Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2021

NGUYỄN VĂN ĐÔNG - NHẠC SĨ NGOẠI ĐẠO ÔNG TẠ VIẾT NHẠC ĐẠO NHIỀU NHẤT, RUNG ĐỘNG NHẤT

Copy bài viết của Cù Mai Công trong group Đồng Hương Ông Tạ về nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông! 

Chương bắt đầu chú ý đến ông Nguyễn Văn Đông vô tình trong 1 lần tâm tình với anh tài xế của Công viên Lê Thị Riêng !

Tính của Chương rất gần gũi với "nhân viên thuộc quyền của mình" nên trong 1 buổi chiều gần giờ tan sở (năm 1989) nghe anh tài xế ngâm nga câu "Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần mưa bay gió cuốn...còn nhiều anh ơi! " bài Chiều mưa biên giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông...

Dưới đây là bài viết của Cù Mai Công, trước là phóng viên Báo Tuổi Trẻ. 

Fb Nguyễn Chương

NGUYỄN VĂN ĐÔNG - NHẠC SĨ NGOẠI ĐẠO ÔNG TẠ VIẾT NHẠC ĐẠO NHIỀU NHẤT, RUNG ĐỘNG NHẤT

* “Chúa ngự ở trên cao. Lòng trời bể bao la. Ngày lớn con đã tin rằng: Khi lòng khổ đau tìm đến Chúa ban an lành”

Năm 1970, cách đây nửa thế kỷ, có đôi vợ chồng trẻ mới cưới nhau được hai năm gom góp tiền mua ngôi nhà nhỏ gần góc đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) - đại lộ Cách Mạng 1-11 (nay là Nguyễn Văn Trỗi). Đây là vùng environs (ngoại vi, ngoại ô, vùng ven…) Ông Tạ. Khu vực này lúc đó còn rất vắng vẻ, nhưng gần nơi ông làm việc là trại Trần Hưng Đạo - trụ sở Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa. 

1. Ông đạo Phật, con trai duy nhất một gia đình điền chủ lớn ở xã biên giới Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, Tây Ninh. Vùng này khô cằn nhưng mía lại ngọt nổi tiếng. Liệu những vườn mía quê xưa có khiến ông thích uống nước mía hơn các loại nước uống khác? Gần bốn năm trước, một buổi chiều xuân, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đang trong bệnh viện, nhờ cô cháu ở cùng nhà mua nước mía, dặn dò: "Đừng bỏ đá uống nhạt" và uống khen ngon. Đó là ly nước mía - vị ngọt quê nhà Tây Ninh cuối cùng của ông. Chỉ ít phút sau, ông ra đi: 19g30 ngày 26-2-2018 (11 tháng Giêng năm Mậu Tuất) ở bệnh viện Chợ Rẫy.

Ông là nhạc sĩ “Chiều mưa biên giới” Nguyễn Văn Đông. Với tôi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một trong ba nhạc sĩ lớn nhất miền Nam trước 1975 cùng Phạm Duy, Trịnh Công Sơn.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết nhạc đa dạng, gần gũi mọi lứa tuổi; một tài năng rất lớn với sinh hoạt sôi động.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết nhạc với những hợp âm đơn giản nhưng ca từ sâu sắc, đi vào thân phận con người. 

Nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có một vẻ khác biệt rất rõ: sang trọng một cách gần gũi, sâu lắng,  đẫm yêu thương. Nhiều, rất nhiều nhạc phẩm của ông, đạo cũng như đời, hay đến sững sờ. Và ông sống với một nhân cách sống của kẻ sĩ miền Đông Nam bộ trong thời tao loạn: hiền lành nhưng cứng cỏi giữ tiết tháo, không thay đổi cả trong lúc khó khăn đến tận cùng.

Ông theo binh nghiệp từ năm 14 tuổi (1946) ở Trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu và chức vụ cuối cùng trong Quân lực Việt Nam cộng hòa là đại tá chánh võ phòng Tổng tham mưu phó; trải qua hai đời tổng tham mưu phó là trung tướng Nguyễn Văn Là (1968-1974) và trung tướng Nguyễn Văn Mạnh (1974-1975). Tổng tham mưu trưởng là đại tướng Cao Văn Viên. 

Khi ở Thiếu sinh quân, ông học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp; thành viên Ban Quân nhạc Thiếu sinh quân, sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ và 16 tuổi đã có những sáng tác đầu tay: “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”... Và đó là lý do đám tang ông có nhiều cựu Thiếu sinh quân Việt Nam cộng hòa đưa tiễn.

Nhà ông trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển), đi một chút là ra ngã tư Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai). Tên đường Thoại Ngọc Hầu cũng là tên một chiến dịch quân sự năm 1956 của Quân đội Việt Nam cộng hòa (từ 1965, đổi thành Quân lực Việt Nam cộng hòa) ở vùng Đồng Tháp Mười mà ông tham gia; do tướng Dương Văn Minh làm tư lệnh. Còn nhạc sĩ, khi ấy 24 tuổi nhưng đã là trưởng Phòng 3 - Tác chiến của Phân khu Đồng Tháp Mười Việt Nam cộng hòa.

Trước 1975, tên tuổi của ông lừng lẫy một cách đằm thắm - như tính cách của ông, không phải bằng binh nghiệp (dù tướng Dương Văn Minh từng bắt tay ngưỡng mộ ông trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu) mà là những tác phẩm âm nhạc: “Chiều mưa biên giới”, “Mấy dậm sơn khê”, “Phiên gác đêm xuân”, “Bến đò biên giới”, “Về mái nhà xưa”, “Niềm đau dĩ vãng”, “Hải ngoại thương ca”, “Khi đã yêu”... 

Ngoài Nguyễn Văn Đông, ông còn ký tên Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử...

Tính cách nhẹ nhàng, yêu quê hương da diết của nhạc sĩ cũng khiến ông không chỉ viết tân nhạc mà còn cả cổ nhạc: viết nhạc, đạo diễn trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước 75 như: “Nửa đời hương phấn”, “Đoạn tuyệt”, “Tiếng hạc trong trăng”, “Mưa rừng”…

Thập niên 1950, ở tuổi đôi mươi, ông là trưởng Ban (văn nghệ) Vì Dân; 26 tuổi (1958), ông là trưởng Ban (ca nhạc) Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn. Ông từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia do đích thân bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu trao.

Tất cả đều là những giai điệu êm ả, nhẹ nhàng, sâu lắng - như tính cách của ông. Khi hành quân ở Đồng Tháp, lính tráng thời chiến thường đi săn bắn ở vùng biên giới lúc đó còn hoang sơ, ông thú thiệt "săn một con vật về cũng thương, ăn không được". Cô cháu ở cùng nhà bảo: "Chưa bao giờ thấy ông la ai một tiếng".  

Theo binh nghiệp cả đời nhưng nhạc của ông  có vẻ không hứng thú với chiến tranh, thậm chí tác phẩm nổi tiếng "Chiều mưa biên giới" (cùng với "Mấy dậm sơn khê", “Phiên gác đêm xuân”, “Nhớ một chiều xuân” của ông) có lúc bị Bộ Thông tin của chính quyền Sài Gòn yêu cầu Đài phát thanh Sài Gòn không thu âm và phổ biến vì ca từ bắt đầu trong hoang mang của một anh lính: "Chiều mưa biên giới anh đi về đâu - Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu..." (những năm 1955 - 1956,  ông đóng quân ở khu chiến biên giới Đồng Tháp Mười).

Nhạc phẩm này thoạt đầu do ca sĩ Trần Văn Trạch (em nhạc sĩ Trần Văn Khê) hát với giọng miền Tây, cụ thể là giọng Mỹ Tho rặt; s/x, ch/tr... rành mạch. Sau do ca sĩ Hà Thanh, người Huế nhưng hát với giọng Hà Nội xưa - trong trẻo, tròn vành rõ tiếng rất sang trọng chứ không uốn éo, ma mị như một vài ca sĩ Hà Nội hiện nay. Khác hoàn toàn giọng, nhưng cả hai ca sĩ đều hát với giọng ca rung động lòng người khi ấy và cả hôm nay. Bắc – Trung – Nam đủ mặt trong thể hiện tác phẩm của ông, đều hay.

2. Quê ông ở Bến Cầu, bên này sông Vàm Cỏ Đông. Bên kia, cách ít cây số là xóm đạo Tha La nổi tiếng, cạnh rạch Vàm Trảng, bao phen binh lửa. Chắc ông cũng từng ghé qua xóm đạo này? Nhưng ông sanh ngày 15-3-1932 và học ở quận Nhứt, Sài Gòn. 

Ngôi nhà mới của đôi vợ chồng trẻ rất gần nhà thờ Ba Chuông (nhà thờ, giáo xứ Đa Minh), chỉ vài bước chân là tới. Ông đã tới đây bao nhiêu lần? Và hơn thế, hẳn không ít lần ông đã nghe nhạc đạo, xem lễ nhà thờ và nghe thánh ca nơi đây? 

Nếu không, làm sao ông có thể viết những nhạc phẩm mà ca từ, hình ảnh rất quen, rất thân với người Công giáo: “Tình người ngoại đạo”, “Mùa sao sáng”, “Màu xanh Noel”, “Bóng nhỏ giáo đường”, “Hồi chuông kỉ niệm” (đồng tác giả với Song Ngọc)… Viết lời Việt cho một số bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại: “Ave Maria” (nhạc Franz Schubert), “Đêm thánh huy hoàng” (nguyên tác “Silent night” - Khác với bài "Đêm thánh vô cùng" do Hùng Lân, cũng một cư dân Nghĩa Hòa - Ông Tạ trên đường Thánh Mẫu viết lời Việt), “Hồi chuông nửa đêm” (nguyên tác “Jingle Bells” của James Lord Pierpont)…

Có thể nói xuân và đạo là hai nội dung âm nhạc luôn có mặt trong nhạc Nguyễn Văn Đông. Nhưng nếu nhạc xuân của ông thường là nỗi buồn mất mát, có lúc tuyệt vọng thì nhạc đạo của của ông lại là niềm tin yêu vào cuộc sống và sự tái hợp:

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời 
Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui…
(…) Một mùa đông giá hang Bêlem Chúa sinh ra đời
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao… “

Bài “Mùa sao sáng” là nhạc đạo chứ không phải thánh ca, viết ở âm thể Trưởng, giai điệu giản dị nhưng sáng đẹp, trong trẻo như đêm Noel, nghe như thánh ca.

Mùa giáng sinh trong nhạc ông là “hội sao trần thế”, “xanh như liễu đà lạt” - màu vòng lá Noel; nhạc của những tâm tình reo vui: 

“Pong ping pong, pong ping pong… 
Chuông giáo đường thánh thót. 
Đêm Noel chuông vang như mang bao yêu thương loan trong ánh sao sáng…” (“Hồi chuông nửa đêm”).

Xóm đạo nào đó của ông luôn có hình ảnh một người cụ thể, rất cụ thể trong ăn mặc, tính cách đơn sơ và tất nhiên rất ngoan đạo. Tôi không nghĩ ông chưa từng có một người thương nào đó ở một xóm đạo. “Yêu ai, yêu cả đường đi lối về…”. 

