Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Khánh Ly


Fb Jimmy Nguyen Nguyen 

Cô về VN hát. Cũng như bao nghệ sĩ khác. Dĩ nhiên cũng nhận bao nhiêu lời khen chê. Khen ít mà chê nhiều. Không chỉ với những người chính trị đối kháng với cộng sản mà ngay cả với những người cs. Họ mỉa mai " về kiếm tiền "!

Cái cảm giác của phe ta ( tỵ nạn ) thì đau đớn. Sao mà mình luôn luôn bị phản bội. 

Thật sự nghệ sĩ trong đó  có các ca nhạc sĩ , đơn thuần chỉ là mang niềm vui đến cho khán giả. Sau đó là phổ biến một nét văn hoá. Cuối cùng mới là một thần tượng, trong đó có chút chính trị.

Tui nhớ Hùng Cường những năm 63,64. Khi hát anh luôn mặc quân phục người lính nhảy dù với chiếc mũ đỏ nhét vào cầu vai. Hát bài  em ơi 100% , không ai hay hơn được. Anh không thể hát bài ấy mà mặc... veston. Trường Vũ hay Đan Nguyên...v...v.... cũng vậy thôi. Chỉ là cách thể hiện bản nhạc, không phải là thể hiện suy nghĩ chính trị như phe ta thần tượng. Do đó mới có cảm giác bị phản bội. Ở Úc, nghệ sĩ nào đã về VN trình diễn thì sẽ không được mời hát ở bên này. Và các ca sĩ từ VN sang trình diễn, thường hay bị phản đối. Không bàn chuyện đúng sai ở đây. Tui chỉ nghĩ sao thời này làm nghệ sĩ khó đến vậy.

Năm 2006, tui về VN chỉ để nghe Duy Quang hát. Những bài Em hiền như...., hay Hai năm tình lận đận..... Nghe băng nhão luôn rồi. Cả đời mới có thể được nghe anh hát live. Ở Úc thì chờ biết bao giờ ảnh mới ghé?  Về VN là có thể. Và như vậy anh hát ở VN, chớ thực sự hát cho mọi người nghe ở khắp nơi. Từ Nhật, từ Đài Loan hay từ một nước bên Đông Âu. Có tiền đó, nhưng để thấy và nghe thần tượng của mình hát một lần trong đời. Họ phải về VN. Năm đó, vé có chỗ ngồi là 50 đô ( một triệu ). Có bạn nói giọng bắc rặc. Than rằng mua vé khứ hồi Hà Nội, Saigon. Chiều đi từ Hà Nội, nghe hát xong,sáng ra sân bay TSN về sớm cho kịp giờ đi làm. Tiền nhằm nhò gì ở đây. Xin đừng coi thường người Việt. Lần đó tui tỉnh ngộ nhiều điều. Đâu đó vẫn còn có người thèm khát văn hoá. Để hưởng thụ hoặc để phê bình hoặc để biết xem nhạc " nguỵ " nó ra sao. Tất cả điều ấy đều làm con người ta xích lại gần nhau hơn. Tạm thời quên đi những khó khăn trong cuộc sống hay những mâu thuẫn đối nghịch cuộc đời. Anh chị không rung cảm, không yêu thương ai được thì.... lỗ. Lỗ chắc luôn. Dù yêu là khổ. Những văn nghệ sĩ trẻ lâu là vậy. Họ luôn có tình yêu. Anh bắc kỳ mua vé hát kèm vé máy bay để nghe " cô Bắc Kỳ nho nhỏ" . Cái bài hát mà cả một nửa nước VN chưa từng được thấy cái đẹp xa xưa ấy. Bắc kỳ mà tóc demi garcon.... Tui nghĩ ảnh sẽ trẻ mãi....

