu trăm lạy Ba…
Cha Hương: Thôi, thôi, mầy đừng có lạy lục mà làm chi… Cho tao thêm tổn thọ…
Hương ca: Xin Ba nhìn nhận con là con The. Cho con ở lại, sớm hôm hầu cha mẹ…
Muốn trở lại cuộc sống thuần lương chất phác, ước muốn trở thành con The như ngày ở dưới quê không được nhìn nhận, Hương phải đi tiếp cuộc đời cay đắng của mình hay phải chọn một giải pháp nào khác? Tùng lập gia đình với người khác sau áp lực của anh Hai Cang và lầm tin lời nói của Định.
Hương đến thăm Diệu, em gái ruột của nàng, không ngờ người vợ mới cưới của Tùng lại là Diệu. Còn đau đớn nào hơn khi ta nghe từ nỗi lòng tan nát ấy phải bật ra câu chúc mừng!
Hương nói với Diệu: Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với…
(ca Phụng Hoàng) …em. Để mừng ngày em xuất giá, cho vui long Ba với Má. Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
Còn dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng hoàng. Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong…

Bài ca Phụng Hoàng này nói lên nỗi lòng của Hương (Út Bạch Lan) như định mệnh dành sẵn cho cuộc tình của Út Bạch Lan – Thành Được. Nhờ làm sống những nhân vật Tùng (Thành Được) và Hương (Út Bạch Lan) trong tuồng mà tên tuổi của Thành Được – Út Bạch Lan và cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng nổi lên như một hiện tượng đặc biệt của sân khấu cải lương trong đầu thập niên 60 của thế kỷ trước nhưng hoàn cảnh trái ngang tan vỡ của Hương và Tùng cũng vận vào chính cuộc tình và cuộc đời của Út Bạch Lan và Thành Được.

Khi biết Thành Được “qua đường” với một cô gái đẹp khác, Út Bạch Lan quá ghen, cô đã liệng một cái gạt tàn thuốc bằng thủy tinh vô đầu Thành Được, làm bể đầu chảy máu, cắt đứt cuộc tình của đôi nghệ sĩ “xứng đào xứng kép” nhất của thập niên 60, mỗi người đi tiếp cuộc đời nghệ thuật của mình với một nghệ sĩ khác nhưng Thành Được và Út Bạch Lan đều không tạo được những thành tích tuyệt vời như trong giai đoạn còn chung hát tuồng Nửa Đời Hương Phấn.

Mấy mươi năm sau khi hai bạn tình Thành Được – Út Bạch Lan gặp lại nhau trên sân khấu hải ngoại, Thành Được, Út Bạch Lan và Ngọc Nuôi (trong vai Diệu), để nhớ lại thuở vàng son trên sân khấu, cả ba nghệ sĩ tài danh này vẫn hát lại trích đoạn tuồng Nửa Đời Hương Phấn qua lớp ca Phụng Hoàng kể trên.

Nghệ sĩ Thành Được về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga sau cuộc tình tan vỡ với Út Bạch Lan, anh tìm được bạn diễn mới, tuy ca không hay bằng Út Bạch Lan nhưng bạn diễn mới đẹp hơn Út Bạch Lan và là một nghệ sĩ đang sáng chói trên sân khấu, được hàng chục vạn khán giả và tất cả ký giả kịch trường yêu thích: đó là nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Ngôi sao Thành Được tiếp tục sáng chói trên bầu trời nghệ thuật với liên danh mới Thanh Nga – Thành Được.