Như có lần trong lễ nửa đêm Noel, ông lặng lẽ đứng một mình trong sân nhà thờ Ba Chuông (Đa Minh) – như để gợi lại kỷ niệm, người thương nào đó ở một xóm đạo nào đó. Trong gió may se lạnh đêm cuối năm. Một mình…

“Chúa ngự ở trên cao. Lòng trời bể bao la. 
Ngày lớn con đã tin rằng: Khi lòng khổ đau tìm đến Chúa ban an lành” (“Xin Chúa thấu lòng con”)

3. Những đêm cuối năm Ông Tạ ngày xưa ấy chắc chắn lạnh hơn bây giờ khi nhà cửa chưa chật chội như hôm nay. Phía sau các dãy nhà mặt tiền đường Lê Văn Duyệt nối dài/Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám), Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai)… vẫn là những nhà trệt, nhà gác gỗ… Kinh rạch còn nhiều và còn cả những cánh đồng rộng ở An Lạc, Lộc Hưng, khu Chăn nuôi…

Đường phố cũng không rực rỡ đèn hoa giăng ngang đường như hôm nay. Chỉ là những hang đá kín ban công tầng trên nhiều nhà mặt tiền và những dây đèn quả nhót ánh sáng không mạnh. Hang đá rất lớn của các nhà thờ luôn là điểm chiêm ngưỡng của bao ánh mắt trẻ thơ Ông Tạ.

Những ngày ấy, cả khu vực Ông Tạ là vô vàn những hang đá lớn nhỏ, bằng giấy bạc, bằng giấy bao ximăng phun sơn đen, xám, trắng và bằng cả những thanh mút sốp trắng ngâm xăng để kết dính. Mút sốp được bóp vụn rải lên những cây thông làm tuyết. Trái châu và dây kim tuyến treo lóng lánh reo vui các cửa tiệm. Trẻ con Ông Tạ đi học qua đứa nào cũng ngẩn ngơ nhìn ngắm đến rơi cả cặp; tưởng tượng lóng lánh đêm Giáng sinh và mơ quà của Ông già Noel…

Các trường khu Ông Tạ hầu hết cạnh nhà thờ. Học trò có những buổi học được nghỉ để thầy cô, các cha, các dì (soeur) bắt xếp hàng, “dong” đi xưng tội. Về nhà, cha mẹ dắt ra tiệm hớt tóc “gọt” lại cái đầu cho dễ chải, dễ vuốt nước những mái tóc lởm chởm mưa nắng đi lễ đêm Noel. Tạm quên con dế, viên bi, xấp hình; tạm quên những buổi choảng nhau vỡ đầu thằng xóm khác; tạm quên những trò nghịch ngợm trẻ con bấm chuông nhà hàng xóm…

Đó thật sự là những ngày đáng sống của Ông Tạ; những ngày thanh tẩy, reo vui tâm hồn người người. Ai ở Ông Tạ không từng trải qua, từng nhớ da diết…?

Anh Đặng Quốc Thông, một thằng bé xóm Vinh Sơn, ngõ Cổng Bom - Ông Tạ xưa vốn không phải Kitô hữu, như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tới giờ vẫn nhớ rõ mồn một những ngày Giáng sinh khu Ông Tạ này: 

“Vì cơ bản là khu công giáo di cư, nên không khí chào đón ngày Chúa sinh ra đời ở Ông Tạ rất nhộn nhịp. Ngay từ đầu tháng 12, các nhà mặt phố ở ngã ba Ông Tạ đã dẹp các hàng bán truyền thống qua một bên để bày bán đồ trang trí Giáng sinh. Các ông sao đủ cỡ, ông nhỏ bằng cái chậu con, ông to bằng cả mặt bàn ăn 12 người; ông nào cũng được phết bằng giấy bóng kiếng đỏ có rồng rắn mấy đường trang trí bằng phẩm màu trắng và xanh lơ sặc sỡ. Có vòng ngôi sao cuốn giấy hoa chạy quanh năm đỉnh cánh. Rồi cây thông, thường là bằng giấy kim tuyến bạc lóng lánh có đính các trái châu thủy tinh xanh đỏ tím vàng trông rất bắt mắt.  Rồi ông già Noel và các giải tua ren trắng đỏ cũng như các giải băng hình cánh cung ghi hàng chữ “Vinh danh Thiên Chúa trên trời - Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. 

Nhưng đặc sắc hơn cả ở khu này là hang đá đủ cỡ đủ kiểu, có cái làm bằng giấy bao ximăng phun nhựa đường hay sơn đen gì đó. Có hang làm bằng giấy bạc óng ánh. Hang nào cũng đi kèm một bộ tượng nặn rất sắc nét và tô mầu rất cầu kỳ với Chúa Hài đồng nằm giang hai bàn tay thơ ngây trong trắng trong máng cỏ, hai bên có ông Giuse và bà Maria khuôn mặt hiền hậu, thánh thiện. Lơ lửng trên không là thiên thần; trước cửa hang trong tư thế quỳ lạy là ba nhà tiên tri chống gậy dắt theo bầy dê, bò, cừu như lễ vật mừng Chúa Giáng sinh.

Trễ nhất, khoảng giữa tháng 12, các nhà dọc hai bên đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai) từ ngã ba Ông Tạ đổ xuống đến rạp hát Đại Lợi, hoặc dọc đường Lê Văn Duyệt (nay là Cánh Mạng Tháng Tám) từ ngã ba Ông Tạ đổ về đến khu nhà thờ Chí Hòa phía bên kia hồ tắm Cộng Hoà, cũng đều đã trang trí mặt tiền nhà, thường được đặt trên lan can tầng một, hai… với những hang đá, đèn ngôi sao, hình thiên thần, ngôi sao Betlêhem, và các dây tua và dây đèn điện chớp sáng đủ mầu. 

Thường thì đèn trang trí sẽ được bật lên lúc sáu giờ chiều khi trời mới nhọ nhem và để vậy cho đến sáng. Khoảng chín, mười giờ đêm, các nhà hai bên đường đóng cửa, tạo ra một khoảng tối dưới mặt đường, tương phản hoàn toàn với không gian sáng ấm phía trên. Trong tiết trời se se lạnh những ngày cuối năm, khách đi bộ hay đi xe máy ngang trên đường, không ai là không ngước nhìn lên các hang đá rực rỡ, lung linh hai bên; không tai ai  không nghe văng vẳng như từ hai ngàn năm trước vọng về bài hát có thể nói là truyền thống của các xóm đạo: “Đêm đông lạnh lẽo chúa sinh ra đời... Chúa... sinh ra đời... nằm trong hang đá... nơi máng lừa...”.

Và không ai là không nghĩ đến tình thương bao la của Thiên Chúa đang rải xuống trần, để chợt thấy lòng mình ấm áp hẳn và cảm nhận ngay lập tức như đang ùa vào hồn mình một tình yêu người, yêu đời tha thiết...”.

4. Người nhạc sĩ tài hoa ấy đã thấy, đã sống trong các xóm đạo Ông Tạ những ngày yêu thương, ấm cúng này, trong hồi chuông nửa đêm lành thánh, yên bình…

Tự xác định mình là người ngoại đạo, nhưng ông đã làm nhạc không khác một Kitô hữu thuần thành: “Lạy Chúa con xin nguyện Chúa trên trời - Cho trọn niềm tin ơn trên Thiên Chúa - Con xin đuợc sống bên chàng - Nguời con nhớ con thương - Kính mến tôn thờ Chúa, Amen” (“Tình người ngoại đạo”).

Và Mẹ Maria, lời kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phước…” hiện ra trong nhạc ông, trông đợi ngày gặp lại:

“Xin Mẹ Maria
Cho nước con vui đời thăng hoa
Đã mấy mươi năm, Mẹ ơi sống trông mong ngày vui
Một ngày bên nhau hát câu đoàn viên
Hãy ban cho một mùa xuân như ý quên sầu bi
Đầy ơn phước trong tay Người
Mẹ ơi bao la lòng Maria
Này đây muôn kinh quỳ lạy tấu dâng lên Bà” (“Ave Maria”)

Nhạc phẩm của Franz Schubert do ông viết lời Việt tuyệt vời này được danh ca Thái Thanh trình bày trong băng nhạc "Sơn Ca Giáng sinh 1972". Đầu nhạc phẩm, ông ghi rõ: "Trang trọng viết tri ân Đức Mẹ Fatima (Bình Lợi)". Ông, một người ngoại đạo, đã cầu xin gì với Đức Mẹ và được ban ơn phước? Ngay trước 1975, ông đã mở một xưởng làm băng đĩa lớn nơi đây, chưa kịp khai trương phải bỏ dở. 

5. Tôi quen và là "khách ruột" mua giò chả, phômai... mấy chục năm nay ở cửa hàng của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cô Nguyệt Thu. Giò chả của tiệm xưa giờ đều lấy từ các lò giò chả Ông Tạ vì theo cô,  “giò chả Ông Tạ chất lượng, chuẩn vị giò chả nhứt Sài Gòn”. 

Cô Thu cùng quê Gò Công với hoàng hậu Nam Phương (nhưng như chú, quê Tây Ninh nhưng cả hai vợ chồng đều sinh ra, lớn lên ở Sài Gòn) và nét mặt cũng hao hao: mặt thon dài, trắng trẻo, mắt một mí lót, hơi xếch. Cô vốn là quản lý Hãng dĩa hát Continental mà chú là giám đốc nghệ thuật. Cô Nguyệt Thu về với chú  năm 1968, ở nhà mướn khu cư xá Đô Thành. 

Thực sự nhiều người ngạc nhiên khi lúc đó ông là sĩ quan cấp tá Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa, rồi là giám đốc ba công ty băng dĩa lớn ở Sài Gòn lúc đó mà lại mua ngôi nhà nhỏ ở khu vực nhà cửa khi ấy khá lụp xụp như vậy (sát khu vực vốn là đất trồng cây giống của Sở Bảo vệ mùa màng Việt Nam cộng hòa bị thương phế binh Việt Nam cộng hòa lẫn một số dân chiếm). Thời điểm đó, cách vài bước chân là ra đại lộ Cách Mạng 1-11 có rất nhiều ngôi nhà lớn, biệt thự của sĩ quan Việt Nam cộng hòa chức vụ và cấp bậc còn dưới ông. 

Niềm vui hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ chỉ được vài năm. Sau 1975, ông đi cải tạo. Cải tạo về năm 1985 với nhiều bịnh; cô phải bồng bế ông, chăm sóc từng chút. Ông không chịu định cư ở Mỹ theo diện HO do nhiều lý do. Cô Nguyệt Thu vẫn lặng lẽ một cách sang trọng chăm sóc chồng, từ cửa hàng ban đầu bán cám gà, chuối... rồi mới thành tiệm bán thịt nguội, tạp hóa nhỏ Nhiên Hương mà tôi đi qua hàng ngày, ghé mua hàng ngày và tết nào cô cũng lì xì tôi: khi hộp bánh, khi gói lạp xưởng...

Cửa hàng tên Nhiên Hương phải chăng là suy nghĩ của hai vợ chồng: "hữu xạ tự nhiên hương", không cần phải gồng mình, lớn tiếng khẳng định? Và cả hai vợ chồng đều sống lặng lẽ, lặng lẽ đến mức khi ông ra đi, nhiều người hàng xóm và khách mua hàng mới biết ông là tác giả nhiều nhạc phẩm họ yêu thích.

Vị nhạc sĩ này hoàn toàn lặng lẽ, không một phát biểu sau khi cải tạo về. Lãnh sự quán Mỹ liên hệ kêu đi diện HO (đại tá Việt Nam cộng hòa, đi cải tạo bảy năm, đi khá dễ dàng), ông từ chối. 

Lặng lẽ như khi còn trong trại cải tạo Suối Máu (Biên Hòa, Đồng Nai), ông nằm lắng nghe tiếng xe lửa vang xình xịch cách trại không xa và viết nhạc phẩm không lời "Tiếng chim hót trong lồng". Lặng lẽ nhớ Sài Gòn, nơi ông sinh ra, lớn lên cho một nhạc phẩm có lời: "Sài Gòn trong trái tim tôi": "Cho nhớ thương vời vợi… Sài Gòn luôn trong trái tim tôi…”...