Những năm ấy. Chế Linh và Hương Lan đang hát ngoài bắc. Mỗi lần diễn là cả tháng ,vẫn không hết người xem. Khán giả lặn lội từ Thanh Hoá hay tận Thái Nguyên. Sau đêm diễn thì vạ vật ở đường phố để mai về tiếp tục cày cuốc. Có thể những người giàu có , có điều kiện thì thích nhạc cổ điển mà lúc ấy Đặng Thái Sơn đang trình diễn gần đó. Tuy nhiên những nông dân chân lấm tay bùn, họ chỉ rung cảm được khi nghe " chuyện tình Lan và Điệp ". Làm sao cấm người ta rung động với những gì gần gũi.

Nửa thế kỷ trôi qua. Những bản nhạc bị cấm ở VN , đến nay dường như... cấm không nổi. Nó được hát khắp nơi. Cũng bị sửa lời đôi chút. Tuy vậy vẫn không mất sự hấp dẫn. Người ta vẫn thích nghe original ca sĩ một lần. Chớ nghe cover thì đầy rẫy. Khánh Ly nói nhiều người hát nhạc TCS còn hay hơn cổ. Nhưng để được nghe và thấy cô hát chỉ một bài trong hàng trăm bài của cố nhạc sĩ, cũng là hạnh phúc rất lớn cho nhiều người. Còn rất nhiều người cùng thế hệ. Đã từng là sv VK hay đã từng ngửi lựu đạn cay từ cảnh sát dã chiến đóng quân ngay bên tường rào trường đại học. Giờ họ đã mất hoặc còn sống. Cũng phải cho họ một lần nghe " giọng hát KL" dù biết rằng "Saigon ơi, ta đã mất người trong cuộc đời...."

(Xin đừng comments chính trị ở đây dù tui " dư " trả lời . Lâu lâu cho thật lòng chút. Cám ơn)

Jimmy Nguyen 
( trích trong Salut Saigon) 

Nguồn ảnh Dautu online

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

SỬ KÝ HAY SỬ NGHỊ

Fb Giang Kiến Phương

Sử phải được ký, tức những sự kiện đã qua được ghi chép lại như nó đã là chứ không phải được soạn thảo trên bàn thương nghị như một giáo sư nào đó của Hà Nội đề nghị thương thuyết với phía China để thống nhất Sử Việt. Cùng là Sử, nhưng Sử ký khác hơn Sử nghị!

Tương tự vậy, nghệ thuật không thể được sản xuất theo đơn đặt hàng mà phải được sáng tác bằng tâm tư tình cảm, bằng cả tấm lòng của người nghệ sĩ. Khi đó, nghệ sĩ và tác phẩm hòa quyện vào nhau thành một, không còn phân biệt đâu là nghệ sĩ, đâu là tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong tác phẩm nghệ thuật luôn đâu đó phảng phất con tim và khối óc của người nghệ sĩ làm ra tác phẩm.
Còn lại, cái được sản xuất theo đơn đặt hàng tuy có thể mang màu sắc, dáng dấp giống như nghệ thuật. dễ khiến ta nhầm lẫn đó là nghệ thuật. Nhưng không chắc, thực chất có khi đó chỉ là những sản phẩm công nghiệp vô hồn, được sinh ra để phục vụ cho những nhu cầu nào đó rồi chết đi theo đúng quy trình, như người ta quăng cái ly giấy vào thùng rác sau khi uống nước vậy!

Ngoài "Dư âm" ra, nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Tý còn tác phẩm nghệ thuật nào để người đời trân trọng ghi sâu vào ký ức? Hay chỉ còn là những sản phẩm công nghiệp được sản xuất theo đơn đặt hàng, những quả trứng được gà đẻ ra sau khi gà được cho ăn lúa? Liệu những "Bài ca năm tấn", "Em đi làm tín dụng", "Dáng đứng Bến Tre"...có là những tác phẩm nghệ thuật?

Xin chú ý, cái giống nghệ thuật không chắc đã là nghệ thuật.