Về phần Út Bạch Lan, như đã được báo hiệu trước trong tuồng Nửa Đời Hương Phấn, Hương (Út Bạch Lan) sau khi cuộc tình tan vỡ, đã diễn với nhiều kép hát khác, danh ca có, có cả những diễn viên đẹp mới nổi trên vòm trời nghệ thuật, nhưng Út Bạch Lan không tìm được bạn đồng diễn tương xứng, nàng khép kín tấn bi kịch đời mình bằng cách xuống tóc đi tu, nàng gởi lại mái tóc cho mẹ già:

“…Má ơi, mái tóc dài đậm đượt, con đã từng ve vuốt ấp yêu. Nơi phồn hoa, trong một buổi chiều, người ta đã cắt đi của con phân nửa. Rồi trong một đêm vừa đau vừa tủi, con lại cắt đi mái tóc sau cùng. Con đau lòng ngất lịm. Khi tỉnh dậy, sờ lên đầu thì tóc đâu không còn thấy nữa, con hoảng hốt la lên. Trời ơi, ai đã cắt tóc của tôi! Má ơi, chừng nhớ ra chính tay con đã cắt tóc của con rồi….
(Vọng cổ)
… Mớ tóc mà hơn hai mươi năm trời, ngày đêm con xăm soi ngắm nghía, tha thiết tưng tiu. Nay nhìn mái tóc kia rời khỏi mái đầu, lòng con đòi đoạn từng cơn. Đoạn lìa mái tóc ngày xuân thì chẳng khác nào con cắt đoạn lìa quãng đời má phấn mày xanh!
… Má ơi! Đây là phân nửa tóc mà con giữ mấy năm trường. Nay con xin gởi lại cho Má với Ba, mái tóc dịu mềm suôn sẻ này là của đứa con lạc loài bạc phận. Còn nửa mái tóc kia là mớ tóc của nửa đời hương phấn, con đã chôn trước cửa Phật đài.
Số phận con đã không may
Kiếp hoa tàn héo, đọa đày truân chuyên
Tóc xanh gởi lại mẹ hiền
Đời con khép kín cửa Thiền từ đây.

Út Bạch Lan ngậm ngùi nhớ bạn tri âm, đã nhiều năm chia cách nhau trên sàn diễn, giờ đây lại xa cách nhau trên vạn dặm, hai người đều tiếc nuối thời vàng son sân khấu khi cùng nhau hóa thân thành những cặp tình nhân tuyệt vời qua lời ca tiếng nhạc. Út Bạch Lan khép kín cuộc đời còn lại của mình trong việc thường xuyên viếng chùa và làm từ thiện dưới mái chùa nơi quê hương Long An để tự suy nghiệm về tình yêu, tình người, nghĩa đời và định mạng đã gắn liền với Út Bạch Lan – Thành Được, giống như Tùng và Hương, cô gái giang hồ qua tuồng Nửa Đời Hương Phấn.
Nếu không có trận ghen mù quáng của Út Bạch Lan, lịch sử sân khấu cải lương chắc chắn sẽ ghi dấu ấn sâu đậm về hình ảnh và tài năng của đôi nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn như Út Bạch Lan và Thành Được.
Nhớ hai em Thành Được và Út Bạch Lan.

Nguyễn Phương, 2015

Nguồn tin: tcgd theo TB

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

ANH VẪN MÃI YÊU EM DÙ CHÚNG TA SẮP CHẾT

(Tựa tự đặt theo bài đăng trên VNEXPRESS)

Khi nhận được lời mời đi ăn tiệc cưới hôm 2/8, John Heinemann và vợ đã đồng ý ngay. Dù đã làm việc cho công ty PV Pipe được khoảng 2 năm nay, nhưng ông khá bận rộn, gần đây mới có thể mời vợ sang Việt Nam nghỉ cùng mình. Họ có điểm chung là rất thích văn hóa, con người Việt.

“Cuối tuần trước đó, chúng tôi cũng đi ăn cưới với nhau. Mọi thứ rất tuyệt. Chúng tôi giữ nguyên tâm trạng háo hức đó khi bước lên tàu đi cùng mọi người mà không mảy may nghĩ đến tai nạn nào có thể xảy ra”, ông Heinemann nói.