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi tối 26-2-2018 (11 tháng Giêng năm Mậu Tuất), sau giao thừa thứ 87 của đời mình và chỉ hơn nửa tháng nữa là sinh nhật ông. Thế là hết những "Phiên gác đêm xuân": "Đón giao thừa một phiên gác đêm...". Giờ ai gác những đêm xuân cho cô khi cô chú không có con?

Đến ngôi nhà nhỏ (chiều ngang chỉ hơn ba mét do vợ chồng ông gom góp mua từ năm 1970, sau hai năm về với nhau) thắp nhang, cô Nguyệt Thu cốt cách vẫn sang trọng, đôi mắt đỏ hoe: "50 năm cô chú đã đi cùng nhau và 48 năm ở ngôi nhà này...".

Những ngày sau đó, cô Thu gầy sọp bốn, năm ký - trong khi cô vốn gầy yếu; lơ thơ đi lại, sống với ngôi nhà ngập tràn kỷ niệm xưa. Người thân hoảng. Ngày 5-8-2018, cô kêu tôi tới nhà tặng đĩa nhạc tưởng niệm chú do chương trình Thúy Nga tổ chức ở Mỹ.  Thấy cô héo hắt...

Trong nỗi buồn đau quá lớn, cô còn có ý định đốt bỏ hết những tư liệu, di cảo âm nhạc của chú; bán ngôi nhà kỷ niệm, mang bàn thờ chú, ba mẹ chú về quê cô ở Gò Công thờ. Sao không mang về Bến Cầu? "Cả chục ha đất quê sau 1975 không còn..." - cô bảo. Tôi cầm bàn tay trơ xương của cô, xin cô bình tĩnh, ăn uống cho lại sức. Khi bớt đau, tính gì thì tính chứ lúc đó chắc chắn cô chưa tỉnh đâu.

Tết. Cô nằng nặc bắt tôi phải nhận đòn chả lụa và tấm bánh chưng Bắc: "Tối cô ngủ, thấy chú về, dặn cô cho Công cúng tết mẹ". Chú Đông vốn mồ côi mẹ sớm.

"Hồi trước, Công tới mua đồ hàng ngày. Chú ngồi trên phòng cứ hỏi thăm. Đêm chú về dặn cô nấu xôi chè, gởi Công về cúng mẹ..." - cô Thu đỏ hoe mắt khi kêu tôi tới nhận xôi chè cô nấu. Mẹ tôi vốn đi trước chú hơn nửa năm.

Như tính cách của nhạc sĩ, mùa xuân lẫn nhạc đạo của ông sao mà sâu lắng quá, mênh mông cả trong ca từ lẫn nhịp nhạc. Vì vậy, sau khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi, có nhà thờ ở Bến Tre đã tổ chức lễ cầu nguyện cho ông nhân 49 ngày - theo thông lệ những người theo đạo Phật (người Công giáo thường "xin lễ" khi đủ 100 ngày).

Không hiểu sao lúc nào tới nhà cô chú cũng gặp hoa cúc vàng - một loài hoa của mùa xuân miền Nam. "Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người...". Người nhạc sĩ tài hoa làm dân Ông Tạ 48 năm ấy đã ra đi, hai tháng nữa là bốn năm (2018-2022). 

Một mùa Noel nữa, xóm đạo Ông Tạ vắng người nhạc sĩ tài hoa, ngoại đạo nhưng viết nhạc đạo nhiều nhất trong các nhạc sĩ Việt xưa nay. Thật kỳ lạ, nhạc đạo của người nhạc sĩ ngoại đạo ấy, bài nào cũng rung chuyển lòng thế nhân, dù có đạo hay không.

“Đêm nay tôi nhớ người xưa trở lại
Chênh chếch mùa sao lạc loài
Ôi những mùa sao lẻ loi…” (Mùa sao sáng)NGUYỄN VĂN ĐÔNG - NHẠC SĨ NGOẠI ĐẠO ÔNG TẠ VIẾT NHẠC ĐẠO NHIỀU NHẤT, RUNG ĐỘNG NHẤT

* “Chúa ngự ở trên cao. Lòng trời bể bao la. Ngày lớn con đã tin rằng: Khi lòng khổ đau tìm đến Chúa ban an lành”

Năm 1970, cách đây nửa thế kỷ, có đôi vợ chồng trẻ mới cưới nhau được hai năm gom góp tiền mua ngôi nhà nhỏ gần góc đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) - đại lộ Cách Mạng 1-11 (nay là Nguyễn Văn Trỗi). Đây là vùng environs (ngoại vi, ngoại ô, vùng ven…) Ông Tạ. Khu vực này lúc đó còn rất vắng vẻ, nhưng gần nơi ông làm việc là trại Trần Hưng Đạo - trụ sở Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa. 

1. Ông đạo Phật, con trai duy nhất một gia đình điền chủ lớn ở xã biên giới Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, Tây Ninh. Vùng này khô cằn nhưng mía lại ngọt nổi tiếng. Liệu những vườn mía quê xưa có khiến ông thích uống nước mía hơn các loại nước uống khác? Gần bốn năm trước, một buổi chiều xuân, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đang trong bệnh viện, nhờ cô cháu ở cùng nhà mua nước mía, dặn dò: "Đừng bỏ đá uống nhạt" và uống khen ngon. Đó là ly nước mía - vị ngọt quê nhà Tây Ninh cuối cùng của ông. Chỉ ít phút sau, ông ra đi: 19g30 ngày 26-2-2018 (11 tháng Giêng năm Mậu Tuất) ở bệnh viện Chợ Rẫy.

Ông là nhạc sĩ “Chiều mưa biên giới” Nguyễn Văn Đông. Với tôi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một trong ba nhạc sĩ lớn nhất miền Nam trước 1975 cùng Phạm Duy, Trịnh Công Sơn.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết nhạc đa dạng, gần gũi mọi lứa tuổi; một tài năng rất lớn với sinh hoạt sôi động.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết nhạc với những hợp âm đơn giản nhưng ca từ sâu sắc, đi vào thân phận con người. 

Nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có một vẻ khác biệt rất rõ: sang trọng một cách gần gũi, sâu lắng,  đẫm yêu thương. Nhiều, rất nhiều nhạc phẩm của ông, đạo cũng như đời, hay đến sững sờ. Và ông sống với một nhân cách sống của kẻ sĩ miền Đông Nam bộ trong thời tao loạn: hiền lành nhưng cứng cỏi giữ tiết tháo, không thay đổi cả trong lúc khó khăn đến tận cùng.

Ông theo binh nghiệp từ năm 14 tuổi (1946) ở Trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu và chức vụ cuối cùng trong Quân lực Việt Nam cộng hòa là đại tá chánh võ phòng Tổng tham mưu phó; trải qua hai đời tổng tham mưu phó là trung tướng Nguyễn Văn Là (1968-1974) và trung tướng Nguyễn Văn Mạnh (1974-1975). Tổng tham mưu trưởng là đại tướng Cao Văn Viên. 

Khi ở Thiếu sinh quân, ông học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp; thành viên Ban Quân nhạc Thiếu sinh quân, sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ và 16 tuổi đã có những sáng tác đầu tay: “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”... Và đó là lý do đám tang ông có nhiều cựu Thiếu sinh quân Việt Nam cộng hòa đưa tiễn.

Nhà ông trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển), đi một chút là ra ngã tư Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai). Tên đường Thoại Ngọc Hầu cũng là tên một chiến dịch quân sự năm 1956 của Quân đội Việt Nam cộng hòa (từ 1965, đổi thành Quân lực Việt Nam cộng hòa) ở vùng Đồng Tháp Mười mà ông tham gia; do tướng Dương Văn Minh làm tư lệnh. Còn nhạc sĩ, khi ấy 24 tuổi nhưng đã là trưởng Phòng 3 - Tác chiến của Phân khu Đồng Tháp Mười Việt Nam cộng hòa.

Trước 1975, tên tuổi của ông lừng lẫy một cách đằm thắm - như tính cách của ông, không phải bằng binh nghiệp (dù tướng Dương Văn Minh từng bắt tay ngưỡng mộ ông trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu) mà là những tác phẩm âm nhạc: “Chiều mưa biên giới”, “Mấy dậm sơn khê”, “Phiên gác đêm xuân”, “Bến đò biên giới”, “Về mái nhà xưa”, “Niềm đau dĩ vãng”, “Hải ngoại thương ca”, “Khi đã yêu”... 

Ngoài Nguyễn Văn Đông, ông còn ký tên Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử...

Tính cách nhẹ nhàng, yêu quê hương da diết của nhạc sĩ cũng khiến ông không chỉ viết tân nhạc mà còn cả cổ nhạc: viết nhạc, đạo diễn trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước 75 như: “Nửa đời hương phấn”, “Đoạn tuyệt”, “Tiếng hạc trong trăng”, “Mưa rừng”…

Thập niên 1950, ở tuổi đôi mươi, ông là trưởng Ban (văn nghệ) Vì Dân; 26 tuổi (1958), ông là trưởng Ban (ca nhạc) Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn. Ông từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia do đích thân bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu trao.

Tất cả đều là những giai điệu êm ả, nhẹ nhàng, sâu lắng - như tính cách của ông. Khi hành quân ở Đồng Tháp, lính tráng thời chiến thường đi săn bắn ở vùng biên giới lúc đó còn hoang sơ, ông thú thiệt "săn một con vật về cũng thương, ăn không được". Cô cháu ở cùng nhà bảo: "Chưa bao giờ thấy ông la ai một tiếng".  

Theo binh nghiệp cả đời nhưng nhạc của ông  có vẻ không hứng thú với chiến tranh, thậm chí tác phẩm nổi tiếng "Chiều mưa biên giới" (cùng với "Mấy dậm sơn khê", “Phiên gác đêm xuân”, “Nhớ một chiều xuân” của ông) có lúc bị Bộ Thông tin của chính quyền Sài Gòn yêu cầu Đài phát thanh Sài Gòn không thu âm và phổ biến vì ca từ bắt đầu trong hoang mang của một anh lính: "Chiều mưa biên giới anh đi về đâu - Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu..." (những năm 1955 - 1956,  ông đóng quân ở khu chiến biên giới Đồng Tháp Mười).

Nhạc phẩm này thoạt đầu do ca sĩ Trần Văn Trạch (em nhạc sĩ Trần Văn Khê) hát với giọng miền Tây, cụ thể là giọng Mỹ Tho rặt; s/x, ch/tr... rành mạch. Sau do ca sĩ Hà Thanh, người Huế nhưng hát với giọng Hà Nội xưa - trong trẻo, tròn vành rõ tiếng rất sang trọng chứ không uốn éo, ma mị như một vài ca sĩ Hà Nội hiện nay. Khác hoàn toàn giọng, nhưng cả hai ca sĩ đều hát với giọng ca rung động lòng người khi ấy và cả hôm nay. Bắc – Trung – Nam đủ mặt trong thể hiện tác phẩm của ông, đều hay.

2. Quê ông ở Bến Cầu, bên này sông Vàm Cỏ Đông. Bên kia, cách ít cây số là xóm đạo Tha La nổi tiếng, cạnh rạch Vàm Trảng, bao phen binh lửa. Chắc ông cũng từng ghé qua xóm đạo này? Nhưng ông sanh ngày 15-3-1932 và học ở quận Nhứt, Sài Gòn. 

Ngôi nhà mới của đôi vợ chồng trẻ rất gần nhà thờ Ba Chuông (nhà thờ, giáo xứ Đa Minh), chỉ vài bước chân là tới. Ông đã tới đây bao nhiêu lần? Và hơn thế, hẳn không ít lần ông đã nghe nhạc đạo, xem lễ nhà thờ và nghe thánh ca nơi đây? 