Cho nên, thôi, hãy để ông yên nghỉ và đừng tốn thời gian suy nghĩ tại sao ngoài "Dư âm" ra, người đời không còn nhớ đến "tác phẩm" nào nữa của ông. Bởi cùng là phẩm, nhưng tác phẩm khác hơn sản phẩm.

R.I.P ông, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý!

Giang Kiến Phương



Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Ngậm ngùi nỗi nhớ bạn tri âm!

Thành Được – Út Bạch Lan Ngậm ngùi nỗi nhớ bạn tri âm!

Đôi uyên ương sân khấu Út Bạch Lan & Thành Được...
Hai nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan là đôi diễn viên lý tưởng của sân khấu cải lương miền Nam. Cả hai đều có đủ yếu tố thinh và sắc, ca ngâm diễn xuất vừa hay vừa ăn ý với nhau, lại có sắc đẹp để thể hiện tính cách và sắc diện của nhân vật trong các tuồng Tàu, tuồng Nhựt, tuồng dã sử Việt Nam, tuồng xã hội xưa hay xã hội hiện đại.

Sự kết hợp của hai nghệ sĩ tài danh Thành Được – Út Bạch Lan trên con đường nghệ thuật sân khấu là một giai thoại đẹp mà các nghệ sĩ cải lương các thế hệ sau thường nhắc. Có người gọi đó là do duyên số, người khác cho là do sự an bài của Tổ nghiệp.
Sự nghiệp cầm ca của Út Bạch Lan tăng tiến mau một cách phi thường.

Năm 12 tuổi (1947) Út Bạch Lan và Văn Vĩ còn đi ca dạo ở xóm chợ bến đò, ở bồn binh Saigon để nhận được tiền thưởng của các khách qua đường hoặc các bạn hàng chợ.
Năm 15 tuổi (1950) Út Bạch Lan đã nổi danh ca sĩ của Ban cổ nhạc Thành Công – Đài phát thanh Pháp Á.
Năm 17 tuổi Út Bạch Lan là đào phụ của các gánh hát Tiếng Chuông, Tô Huệ và thật sự trở thành đào ca của đoàn Thanh Minh – Bầu Nghĩa trong hai năm 1955, 1956, qua các tuồng: Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Nhớ Rừng, Đồ Bàn Di Hận, Núi Liễu Sông Bằng, Hồi Trống Văn Lâu, Áo Gấm Khôi Nguyên… của các soạn giả Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh. Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan hát cặp với các danh ca cổ nhạc Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Quang Phục, Minh Tấn, Hoàng Giang, Việt Hùng….
Năm 1958, bà bầu Kim Chưởng mời Út Bạch Lan về hát ở đoàn Kim Chưởng với tiền contrat là một triệu đồng, sau hai năm cộng tác, số tiền contrat đó được tặng dứt cho Út Bạch Lan. Nếu chưa hát đủ hai năm, nửa chừng Út Bạch Lan bỏ đi hát gánh khác thì phải bồi thường cho bầu gánh số tiền gấp đôi.

Út Bạch Lan yêu cầu bà Kim Chưởng mời nghệ sĩ Thành Được về đoàn Kim Chưởng hát cặp với cô thì cô mới ký contrat. Lúc đó Thành Được là kép trẻ của đoàn hát Thanh Cần của tỉnh Sóc Trăng. Thành Được về hát cho đoàn Thúy Nga – Phước Trọng và vừa mới nổi danh trong vai Tô Điền Sơn tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở. Khán giả Saigon và Lục tỉnh chưa biết nhiều về kép Thành Được.
Bà Kim Chưởng phải đích thân đến xem một suất hát của đoàn Thúy Nga – Phước Trọng để đánh giá sự diễn xuất và sức thu hút khán giả của Thành Được. Bà xem xong, liền bí mật mời Thành Được đến nhà gặp bà và Út Bạch Lan bàn thảo việc hợp tác với nhau trên sân khấu Kim Chưởng. Thành Được và Út Bạch Lan cùng ký hợp đồng với bà Kim Chưởng và chỉ trong hai tuần sau đó, Thành Được và Út Bạch Lan hát cặp đôi trên sân khấu Kim Chưởng qua tuồng Thuyền Ra Cửa Biển. Báo chí kịch trường nhất loạt viết nhiều bài tường thuật tuồng, phê bình diễn xuất và đề cao hai nghệ sĩ trẻ tài danh Thành Được – Út Bạch Lan như hiện tượng đặc biệt trong ngành sân khấu cải lương trong cuối thập niên 50 của thế kỷ trước.
Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan tiếp tục được các ký giả kịch trường và khán giả lục tỉnh tán thưởng qua các tuồng: Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nửa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa…