Vợ chồng vị chuyên gia người Mỹ nhập đoàn lên con tàu H29 rời cảng Gò Công Đông khi trời đã chập tối. Biển lúc này khá yên lặng, sóng nhẹ nhàng. Mọi thứ đều ổn và ai cũng thư giãn, râm ran trò chuyện. “Nhưng rồi sau đó, những cơn sóng mạnh từ đâu bất ngờ ập đến. Sóng sau mạnh hơn sóng trước rất nhiều… Khi biết tàu không còn an toàn nữa, vợ chồng tôi dặn nhau phải hết sức bình tĩnh và chuẩn bị tinh thần sẽ phải bơi nếu có sự cố", Heinemann kể. "Thấy mọi người xung quanh rất hoảng sợ, chúng tôi bảo họ bình tĩnh nhưng không nhiều người hiểu tiếng Anh để biết chúng tôi đang nói gì”.

Tàu bất ngờ lật úp và dần chìm, xung quanh mọi thứ tối đen. Người đàn ông Mỹ chỉ kịp khuyên vài người phải bám chặt vào thân tàu để giữ cho người nổi trên mặt nước. Tuy vậy, do sóng lớn, nhiều người vẫn tuột tay văng ra xa, trong đó có vợ chồng ông. Do đã được phát áo phao trước đó, cả hai luôn tìm cách bơi bám sát để không bị tách rời.

“Ban đầu, tôi nghĩ chắc chừng 30 phút nữa hai con tàu đi sau sẽ đến và cứu mọi người. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy gì trong khi chúng tôi đã lạc mất đoàn", ông Heinneman kể.

Đang lênh đênh chống chọi cùng những cơn sóng, họ phát hiện anh Nguyễn Lê Vinh gần như kiệt sức, trên người không mặc áo phao. “Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản là người đàn ông này cần được giúp đỡ và vợ chồng tôi phải cố hết sức có thể để giúp anh. Vì thế, tôi bảo anh ấy bám vào mình để cùng bơi”, vợ ông Heinneman nói.

3 người tiếp tục dập dờn một lúc thì gặp anh Nguyễn Văn Hà cũng đang vật lộn với sóng dữ. "Tôi thấy cái bóng đen cách mình khoảng 20 m. Lại gần hơn tôi nhận ra anh Vinh đang bám vào vợ chồng ông John. Chúng tôi lúc này như tăng thêm sức mạnh dù xung quanh vẫn là biển mênh mông không có một bóng tàu cứu hộ, xa xa là ánh đèn le lói phía Vũng Tàu", anh Hà kể.

Họ bắt đầu bàn về khả năng bơi vào bờ. Lúc đó, anh Hà chỉ cho mọi người thấy hai dãy núi mờ mờ phía trước (ở Vũng Tàu), nhưng để bơi tới đó rất xa, sức người không chịu nổi nên chỉ còn cách chờ cứu hộ.

Càng lúc trời càng lạnh, mọi người có dấu hiệu đuối dần. Anh Hà đổi phương án "bơi vào biết đâu lại sống" nên 4 người chỉ với 3 cái áo phao dìu nhau vượt từng cơn sóng. Càng về khuya, hai vợ chồng người Mỹ hơn 60 tuổi càng có dấu hiệu kiệt sức, sặc nước.

Vốn bơi rất giỏi vì đều là dân mê môn thể thao lặn biển, nhưng phải giữ mình nổi trên mặt nước suốt 9 giờ là điều hai ông bà chưa bao giờ dám nghĩ tới. Có lúc, ông Heinneman hoang mang trước sự sống vì ông nặng gần gấp đôi vợ nên rất khó để giữ mình nổi. Cứ mỗi đợt sóng ập đến, bà Heinneman lại phải tìm cách nâng chồng lên để ông không bị ngạt.