Nếu không, làm sao ông có thể viết những nhạc phẩm mà ca từ, hình ảnh rất quen, rất thân với người Công giáo: “Tình người ngoại đạo”, “Mùa sao sáng”, “Màu xanh Noel”, “Bóng nhỏ giáo đường”, “Hồi chuông kỉ niệm” (đồng tác giả với Song Ngọc)… Viết lời Việt cho một số bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại: “Ave Maria” (nhạc Franz Schubert), “Đêm thánh huy hoàng” (nguyên tác “Silent night” - Khác với bài "Đêm thánh vô cùng" do Hùng Lân, cũng một cư dân Nghĩa Hòa - Ông Tạ trên đường Thánh Mẫu viết lời Việt), “Hồi chuông nửa đêm” (nguyên tác “Jingle Bells” của James Lord Pierpont)…

Có thể nói xuân và đạo là hai nội dung âm nhạc luôn có mặt trong nhạc Nguyễn Văn Đông. Nhưng nếu nhạc xuân của ông thường là nỗi buồn mất mát, có lúc tuyệt vọng thì nhạc đạo của của ông lại là niềm tin yêu vào cuộc sống và sự tái hợp:

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời 
Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui…
(…) Một mùa đông giá hang Bêlem Chúa sinh ra đời
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao… “

Bài “Mùa sao sáng” là nhạc đạo chứ không phải thánh ca, viết ở âm thể Trưởng, giai điệu giản dị nhưng sáng đẹp, trong trẻo như đêm Noel, nghe như thánh ca.

Mùa giáng sinh trong nhạc ông là “hội sao trần thế”, “xanh như liễu đà lạt” - màu vòng lá Noel; nhạc của những tâm tình reo vui: 

“Pong ping pong, pong ping pong… 
Chuông giáo đường thánh thót. 
Đêm Noel chuông vang như mang bao yêu thương loan trong ánh sao sáng…” (“Hồi chuông nửa đêm”).

Xóm đạo nào đó của ông luôn có hình ảnh một người cụ thể, rất cụ thể trong ăn mặc, tính cách đơn sơ và tất nhiên rất ngoan đạo. Tôi không nghĩ ông chưa từng có một người thương nào đó ở một xóm đạo. “Yêu ai, yêu cả đường đi lối về…”. 

Như có lần trong lễ nửa đêm Noel, ông lặng lẽ đứng một mình trong sân nhà thờ Ba Chuông (Đa Minh) – như để gợi lại kỷ niệm, người thương nào đó ở một xóm đạo nào đó. Trong gió may se lạnh đêm cuối năm. Một mình…

“Chúa ngự ở trên cao. Lòng trời bể bao la. 
Ngày lớn con đã tin rằng: Khi lòng khổ đau tìm đến Chúa ban an lành” (“Xin Chúa thấu lòng con”)

3. Những đêm cuối năm Ông Tạ ngày xưa ấy chắc chắn lạnh hơn bây giờ khi nhà cửa chưa chật chội như hôm nay. Phía sau các dãy nhà mặt tiền đường Lê Văn Duyệt nối dài/Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám), Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai)… vẫn là những nhà trệt, nhà gác gỗ… Kinh rạch còn nhiều và còn cả những cánh đồng rộng ở An Lạc, Lộc Hưng, khu Chăn nuôi…

Đường phố cũng không rực rỡ đèn hoa giăng ngang đường như hôm nay. Chỉ là những hang đá kín ban công tầng trên nhiều nhà mặt tiền và những dây đèn quả nhót ánh sáng không mạnh. Hang đá rất lớn của các nhà thờ luôn là điểm chiêm ngưỡng của bao ánh mắt trẻ thơ Ông Tạ.

Những ngày ấy, cả khu vực Ông Tạ là vô vàn những hang đá lớn nhỏ, bằng giấy bạc, bằng giấy bao ximăng phun sơn đen, xám, trắng và bằng cả những thanh mút sốp trắng ngâm xăng để kết dính. Mút sốp được bóp vụn rải lên những cây thông làm tuyết. Trái châu và dây kim tuyến treo lóng lánh reo vui các cửa tiệm. Trẻ con Ông Tạ đi học qua đứa nào cũng ngẩn ngơ nhìn ngắm đến rơi cả cặp; tưởng tượng lóng lánh đêm Giáng sinh và mơ quà của Ông già Noel…

Các trường khu Ông Tạ hầu hết cạnh nhà thờ. Học trò có những buổi học được nghỉ để thầy cô, các cha, các dì (soeur) bắt xếp hàng, “dong” đi xưng tội. Về nhà, cha mẹ dắt ra tiệm hớt tóc “gọt” lại cái đầu cho dễ chải, dễ vuốt nước những mái tóc lởm chởm mưa nắng đi lễ đêm Noel. Tạm quên con dế, viên bi, xấp hình; tạm quên những buổi choảng nhau vỡ đầu thằng xóm khác; tạm quên những trò nghịch ngợm trẻ con bấm chuông nhà hàng xóm…

Đó thật sự là những ngày đáng sống của Ông Tạ; những ngày thanh tẩy, reo vui tâm hồn người người. Ai ở Ông Tạ không từng trải qua, từng nhớ da diết…?

Anh Đặng Quốc Thông, một thằng bé xóm Vinh Sơn, ngõ Cổng Bom - Ông Tạ xưa vốn không phải Kitô hữu, như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tới giờ vẫn nhớ rõ mồn một những ngày Giáng sinh khu Ông Tạ này: 

“Vì cơ bản là khu công giáo di cư, nên không khí chào đón ngày Chúa sinh ra đời ở Ông Tạ rất nhộn nhịp. Ngay từ đầu tháng 12, các nhà mặt phố ở ngã ba Ông Tạ đã dẹp các hàng bán truyền thống qua một bên để bày bán đồ trang trí Giáng sinh. Các ông sao đủ cỡ, ông nhỏ bằng cái chậu con, ông to bằng cả mặt bàn ăn 12 người; ông nào cũng được phết bằng giấy bóng kiếng đỏ có rồng rắn mấy đường trang trí bằng phẩm màu trắng và xanh lơ sặc sỡ. Có vòng ngôi sao cuốn giấy hoa chạy quanh năm đỉnh cánh. Rồi cây thông, thường là bằng giấy kim tuyến bạc lóng lánh có đính các trái châu thủy tinh xanh đỏ tím vàng trông rất bắt mắt.  Rồi ông già Noel và các giải tua ren trắng đỏ cũng như các giải băng hình cánh cung ghi hàng chữ “Vinh danh Thiên Chúa trên trời - Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. 

Nhưng đặc sắc hơn cả ở khu này là hang đá đủ cỡ đủ kiểu, có cái làm bằng giấy bao ximăng phun nhựa đường hay sơn đen gì đó. Có hang làm bằng giấy bạc óng ánh. Hang nào cũng đi kèm một bộ tượng nặn rất sắc nét và tô mầu rất cầu kỳ với Chúa Hài đồng nằm giang hai bàn tay thơ ngây trong trắng trong máng cỏ, hai bên có ông Giuse và bà Maria khuôn mặt hiền hậu, thánh thiện. Lơ lửng trên không là thiên thần; trước cửa hang trong tư thế quỳ lạy là ba nhà tiên tri chống gậy dắt theo bầy dê, bò, cừu như lễ vật mừng Chúa Giáng sinh.

Trễ nhất, khoảng giữa tháng 12, các nhà dọc hai bên đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai) từ ngã ba Ông Tạ đổ xuống đến rạp hát Đại Lợi, hoặc dọc đường Lê Văn Duyệt (nay là Cánh Mạng Tháng Tám) từ ngã ba Ông Tạ đổ về đến khu nhà thờ Chí Hòa phía bên kia hồ tắm Cộng Hoà, cũng đều đã trang trí mặt tiền nhà, thường được đặt trên lan can tầng một, hai… với những hang đá, đèn ngôi sao, hình thiên thần, ngôi sao Betlêhem, và các dây tua và dây đèn điện chớp sáng đủ mầu. 

Thường thì đèn trang trí sẽ được bật lên lúc sáu giờ chiều khi trời mới nhọ nhem và để vậy cho đến sáng. Khoảng chín, mười giờ đêm, các nhà hai bên đường đóng cửa, tạo ra một khoảng tối dưới mặt đường, tương phản hoàn toàn với không gian sáng ấm phía trên. Trong tiết trời se se lạnh những ngày cuối năm, khách đi bộ hay đi xe máy ngang trên đường, không ai là không ngước nhìn lên các hang đá rực rỡ, lung linh hai bên; không tai ai  không nghe văng vẳng như từ hai ngàn năm trước vọng về bài hát có thể nói là truyền thống của các xóm đạo: “Đêm đông lạnh lẽo chúa sinh ra đời... Chúa... sinh ra đời... nằm trong hang đá... nơi máng lừa...”.

Và không ai là không nghĩ đến tình thương bao la của Thiên Chúa đang rải xuống trần, để chợt thấy lòng mình ấm áp hẳn và cảm nhận ngay lập tức như đang ùa vào hồn mình một tình yêu người, yêu đời tha thiết...”.

4. Người nhạc sĩ tài hoa ấy đã thấy, đã sống trong các xóm đạo Ông Tạ những ngày yêu thương, ấm cúng này, trong hồi chuông nửa đêm lành thánh, yên bình…

Tự xác định mình là người ngoại đạo, nhưng ông đã làm nhạc không khác một Kitô hữu thuần thành: “Lạy Chúa con xin nguyện Chúa trên trời - Cho trọn niềm tin ơn trên Thiên Chúa - Con xin đuợc sống bên chàng - Nguời con nhớ con thương - Kính mến tôn thờ Chúa, Amen” (“Tình người ngoại đạo”).

Và Mẹ Maria, lời kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phước…” hiện ra trong nhạc ông, trông đợi ngày gặp lại:

“Xin Mẹ Maria
Cho nước con vui đời thăng hoa
Đã mấy mươi năm, Mẹ ơi sống trông mong ngày vui
Một ngày bên nhau hát câu đoàn viên
Hãy ban cho một mùa xuân như ý quên sầu bi
Đầy ơn phước trong tay Người
Mẹ ơi bao la lòng Maria
Này đây muôn kinh quỳ lạy tấu dâng lên Bà” (“Ave Maria”)

Nhạc phẩm của Franz Schubert do ông viết lời Việt tuyệt vời này được danh ca Thái Thanh trình bày trong băng nhạc "Sơn Ca Giáng sinh 1972". Đầu nhạc phẩm, ông ghi rõ: "Trang trọng viết tri ân Đức Mẹ Fatima (Bình Lợi)". Ông, một người ngoại đạo, đã cầu xin gì với Đức Mẹ và được ban ơn phước? Ngay trước 1975, ông đã mở một xưởng làm băng đĩa lớn nơi đây, chưa kịp khai trương phải bỏ dở. 

5. Tôi quen và là "khách ruột" mua giò chả, phômai... mấy chục năm nay ở cửa hàng của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cô Nguyệt Thu. Giò chả của tiệm xưa giờ đều lấy từ các lò giò chả Ông Tạ vì theo cô,  “giò chả Ông Tạ chất lượng, chuẩn vị giò chả nhứt Sài Gòn”. 

Cô Thu cùng quê Gò Công với hoàng hậu Nam Phương (nhưng như chú, quê Tây Ninh nhưng cả hai vợ chồng đều sinh ra, lớn lên ở Sài Gòn) và nét mặt cũng hao hao: mặt thon dài, trắng trẻo, mắt một mí lót, hơi xếch. Cô vốn là quản lý Hãng dĩa hát Continental mà chú là giám đốc nghệ thuật. Cô Nguyệt Thu về với chú  năm 1968, ở nhà mướn khu cư xá Đô Thành. 

Thực sự nhiều người ngạc nhiên khi lúc đó ông là sĩ quan cấp tá Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa, rồi là giám đốc ba công ty băng dĩa lớn ở Sài Gòn lúc đó mà lại mua ngôi nhà nhỏ ở khu vực nhà cửa khi ấy khá lụp xụp như vậy (sát khu vực vốn là đất trồng cây giống của Sở Bảo vệ mùa màng Việt Nam cộng hòa bị thương phế binh Việt Nam cộng hòa lẫn một số dân chiếm). Thời điểm đó, cách vài bước chân là ra đại lộ Cách Mạng 1-11 có rất nhiều ngôi nhà lớn, biệt thự của sĩ quan Việt Nam cộng hòa chức vụ và cấp bậc còn dưới ông. 

Niềm vui hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ chỉ được vài năm. Sau 1975, ông đi cải tạo. Cải tạo về năm 1985 với nhiều bịnh; cô phải bồng bế ông, chăm sóc từng chút. Ông không chịu định cư ở Mỹ theo diện HO do nhiều lý do. Cô Nguyệt Thu vẫn lặng lẽ một cách sang trọng chăm sóc chồng, từ cửa hàng ban đầu bán cám gà, chuối... rồi mới thành tiệm bán thịt nguội, tạp hóa nhỏ Nhiên Hương mà tôi đi qua hàng ngày, ghé mua hàng ngày và tết nào cô cũng lì xì tôi: khi hộp bánh, khi gói lạp xưởng...

Cửa hàng tên Nhiên Hương phải chăng là suy nghĩ của hai vợ chồng: "hữu xạ tự nhiên hương", không cần phải gồng mình, lớn tiếng khẳng định? Và cả hai vợ chồng đều sống lặng lẽ, lặng lẽ đến mức khi ông ra đi, nhiều người hàng xóm và khách mua hàng mới biết ông là tác giả nhiều nhạc phẩm họ yêu thích.

Vị nhạc sĩ này hoàn toàn lặng lẽ, không một phát biểu sau khi cải tạo về. Lãnh sự quán Mỹ liên hệ kêu đi diện HO (đại tá Việt Nam cộng hòa, đi cải tạo bảy năm, đi khá dễ dàng), ông từ chối. 

Lặng lẽ như khi còn trong trại cải tạo Suối Máu (Biên Hòa, Đồng Nai), ông nằm lắng nghe tiếng xe lửa vang xình xịch cách trại không xa và viết nhạc phẩm không lời "Tiếng chim hót trong lồng". Lặng lẽ nhớ Sài Gòn, nơi ông sinh ra, lớn lên cho một nhạc phẩm có lời: "Sài Gòn trong trái tim tôi": "Cho nhớ thương vời vợi… Sài Gòn luôn trong trái tim tôi…”...

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi tối 26-2-2018 (11 tháng Giêng năm Mậu Tuất), sau giao thừa thứ 87 của đời mình và chỉ hơn nửa tháng nữa là sinh nhật ông. Thế là hết những "Phiên gác đêm xuân": "Đón giao thừa một phiên gác đêm...". Giờ ai gác những đêm xuân cho cô khi cô chú không có con?

Đến ngôi nhà nhỏ (chiều ngang chỉ hơn ba mét do vợ chồng ông gom góp mua từ năm 1970, sau hai năm về với nhau) thắp nhang, cô Nguyệt Thu cốt cách vẫn sang trọng, đôi mắt đỏ hoe: "50 năm cô chú đã đi cùng nhau và 48 năm ở ngôi nhà này...".

Những ngày sau đó, cô Thu gầy sọp bốn, năm ký - trong khi cô vốn gầy yếu; lơ thơ đi lại, sống với ngôi nhà ngập tràn kỷ niệm xưa. Người thân hoảng. Ngày 5-8-2018, cô kêu tôi tới nhà tặng đĩa nhạc tưởng niệm chú do chương trình Thúy Nga tổ chức ở Mỹ.  Thấy cô héo hắt...

Trong nỗi buồn đau quá lớn, cô còn có ý định đốt bỏ hết những tư liệu, di cảo âm nhạc của chú; bán ngôi nhà kỷ niệm, mang bàn thờ chú, ba mẹ chú về quê cô ở Gò Công thờ. Sao không mang về Bến Cầu? "Cả chục ha đất quê sau 1975 không còn..." - cô bảo. Tôi cầm bàn tay trơ xương của cô, xin cô bình tĩnh, ăn uống cho lại sức. Khi bớt đau, tính gì thì tính chứ lúc đó chắc chắn cô chưa tỉnh đâu.

Tết. Cô nằng nặc bắt tôi phải nhận đòn chả lụa và tấm bánh chưng Bắc: "Tối cô ngủ, thấy chú về, dặn cô cho Công cúng tết mẹ". Chú Đông vốn mồ côi mẹ sớm.

"Hồi trước, Công tới mua đồ hàng ngày. Chú ngồi trên phòng cứ hỏi thăm. Đêm chú về dặn cô nấu xôi chè, gởi Công về cúng mẹ..." - cô Thu đỏ hoe mắt khi kêu tôi tới nhận xôi chè cô nấu. Mẹ tôi vốn đi trước chú hơn nửa năm.

Như tính cách của nhạc sĩ, mùa xuân lẫn nhạc đạo của ông sao mà sâu lắng quá, mênh mông cả trong ca từ lẫn nhịp nhạc. Vì vậy, sau khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi, có nhà thờ ở Bến Tre đã tổ chức lễ cầu nguyện cho ông nhân 49 ngày - theo thông lệ những người theo đạo Phật (người Công giáo thường "xin lễ" khi đủ 100 ngày).

Không hiểu sao lúc nào tới nhà cô chú cũng gặp hoa cúc vàng - một loài hoa của mùa xuân miền Nam. "Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người...". Người nhạc sĩ tài hoa làm dân Ông Tạ 48 năm ấy đã ra đi, hai tháng nữa là bốn năm (2018-2022). 

Một mùa Noel nữa, xóm đạo Ông Tạ vắng người nhạc sĩ tài hoa, ngoại đạo nhưng viết nhạc đạo nhiều nhất trong các nhạc sĩ Việt xưa nay. Thật kỳ lạ, nhạc đạo của người nhạc sĩ ngoại đạo ấy, bài nào cũng rung chuyển lòng thế nhân, dù có đạo hay không.

“Đêm nay tôi nhớ người xưa trở lại
Chênh chếch mùa sao lạc loài
Ôi những mùa sao lẻ loi…” (Mùa sao sáng)

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

Cựu Đại Sứ VNCH Bùi Diễm qua đời, thọ 99 tuổi


ROCKVILLE, Maryland – Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1967-1972, vừa qua đời vào 3 giờ sáng Chủ Nhật, 24 Tháng Mười, tại nhà riêng ở Rockville, tiểu bang Maryland, thọ 99 tuổi.
Ông Boone La Qui Dung, con rể của ông Bùi Diễm, xác nhận tin này với nhật báo Người Việt, và cho hay: “Cha vợ tôi qua đời an lành trong lúc ngủ.”

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, hình chụp Tháng Tư, 2021.
(Hình: Uyên Nguyên/Người Việt)

Theo gia đình, ông Bùi Diễm qua đời, để lại người vợ 96 tuổi cùng hai con gái và một con trai, và hiện chưa có chương trình tang lễ.

Theo trang Wikipedia, ông Bùi Diễm sinh năm 1923, quê ở Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.
Thân phụ ông là nhà nho Ưu Thiên Bùi Kỷ, dòng dõi phó bảng Bùi Văn Quế và Bùi Ân Niên. Ông có người cô ruột là Bùi Thị Tuất, phu nhân của học giả, thủ tướng Trần Trọng Kim (1945).

Ông từng học trường Bưởi – Chu Văn An, tham gia Trường Lục Quân tại Yên Bái.
“Ông từng làm chủ nhiệm báo Saigon Post xuất bản ở Sài Gòn bằng Anh ngữ (1954-1963). Đây là tờ báo tiếng Anh đầu tiên ở Việt Nam. Ông cũng thành lập hãng phim Tân Việt, sản xuất cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống.”

Về chính trị, ông giữ chức tổng trưởng Phủ Thủ Tướng (1965) trong nội các Thủ Tướng Phan Huy Quát. Còn trong nội các của Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, ông là ủy viên ngoại giao (1965-1967). Ông cũng là đảng viên Đảng Đại Việt.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington, D.C., thay thế đại sứ Vũ Văn Thái. Chức vụ này ông đảm nhiệm từ năm 1967 đến năm 1972 thì chuyển làm đại sứ lưu động cho đến năm 1975.

Sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ, sống tại Rockville, Maryland.
Tại Hoa Kỳ, ông là học giả tại Trung Tâm Học Giả Quốc Tế Woodrow Wilson và tại Viện Doanh Nghiệp Hoa Kỳ, đồng thời là giảng viên tại Đại Học George Mason.

Ông xuất bản cuốn hồi ký chính trị “The Jaws of History,” sau đó được dịch ra tiếng Việt tựa đề “Gọng Kìm Lịch Sử”. Cuốn sách thứ hai là “Vietnamese Economy and Its Transformation to an Open Market System” xuất bản năm 2004.

Ông từng trả lời phỏng vấn Stanley Karnow, tác giả “Vietnam: A Television History” và từng được phỏng vấn trong loạt phim “The Vietnam War” (Chiến Tranh Việt Nam) của nhà làm phim Ken Burns năm 2017.

Ông cũng tham gia nhiều hoạt động, là một thành viên trong Ban Cố Vấn của National Congress of Vietnamese Americans (NCVA, Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ).

 Ông tiếp tục hoạt động trong Đảng Đại Việt và từng giữ chức chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương của Ðại Việt Cách Mạng Ðảng.

LÊ VĂN- biên tập viên kỳ cựu của VOA

LÊ VĂN- biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84 
 Trong gần 40 năm làm việc tại VOA, Lê Văn được biết tới như một trong những tiếng nói nổi bật của ban Việt ngữ được thính giả quý mến.
Trong gần 40 năm làm việc tại VOA, Lê Văn được biết tới như một trong những tiếng nói nổi bật của ban Việt ngữ được thính giả quý mến.
Lê Văn, chủ biên kỳ cựu của ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ với giọng nói thân thuộc với hàng triệu thính giả Việt Nam suốt nhiều thập niên, qua đời ngày thứ Bảy, 23 tháng 10, thọ 84 tuổi.

Ông ra đi thanh thản trong giấc ngủ và sau hai năm mắc bệnh ung thư, vợ của ông cho biết. Bà không cho biết thêm chi tiết về bệnh tình của chồng.

Làm việc cho VOA từ năm 1964 đến khi về hưu vào năm 2002, ông được các đồng nghiệp thuộc mọi thế hệ kính trọng về tác phong chuyên nghiệp và vốn hiểu biết sâu rộng, và được thính giả gần xa tin tưởng và quý mến về những thông tin mà ông đem tới cho họ.

Ông được xem là một trong những tượng đài trong lĩnh vực phát thanh tin tức tiếng Việt ở Mỹ. Với kinh nghiệm gần 40 năm trước micro, ông là một trong những tiếng nói tiêu biểu nhất của ban Việt ngữ, mang đến cho thính giả những tin tức mới nhất và đáng tin cậy nhất từ những thời khắc nóng bỏng của Chiến tranh Việt Nam cũng như khơi lên hy vọng cho những người dưới đáy vực tuyệt vọng trong những năm hậu chiến.