Một cơn sóng to ập tới đánh tan nhóm người ra 3 nơi. Ông Heinneman đã cởi chiếc áo phao của mình đưa cho vợ. “Lúc đó tôi chỉ muốn bà ấy được ấm áp, được an toàn. Có một nỗi lo sợ mơ hồ khiến tôi phải thốt ra với bà rằng ‘I love you", người đàn ông nhớ lại.

"Sao thấy ông John cởi áo phao mà còn nói 'I love you' nữa Hà ơi", anh Vinh hét lớn. Cả hai công nhân Việt nghĩ ông ấy định bỏ cuộc nên đã cố bơi lại động viên.

"Tôi nói ông ấy cố lên. Lúc đó là 0h rồi, chỉ 1h sáng sẽ có tàu đánh cá của ngư dân đi ngang cứu giúp. Nghe vậy, ông John từ bỏ ý định và bơi ngửa, dùng áo phao kê ở đầu", anh Hà kể. Sau đó anh tiếp tục quay sang an ủi người đồng nghiệp quê Tiền Giang cùng bơi để hâm nóng cơ thể, chống lại cái lạnh càng lúc càng gay gắt. Dù làm tư tưởng cho mọi người nhưng bản thân anh Hà cũng đã cạn sức, dầu biển bám vào người bỏng rát.

Đến khoảng 2h sáng, cả nhóm như tỉnh hẳn khi thấy đèn cứu hộ từ xa. Mọi người tìm còi và đèn pin trên áo phao để ra tín hiệu nhưng chúng bị sóng đánh văng từ lúc nào. Do tàu ở quá xa nên không nghe thấy tiếng kêu cứu và những cái vẫy tay tuyệt vọng của họ. Một lúc sau mọi người lại thấy tàu cá ngư dân đi biển xuất hiện cách đó chừng 50 m, song tất cả gọi đến khàn giọng họ vẫn không nghe.

"Biển hôm đó động mạnh do ảnh hưởng của bão, nhiều cơn sóng lớn và màn đêm đã làm cho những con tàu khác không thể nhìn thấy 4 con người đang vật lộn tìm sự sống trên biển. Chúng tôi bị lẫn trong làn nước nhưng chúng tôi nghĩ nếu cầm cự được đến khi ánh bình minh lên thì ngư dân, tàu thuyền đánh cá sẽ trông thấy và chúng tôi sẽ được cứu sống”, bà Heinneman nói.

Thêm 2 tiếng trôi qua, đến 4h sáng anh Hà thấy tàu đi vào ngọn Hải Đăng. "Tôi nghĩ là đường tàu chạy nên nói mọi người cố sức bơi tới đó chờ tàu. Nửa tiếng sau, một chiếc tàu cá đang trên đường vào bờ đã thấy chúng tôi. Lên được tàu, ai cũng nghĩ mình vừa chết đi sống lại", anh Hà kể về giây phút may mắn của cuộc đời mình. Còn bà Heinneman cho biết, khoảnh khắc đó, bà chỉ có thể nói với những người bà gặp duy nhất một câu "Tôi yêu các bạn".

Đây là 4 người cuối cùng được vớt lên trong số 21 người sống sót trên chuyến tàu định mệnh. Họ đã có 9 giờ lênh đênh trên biển, 17 người khác được cứu hộ khi bám quanh xác con tàu sau 6 giờ bị đắm.

“Tôi rất buồn khi nhiều người mình quen biết đã mất. Các vết sẹo mà chúng tôi phải mang theo người không là gì so với những mất mát quá lớn đó", vị chuyên gia người Mỹ trầm ngâm.

An Nhơn - Thoại Hà

9/8/2013



John Heinemann và vợ

Ai cũng bảo người ngoại quốc sống vô tình hơn người mình, thật sự đã là con người, mình đều có một thứ tình cảm giống nhau. Vy đã từng gặp rất nhiều trường hợp hy sinh giữa vợ chồng, cái hay của họ là không chôn dấu tình cảm, yêu là nói yêu, nói bất cứ lúc nào họ thấy cần mà không e ngại.

Jacklin Vy Trần