Trong những phát biểu cuối cùng của ông trước khi qua đời, ông trò chuyện với VOA về những kỷ niệm đáng nhớ của ông với thính giả khắp nơi, nêu bật sức lan tỏa và tác động to lớn từ những chương trình phát thanh của ông.

“Sau năm 1975, mỗi một lần tôi có dịp lên sân khấu phát biểu về một điều gì đó thì đến khi tôi đi xuống rất nhiều người tới nói với tôi rằng là ông Lê Văn, tôi xin phép cho tôi ôm ông một cái,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9.

“Tôi mới bảo ủa tại sao có người muốn tới đây ôm mình một cái, thì họ mới nói là bởi vì hồi xưa tôi ở Việt Nam tôi nghe ông nói về những chương trình ở bên Mỹ này giúp cho người Việt có cơ hội thoát khỏi chế độ cộng sản và đi ra nước ngoài, thì cái điều đó khiến chúng tôi nức lòng phấn khởi bởi vì đã có lúc nhiều người trong bọn chúng tôi, những người đi tù cải tạo thất vọng muốn tự tử.

“Nhưng mà đến khi tôi nghe ông loan tin về những chương trình của chính phủ Mỹ thương thuyết với Việt Nam để đưa những người trước kia từng cộng tác với Mỹ, từng làm việc cho các cơ quan của Mỹ hay là những người muốn được sang thế giới tự do thì có thể ra đi theo những chương trình mới đó, lúc đó chúng tôi nhớ có những tin tức như vậy mà chúng tôi sống sót, chúng tôi bỏ ý định tự tử đi.

“Đấy là cái tác động tâm lý lớn nhất và nó cũng là một niềm an ủi đối với tôi bởi mình đã đem đến cho đồng bào những tin tức mà họ rất mong muốn, họ rất cần được biết.”

Những người từng làm việc với Lê Văn nói họ mãi biết ơn ông về sự giúp đỡ mà họ từng nhận được từ ông. Ông được mô tả là một ký giả tài năng luôn hết lòng với công việc và tận tâm hướng dẫn những đồng nghiệp ít kinh nghiệm hơn.

Cựu phát thanh viên Lan Phương, nhân viên của VOA Tiếng Việt từ năm 1986 đến năm 2012, nói đến giờ này bà vẫn xem Lê Văn như một người anh cả trong gia đình. Bà nói những chỉ dẫn của ông trong tư cách chủ biên là những bài học quý giá đầu tiên khi bà bắt đầu sự nghiệp của mình.

“Trong vấn đề dịch thuật, khi mình dịch tin bác ấy chỉ dẫn cho mình sửa đổi làm sao cho thoát ý. Trong những bài phóng sự mình viết, bởi vì mình không có thì giờ nhiều cho bài viết để phát thanh, bác ấy luôn luôn hướng dẫn viết làm sao cho nó cô đọng, súc tích, đầy đủ và phải trong một thời lượng cho phép. Bác ấy chỉ dẫn từng chút từng chút một,” bà chia sẻ.

Đó cũng là những nhận xét của nhà báo Nguyễn Văn Khanh, cựu giám đốc ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự do. Ông từng được Lê Văn tuyển mộ và làm việc tại ban Việt ngữ của VOA trong những năm 1990. Đến giờ ông vẫn nhận mình là học trò của ông.

“Anh ấy bắt tôi phải ngồi xuống, đưa cái bài tôi biết và bảo rằng cái chỗ này thêm một dấu phẩy, chỗ kia phải thêm một dấu chấm. Những điều nhỏ nhoi như thế đã khiến tôi học hỏi được rất nhiều từ anh,” nhà báo kỳ cựu này nói.

“Ông ấy rất bình tĩnh khi ông ấy ngồi trước micro. Điểm đó tôi tập mãi mà không được. Điểm thứ nhì là giọng nói của ông ấy rất đặc biệt, một giọng nói rất là dịu dàng. Kể cả những lúc ông phải đưa ra những lời lẽ đầy cương quyết thì ông cũng vẫn rất là dịu dàng, không chỉ với anh em chúng tôi mà với cả khán giả của đài VOA trong suốt bao nhiêu năm trời.”

“Có thể nói ông thầy tôi là ‘tiếng nói’ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.”

Lê Văn tên thật là Lê Lai. Ông sinh ngày 28 tháng 4 năm 1937 ở Nam Định. Ông lấy bằng cử nhân luật và văn chương sau khi di cư vào miền Nam năm 1954. Năm 1961, ông sang Mỹ học cao học lấy bằng thạc sĩ về Khoa học Chính trị tại Đại học Georgetown ở thủ đô Washington. Sau khi về hưu, ông dọn về sinh sống ở thành phố Houston bang Texas cho đến khi qua đời.

Người thân và bạn bè cho biết ông là người có tính tình nồng hậu, ấm áp, biết tận hưởng cuộc sống. Ông đặc biệt am hiểu về rượu vang và đã viết một cuốn sách về nó.

Gia đình dự định tổ chức tang lễ cho ông vào ngày 12 tháng 11 ở Houston và sau đó sẽ hỏa thiêu. Tro cốt của ông sẽ được an táng tại bang Virginia, nơi ông từng sống phần lớn cuộc đời khi ông làm việc tại VOA.

“Chồng tôi có nhắn nói lại với VOA rằng ông ấy rất cảm ơn ân tình của tất cả thính giả mọi nơi,” bà Lê Văn nói trong niềm xúc động nghẹn ngào.

Nguồn VOA.

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

BỘ GÕ UNIKEY

 ..."Phạm Kim Long, người viết bộ gõ Tiếng Việt UniKey nổi tiếng, tặng miễn phí cho Apple vào năm 2006. Được biết, anh Phạm Kim Long đã quyết định làm điều này khi nhận thấy trải nghiệm gõ Tiếng Việt trên các thiết bị của Apple quá dở tệ.

Được biết, Phạm Kim Long là cựu sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, niên khoá 1991 - 1996. Anh tốt nghiệp loại giỏi từ ngôi trường này trước khi tiếp tục trở thành nghiên cứu sinh tại Đại học Kỹ thuật Praha, Cộng hoà Séc từ năm 1997.

Bộ gõ Tiếng Việt UniKey (ban đầu có tên TVNBK) được Phạm Kim Long bắt tay vào thực hiện lần đầu từ năm 1994 khi còn ngồi trên ghế nhà trường và được dành cho hệ điều hành MS-DOS. Mãi đến năm 1998, Phạm Kim Long mới thực hiện phiên bản dành cho Windows với tên gọi LittleVnKey cho mục đích cá nhân và tặng bạn bè. Phiên bản này cũng chưa hỗ trợ Unicode.

Mãi phải tới năm 2000, khi lang thang trên mạng, Phạm Kim Long thấy nhiều người bàn luận đến trải nghiệm gõ Tiếng Việt trên máy tính Windows với tiêu chuẩn Unicode (khi ấy trên thị trường đã có một số bộ gõ Unicode như VietKey), anh mới cho ra đời UniKey và ngày càng hoàn thiện nó.
Đến năm 2019, Unikey đã 25 “tuổi” nhưng vẫn được rất nhiều người yêu thích và là phần mềm không thể thiếu trong máy tính của gần như mọi người Việt"...




Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Người phi công Việt Nam đầu tiên.



“Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 20 Việt Nam đã có phi công được lịch sử hàng không ghi nhận, đó là Đỗ Hữu Vị".

Ông Đỗ Hữu Vị sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông là con út của một người điền chủ lừng lẫy ở Nam Kỳ thời bấy giờ. Gia đình ông được coi là những người giàu thứ hai đất Sài Gòn vào thời điểm cuối thế kỷ 19. Với tài sản kếch sù của gia đình, Đỗ Hữu Vị được hưởng một nền giáo dục hoàn hảo từ nhỏ. Từ Trung Học, ông được cử sang Pháp học tại Paris. Tới năm 1904 ông trúng tuyển vào trường võ bị Saint Cyr và tới năm 1096 thì tốt nghiệp, mang hàm Trung uý.

Ngay sau khi ra trường, Đỗ Hữu Vị gia nhập Quân đội Pháp, tham chiến tại châu Phi. Tuy nhiên phải tới năm 1910 ông mới bắt đầu bước vào sự nghiệp phi công và chỉ sau đó một năm, ông thực hiện chuyến bay đầu tiên vòng quanh nước Pháp - trở thành người Đông Dương đầu tiên hoàn thành chuyến bay kỷ lục này.Vài năm sau đó, ông thậm chí còn bay vượt Địa Trung Hải, trở thành người nổi tiếng ở Pháp cũng như ở các nước thuộc địa thuộc Pháp, khiến nhiều người trên khắp thế giới biết đến đất nước An Nam. 

Năm 1914, Pháp chế tạo máy bay cho lực lượng quân đội và Đỗ Hữu Vị trở thành một trong những người đầu tiên tham gia Không Quân Pháp, ông cũng được coi là người Việt Nam đầu tiên phục vụ trong một lực lượng không quân chính quy.
Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Đỗ Hữu Vị tham gia nhiệm vụ đánh bom ở phía Tây Nam nước Đức và bay trinh sát, tuần tra. Ông nhiều lần thoát khỏi cái chết trong chân tơ kẽ tóc khi bị không quân đối phương bám đuổi nhưng cuối cùng sự nghiệp bay của Đỗ Hữu Vị lại kết thúc vì một... cơn bão.Năm 1915, máy bay của ông rơi trong một cơn bão, Đỗ Hữu Vị may mắn sống sót với tay trái gẫy, hàm mặt và sọ dưới vỡ, hôn mê chín ngày nhưng sau khi phục hồi ông vẫn quyết tâm tiếp tục ra trận. 
Mặc dù vậy, do bị thương quá nặng từ trước đó nên ông không thể trở về bầu trời mà được điều chuyển sang cho lực lượng bộ binh. Năm 1916, ông trở thành chỉ huy Đại đội 7 thuộc Trung đoàn Lê dương thứ nhất, được thăng hàm Đại uý và chiến đấu tại Somme - mặt trận nóng bỏng bậc nhất Chiến tranh Thế giới thứ nhất.
Ngày 9/7/1916, trong một cuộc tấn công của Đức, Đỗ Hữu Vị dẫn đầu cuộc xung phong và bị dính nhiều phát đạn, hy sinh ngay trên trận tuyến. Thi hài của ông được an táng tại Dompierre, Somme. Tới năm 1921, người anh cả Đỗ Hữu Chấn chuyển hài cốt của ông về Việt Nam.

Để vinh danh người lính An Nam chiến đấu và hy sinh trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, người Pháp đã đặt tên Đỗ Hữu Vị cho một con đường tại làng Laffaux - nơi ông bị rơi máy bay vào năm 1915. 
Ở Hà Nội trước năm 1945, từng có một con đường mang tên Đỗ Hữu Vị sau đó bị đổi tên thành phố Cửa Bắc. Đường Huỳnh Thúc Kháng ở Sài Gòn trước kia cũng mang tên Đỗ Hữu 
Ngoài Đỗ Hữu Vị, các tài liệu của Pháp còn ghi nhận một vài phi công có xuất xứ từ Đông Dương khác tham chiến trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trong đó có phần lớn là người Việt Nam với những cái tên như Phan Tat Tao, Cao Đắc Minh, Nguyen Xuan Nha,... Những người này đều được chính phủ Pháp cho in lên tem và phát hành khắp Đông Dương trong quá khứ.

Nguồn : Sài Gòn Vi Vu

(Bài viết đã chia sẻ từ năm ngoái bữa nay fb nhắc lại )

EVA PERON

15 tuổi chìm nổi chốn lầu xanh, 27 tuổi thành đệ nhất phu nhân, cô đã làm gì để cả dân tộc phải ngưỡng mộ?
Từ một cô gái đến bước đường cùng, chìm nổi trong chốn phong trần, về sau trở thành đệ nhất phu nhân Argentina, bà chỉ sống đến 33 tuổi nhưng lại viết nên một trang sử huyền thoại.
Tháng ngày chìm nổi
Bà chính là Eva Perón, còn được biết đến với cái tên Evita, có một xuất thân nghèo khổ. Toàn bộ tuổi thơ của bà bị bao phủ trong màn đêm đen kịt.
Mẹ của Evita là người phụ nữ Argentina truyền thống, sống bằng nghề may vá, lại yêu say đắm một chủ trang trại đã có gia đình, còn sinh cho ông ấy 5 người con. Bà những tưởng người đàn ông từng nói lên những lời thề son sắt này sẽ chăm lo cho mẹ con bà cả đời, không ngờ trong một lần cãi vã, người đàn ông nhẫn tâm này đã bỏ nhà ra đi ngay khi Evita còn trong tã lót, và từ đó không bao giờ quay lại nữa.
Vì để nuôi sống mấy đứa con, mẹ bà đã ngày đêm làm việc cật lực. “Trong hồi ức tuổi thơ của tôi, tiếng máy may hầu như chưa bao giờ dứt quãng”, Evita từng hồi tưởng lại.
Nghèo khổ, túng quẫn trong thời gian dài, 5 chị em Evita bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Evita gầy còm, yếu ớt, bị người ta đặt cho biệt danh là “cô bé còi”.
Không có được tình thương và sự che chở của người cha, bà cùng với anh chị em thường phải chịu sự chế giễu của những bạn bè cùng trang lứa, bị miệt thị là “đồ con hoang”… Dù vậy, mẹ của bà vẫn yêu say đắm người đàn ông đó, thậm chí khi hay tin ông ấy mất, còn dẫn theo các con đến viếng tang.
Không ngờ, khi đến nơi, mấy mẹ con bị người ta đuổi thẳng mặt, ngay đến nhìn mặt người quá cố lần cuối cũng không có tư cách. Ngay lúc đó, Evita đã thề rằng: “Tôi sẽ trở thành một người khiến tất cả phải nhìn bằng con mắt khác”.
Những người có mặt lúc đó, gồm cả mẹ bà đều cho rằng đây chỉ là lời nói bồng bột, ngây thơ nhất thời của một đứa trẻ, một đứa con riêng không có gia thế, làm sao nó có thể trở thành “nhân vật lớn” được đây?
Hiện thực dù sao cũng không giống như trong chuyện cổ tích, dù cho bạn có được dung mạo trời ban thì cũng không có ai bằng lòng giúp bạn vô điều kiện. Trong làng quê hẻo lánh cách biệt này, người duy nhất mà cô có thể dựa dẫm chỉ có bản thân mình mà thôi.
Năm Evita 15 tuổi, ca sĩ Agustín Magaldi đến quê bà biểu diễn. Gặp người đàn ông này, Evita dường như đã thấy được niềm hy vọng của cuộc đời mình. Suốt 15 năm qua, Evita đã chịu đủ mọi miệt thị khinh miệt, cô khao khát mong được nhìn thấy thế giới bên ngoài, càng muốn có được quyền bình đẳng: “Dù phải trả bất cứ giá nào, tôi cũng muốn rời khỏi nơi này”.
Người đàn ông đó cũng đồng ý dẫn cô đến thủ đô, nhưng ra điều kiện rằng Evita phải bằng lòng dâng hiến thân xác của mình.
Evita ngây thơ, hồn nhiên của tuổi 15 đã chấp thuận điều kiện đó để bản thân mình có được chỗ dựa dẫm từ người đàn ông đáng tuổi cha mình, mong sao từ đây có thể thay đổi vận mệnh. Nhưng chính điều này lại bắt đầu cơn ác mộng của cô. Chẳng bao lâu, Magaldi đã không còn hứng thú với cô nữa, ông ấy đã ruồng bỏ Evita để đi tìm kiếm thú vui khác.
Ở nơi đô thị phồn hoa đắt đỏ, không có lấy một người thân thích, bản thân bị lừa, trong lúc tuyệt vọng lại không có bất cứ kỹ năng sinh tồn nào.
Vì để sống sót, Evita đành phải bán nhan sắc và thân thể của mình để kiếm kế mưu sinh. Cô thường xuyên lui tới các nhà hát, quán bar. Những thương nhân, sĩ quan, đạo diễn… chỉ cần bỏ tiền là đều mua được nhan sắc thanh xuân của cô.
Bước ngoặt cuộc đời
Evita cứ như vậy đã chìm đắm trong vòng xoáy phồn hoa. Nếu không gặp được Juan Perón, có thể cô sẽ giống như biết bao kỹ nữ khác: “Một mai xuân tận hồng nhan già, hoa tàn người khuất chẳng ai hay“.
Cuộc gặp gỡ giữa hai người họ hệt như được vận mệnh an bài. Trong một buổi tiệc, Thượng tá Juan Perón đàm luận hùng hồn trong phòng khách, mạnh mẽ lên án môi trường chính trị hiện thời, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo lan rộng, thái độ hờ hững của những người giàu mà bất nhân, phê phán mạnh mẽ thói tham lam vô độ của họ.
Những tân khách có mặt ở hội trường chỉ trả lời một cách khách sáo “vâng, vâng, vâng” để ứng phó. Mọi người đều không chút động lòng, chỉ có Evita ở đằng xa để tâm đến. Chỉ có bà, người đã sa ngã đắm chìm trong phóng túng, đồi trụy một cách không tự biết bỗng nhiên nước mắt chảy ướt cả khuôn mặt.
Bà tin rằng đây mới chính là người đàn ông thực sự của đời mình. Đó là người đó có thể cứu vớt dân nghèo khổ của Argentina. Lau khô nước mắt, đè nén tâm tình kích động, bà từng bước từng bước đi về phía Đại Tá, nở nụ cười chân thành.
Bà nói với Đại Tá Perón rằng: “Cảm ơn sự có mặt của ngài“. Hai người vốn là người của hai thế giới khác nhau, cứ như vậy bởi tâm ý tương đồng mà đến với nhau, bắt đầu tình yêu công khai.
Tin này vừa mới truyền ra, ngay lập tức đã dấy lên một làn sóng lớn trong xã hội thượng lưu ở Argentina. Một kỹ nữ, một người đàn bà phóng đãng không biết liêm sỉ, làm sao có thể bước chân vào xã hội thượng lưu được?
Dưới quan niệm bảo thủ thời bấy giờ, sự kết hợp của hai người họ, chẳng khác chi một đòn nặng của xã hội tầng thấp đánh vào tầng lớp quý tộc. Evita mới đầu cảm thấy e ngại, cô sợ Perón sẽ chê bai mình bởi những lỗi lầm mưu sinh ngày trước.
Những lúc ở một mình cùng Perón, bà thường chủ động kể hết cho ông nghe về toàn bộ những gì mà bà đã trải qua từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành.
Nào ngờ Peron căn bản không chút quan tâm, nghe bà kể xong, ông đưa tay vuốt nhẹ mái tóc của bà, nói rằng: “Em lúc trẻ đã phải chịu nhiều đau khổ như vậy, đó vốn không phải là lỗi của em. Anh sẽ giúp em quên đi mọi đau khổ trước đây“.
Ông đã nắm tay đưa bà đến khắp các buổi tiệc tùng và gặp mặt. Tuy cũng là ăn mặc gọn gàng, hào nhoáng sang trọng, nhưng so với những phụ nữ quý tộc sống trong nhung lụa thì Evita quả là khác xa.
Bà thường tới thăm nơi ở của dân nghèo, tham gia nhiều hoạt động từ thiện, thân thiết bắt tay trò chuyện với người nghèo và lắng nghe những câu chuyện cuộc đời họ.
Bởi đã thật sự trải qua đủ mọi bất hạnh trong đời, bà muốn thay đổi tất cả những điều này. Tất cả mọi người đều bị người phụ nữ dịu dàng này chinh phục. Thân ở địa vị cao sang nhưng cử chỉ của bà lại vô cùng nhã nhặn. Bà thật sự từ đáy lòng mình, quan tâm đến nỗi khổ của người dân nghèo.
Dân chúng Argentina, ai ai cũng biết đến danh tiếng của hai vợ chồng Perón. Nhưng thành công của đôi “nhân tình chính trị” ngọt ngào này lại chọc giận phe phản đối trong nước.
Tình hình trong nước vô cùng rối ren, bạo lực và cải cách không ngừng diễn ra. Perón bị nhà cầm quyền tống vào ngục giam. Evita trong lúc khẩn cấp ấy vẫn không hề hoang mang, bà đã dùng hết vốn liếng đi khắp nơi tranh cử, kêu gọi sự ủng hộ của người dân.
Bà nói: “Bởi tôi cũng đã từng giống như mọi người, vậy nên tôi hiểu được nỗi khổ của mọi người!“.
“Nỗi khổ của mọi người, bản thân tôi đã từng nếm trải qua. Nghèo khó của mọi người, bản thân tôi cũng đã từng trải qua. Perón đã từng cứu vớt tôi, và sẽ cứu vớt mọi người.
Perón sẽ ủng hộ những người nghèo, yêu thương những người nghèo, nếu không phải như vậy, sao ông ấy lại yêu thương tôi như vậy?“.
Lời diễn thuyết của bà đã cảm hóa được vô số người dân nghèo đang trong cảnh thất nghiệp và tràn đầy oán hận. Hơn 300 nghìn người dân xuống đường phố, lớn tiếng hô lên: “Hãy trả lại tự do cho Perón, hãy trả lại tự do cho Perón“. Trong khoảng thời gian 5 ngày, nhà cầm quyền không chịu đựng nổi áp lực to lớn ấy, đành phải thả Perón từ trong tù ra.
Việc làm đầu tiên sau khi Perón ra tù chính là ôm thật chặt người vợ của mình, và lập tức chính thức cầu hôn bà. Lúc đầu ông kinh ngạc và ấn tượng bởi vẻ đẹp và dũng khí của Evita, cuối cùng lại bị tấm lòng chân thành và cứng rắn của bà chinh phục.
Một di sản tinh thần đáng ngưỡng mộ
Thoáng chốc đã sang năm thứ hai, Perón đắc cử trở thành Tổng thống, Evita nghiễm nhiên đã trở thành đệ nhất phu nhân, khi đó bà chỉ mới 27 tuổi.
Từ một đứa con riêng của người đàn bà may vá chịu đủ mọi lời giễu cợt, đến vũ nữ lâm vào bước đường chìm nổi trong chốn phong trần, rồi trở thành đệ nhất phu nhân Argentina, sau 20 năm bà đã thực hiện được lời thề ngày trẻ mà mọi người cho là bồng bột nhảm nhí.
Sau khi kết hôn không bao lâu, Evita tự cảm thấy bản thân phải hoàn thành những trách nhiệm trọng đại của mình, không dám trễ nại phút nào. Bà vừa mưu cầu phúc lợi cho người dân nghèo, trẻ nhỏ cùng người già, vừa bôn ba theo đuổi quyền bình đẳng cho phụ nữ. Bà còn thành lập hội ngân sách “đệ nhất phu nhân” và trung tâm cứu trợ những người nghèo khổ, đã giúp đỡ vô số những người dân nghèo khổ.
Có một lần, chỉ trong thời gian 48 giờ đồng hồ, bà đã liên tục lên bục diễn thuyết 7 lần. Bác sĩ cố gắng khuyên bà hãy chú ý nghỉ ngơi, bà lại tự hào trả lời rằng: “Tôi nguyện hiến dâng sinh mệnh của mình cho những người nghèo khổ“.
Tuy nhiên ông trời đã không có cho bà quá nhiều thời gian, ngày 9/1/1949, Evita đã ngất xỉu ngay trong lúc đang cắt băng khánh thành. Bác sĩ chẩn đoán bà bị ung thư cổ tử cung, cũng tương đương với việc bà đã bị tuyên án tử hình.
Trên giường bệnh, bà vẫn kiên trì làm việc. Dưới sự cố gắng của Evita, tất cả phụ nữ Argentina đều được quyền bỏ phiếu bầu cử. Bà ngày càng mệt mỏi đến cực điểm, chỉ có thể dựa vào cái giá làm từ khung kim loại giữ cho thân thể thăng bằng.
8h 25 phút tối ngày 26/7/1949, bà gọi Perón đến bên cạnh, nói khẽ với ông rằng: “Cả một đời này của em, chỉ những lúc ốm đau mới chảy nước mắt, ‘cô bé còi’ không gắng gượng thêm được nữa, em phải đi rồi!“. Năm đó, bà mới 33 tuổi.
Trong đêm đó, truyền hình Argentina nghẹn ngào tuyên bố với người dân cả nước: “Linh hồn của đất nước chúng ta, người lãnh đạo tinh thần của dân tộc chúng ta đã qua đời rồi“.
Hôm diễn ra tang lễ, hơn 700 nghìn người dân cả nước đã đến thủ đô đưa tiễn bông hồng vĩnh hằng của lòng họ, có người khóc ngất ngay nơi hiện trường, có người ra sức chen lên phía trước chỉ để trao nụ hôn lên quan tài của bà.
33 tuổi, cuộc đời của Evita đã kết thúc, nhưng huyền thoại về bà vẫn sẽ luôn sống mãi. Trước đêm kỷ niệm tròn 60 năm ngày mất của bà, tờ tiền giấy kỷ niệm mệnh giá 100 đồng của Argentina đã được phát hành, chân dung in trên mặt của tờ tiền chính là Evita. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên xuất hiện trên tờ tiền giấy của Argentina.
“Sở dĩ chúng ta lựa chọn phu nhân của Tổng thống Juan Perón, không phải bởi vì bà ấy là bậc thánh nhân, cũng không phải bởi bà ấy chưa từng phạm phải sai lầm, mà bởi bà ấy là một người khiêm nhường và bác ái.
Một người phụ nữ mưu cầu hạnh phúc cho dân chúng tầng thấp, dù cho bà ấy đã từng sa ngã, nhưng bà ấy vẫn là một thiên thần“.
Hoa hồng dù có rực rỡ hơn nữa, cũng sẽ có ngày khô héo, nhưng điều khiến Evita sống mãi trong lòng người Argentina chính là những giá trị nhân văn sâu sắc mà một đời bà theo đuổi. Cho đến nay, “Evita” vẫn là cái tên được đông đảo người dân Argentina ưa chuộng nhất khi đặt tên cho con gái của mình.

(Thi Thiên Nga Duong st)


Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2021

NHẠC SĨ BẢO THU

https://youtu.be/6YIPquf_dBU

Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, ông sinh năm 1944, là một nhà ảo thuật đồng thời cũng là một nhạc sĩ nhạc vàng danh tiếng. Ông đã cho ra đời rất nhiều ca khúc giá trị như “Cho tôi được một lần”, “Nếu xuân này vắng Anh”, “Hoa Không Gian”, “Thương ca mùa hạ” v.v…
Nhạc sĩ mang gốc gác đạo Cao Đài, sinh trưởng trong gia đình trí thức, từ 8 tuổi đã được gia đình cho gửi đi học đàn mandolin. Nhưng sau đó bỏ dở vì việc học và sức khỏe không chó phép. Ông vốn mang hứng thú với ảo thuật từ các gánh Sơn đông mãi võ và nghiên cứu ảo thuật cùng với ông nội – một thầy giáo dạy Pháp văn, đồng thời cũng là nhà báo, nhà văn và thi sĩ.
Ông có thời gian biểu diễn ảo thuật từ 1959, lần diễn đầu tiên là cho đoàn Kim Cương, lấy nghệ danh là Nguyễn Khuyến, vì trẻ tuổi nhưng thành tài nên ông được báo chí đặt biệt danh là “Thần đồng ảo thuật Việt Nam”. Thời gian sau đó, ông nhận show biểu diễn các tiết mục ảo thuật cho ban nhạc của nhạc sĩ Lâm Tuyền cùng với Nguyễn Ánh 9, Duy Khiêm, v.v… đồng thời cũng làm thành viên dự bị tay trống và guitar. Sớm bộc lộ tài năng về âm nhạc, ông được nhạc sĩ Lâm Tuyền tặng cây đàn guitar và dạy nhạc miễn phí.
Ông hành nghề ảo thuật quanh các rạp chiếu phim, phòng trà cho diễn các tiết mục tạp kỹ. Mãi đến năm 1961, ông được Hội ảo thuật gia Pháp quốc cho gia nhập với danh là Ảo thuật gia tập sự tại Paris, năm 1962 được công nhận là Ảo thuật gia chuyên nghiệp. Trong giới ảo thuật, ông được mệnh danh là “Ông hoàng bồ câu” với nhiều tiết mục ảo thuật với chim bồ câu.
Ông bén duyên với âm nhạc từ năm 20 tuổi lúc thường hay đến đánh trống hoặc guitar dự bị khi đài phát thanh thiếu người do nhạc sĩ Nguyễn Đức, Tùng Lâm giới thiệu. Vào những Chúa nhật thường đến trợ giảng cùng các nhạc sĩ ban Việt Nhi dạy cho các em thiếu nhi ca hát. Ông sáng tác và giới thiệu tác phẩm đầu tiên là bài “Ước vọng tương phùng” vẫn để tên là Nguyễn Trung Khuyến, bản nhạc “Ước vọng tương phùng” được tình cờ viết khi mượn ý thơ của cô gái học trò nhạc sĩ Nguyễn Đức, sau ông gửi tác phẩm lên Đài phát thanh truyền hình quân đội, về sau này lại nhận được giải khuyến khích.
Nhạc sĩ Bảo Thu hiện nay.
Sau khi được mẹ của ca sĩ Xuân Thu gợi ý, ông bắt đầu nghĩ đến chuyện đặt nghệ danh; nghệ danh Bảo Thu được lấy từ các cô bạn gái tên Bích Bảo và Thanh Thu ở Đà Lạt và ca sĩ Xuân Thu (ban nhạc Blue Star) ghép lại và sau đó ông bắt đầu in bản demo bài hát “Ước vọng tương phùng” dưới tên Bảo Thu. Nối tiếp theo con đường âm nhạc, ông viết thêm bài hát “Đừng hỏi vì sao tôi buồn” mang âm hưởng Boston – mà theo ông là khá khó hát trong thời gian đó cho nên cũng không thành công lắm, ông có hợp soạn với Mạc Thế Nhân một vài bài nhạc lính: “Một lời cho em” và “Tôi thương tiếng hát học trò”.
Một năm sau khi nhận được giải thưởng từ Đài phát thanh Sài Gòn với bài “Ước vọng tương phùng”, ông cho ra đời nhạc phẩm “Giọng ca dĩ vãng” từ một mối tình buồn của mình với một cô học trò học đàn kém ông 6 tuổi. Ông gửi bài hát cho nhiều ca sĩ đi hát ở nhiều nơi, nhận được nhiều ý kiến bàn luận tích cực, nên vào năm 1967, ông đã tự xuất bản 5 ngàn bản dưới bản vẽ bìa của họa sĩ Sỹ Tâm cùng giọng ca ca sĩ Giao Linh và hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ông đem chào bán các nhà xuất bản Minh Phát, Duyên Hồng, Tinh Hoa, v.v… sau lại in thêm 10 ngàn bản bản dưới bìa là ca sĩ Kim Loan bán cho nhà xuất bản Duyên Hồng, 10 ngàn bản cho nhà xuất bản Tinh Hoa và sau đó nhạc sĩ được kí độc quyền với nxb Duyên Hồng 50 ngàn bản. Riêng với bài hát “Giọng ca dĩ vãng” tính từ ngày phát hành từ năm 1966 đến 1975, ông bán được gận 1 triệu bản. Nhạc phẩm sau đó được trình bày bởi nhiều ca sĩ thành danh như Thanh Tuyền, Thái Thanh, … Ông được mời phụ trách chương trình “Tiếng K thời đại”, sau đổi tên thành “Tiếng hát 20” rồi “Chương trình Bảo Thu”.
Bài hát “Cho tôi được một lần” được sáng tác vào khoảng năm 1967 trong tâm trạng mong muốn có một mối tình, một đám cưới mông mợ, ngoài ra còn thêm mơ ước được hòa bình, được “nghe tiếng sú.ng im hơi”. Bài hát được rất nhiều người đón nhận, được hang dĩa Việt Nam kí độc quyền tên Bảo Thu. Bài “Cho tôi được một lần” lúc đấy được hòa âm bởi dàn nhạc Văn Phụng và tiếng hát của ca sĩ Lệ Thu.

Sau đó ông có hợp soạn bài “Tôi thương tiếng hát học trò”, dưới tên Trần Anh Mai cho hãng đĩa Tri Âm, do nhạc sĩ Mạc Thế Nhân biên tập. Sau đó là bài “Lính và tình yêu” “Xuân trong rừng thẳm”.
[Bút danh Trần Anh Mai là tên viết tắt từ chữ T.A.M nghĩa là Tâm – những người có duyên với mình – theo như ông nói. Sau đó ông dùng bai hát “Cho tôi được một lần” làm sính lễ cầu hôn ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm là một ca sĩ từng được ông đào tạo, nổi tiếng một thời với nghệ danh Song Thanh (với ca sĩ Thanh Mai).]

Bài hát “Nếu xuân này vắng Anh” được viết tầm đầu Xuân 1968, theo như ông nói là viết cho một người tên Anh, và nhạc của ông được lồng rất nhiều tên nhiều bông hoa để tìm cảm hứng sáng tác trong tâm hồn mình. Bài hát được viết gấp rút khi ông vừa dạy ảo thuật cho học trò, vừa soạn nhạc cho hãng dĩa Việt Nam trong một buổi sáng vì trước đó khi đi uống cùng bạn bè, ông trót nói với người của hãng rằng ông đã soạn xong bài hát cho Cuốn dĩa Xuân (bao gồm 2 bài của nhạc sĩ Phạm Duy và 2 bài của nhã sĩ Bảo Thu; “Mai vẫn còn xuân”). Vì không trau chuốt phần sáng tác, nên bản nhạc được hãng dĩa Việt Nam phát hành dưới giọng ca của Xướng ngôn viên đài phát thanh quân đội, sau là ca sĩ Trúc Ly, vẫn dưới hòa âm của ban nhạc Văn Phụng. Ông chia sẻ lúc đấy ca sĩ Trúc Ly cảm nhạc vẫn chậm, vẫn xấp nhạc, tuy là thuộc lời, nên ông đã nghĩ ra cách đeo headphone nghe nhạc ra dấu cho cô hát vào những lần vào nhịp. Bài hát “Nếu xuân này vắng Anh” dưới giọng ca mộc mạc của ca sĩ Trúc Ly lại thành công và dẫn đầu bản in Xuân năm đó. Sau này, ông viết bài “Mong đợi” cũng để ca sĩ Trúc Ly trình bày nhưng không để lại nhiều dư âm.

“Thu qua đông tàn, nàng Xuân mới sang
Muôn sắc huy hoàng.
Xuân này nếu vắng Anh
Lạc bày chim Yến bay
Mùa xuân như đông buồn … “

Hiện nay ông có mở một phòng trà hát với nhau ở địa chỉ B5, hẻm 373 Nguyễn Trãi, Quân 1

Thiên Giang biên tập.