Tuy nổi danh nhưng hai nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan chưa được khán giả ghi nhớ qua một vở tuồng đặc biệt nào như các nghệ sĩ tài danh thế hệ trước. Ví dụ hai nghệ sĩ Bảy Nhiêu và Năm Phỉ được nhắc nhở, gắn liền với hai vai Tống Nhân Tôn và Bàng Quí Phi tuồng Xử Án Bàng Quí Phi; nghệ sĩ Năm Châu và nữ nghệ sĩ Phùng Há qua vai An Lộc Sơn và Dương Quí Phi qua tuồng An Lộc Sơn; nghệ sĩ Tám Danh được khán giả nhắc đến gắn liền với vai anh ghiền trong tuồng Tứ Đổ Tường; nghệ sĩ quái kiệt Ba Vân được nhớ với vai Phê tuồng Khi Người Điên Biết Yêu; nữ nghệ sĩ Tư Sạng gắng liền với sự thành công qua các dĩa hát Mẹ Dạy Con, Đêm Khuya Trông Chồng, Hồn Bướm Mơ Tiên…

Mãi đến khi cặp nghệ sĩ Thành Được – Út Bạch Lan về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga năm 1961 thì họ mới thật sự được gắn liền tên tuổi của mình qua hai vai Tùng và The trong tuồng Nửa Đời Hương Phấn. Mấy chục năm sau, nhiều thế hệ trẻ diễn hai vai Tùng và The mà chưa có cặp nghệ sĩ trẻ nào diễn hai vai đó hay bằng Thành Được với Út Bạch Lan.

Tóm tắt vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng:

Tùng (Thành Được) và anh là Hai Cang (Hữu Phước) mồ côi cha mẹ, được ông bác đem về nuôi dưỡng. Khi trưởng thành, Tùng được ông bác giao cho việc trông coi cửa tiệm mua bán đồ điện ở Saigon. Tùng gặp và yêu say đắm một kỹ nữ tên là Hương (Út Bạch Lan). Nhưng ông bác và anh Hai Cang phản đối vì chuyện tình đó làm điếm nhục gia phong, nhưng Tùng vẫn quyết định sẽ thành hôn với Hương.
Khi Tùng đến nhà Hương báo quyết định thành hôn cùng Hương thì bất ngờ Tùng gặp Định (Việt Hùng) tên lưu manh đã lừa tình và đưa Hương vào con đường bán phấn buôn hương. Định hăm dọa sẽ nói cho cha mẹ của Hương biết sự thực về cuộc đời “son phấn” của nàng với ý định chiếm giữ Hương và ngăn không cho Hương lấy Tùng.
Trước đó, Hai Cang đã gặp Hương, năn nỉ xin Hương xa lánh Tùng để Tùng được trọn hiếu với cha nuôi, nay Tùng lại gặp Định trong nhà Hương nên Hương nói dối với Tùng là Hương đã nhận lời kết hôn với người khác rồi. Hương muốn tìm sự yên tĩnh tâm hồn, cô trở về nhà cha mẹ ruột (Minh Điễn và Hoàng Vân) và sống ở dưới quê với cái tên The của cha mẹ đặt cho. Không ngờ The (Hương) gặp bà chủ nợ Hai Lung (Cô ba Thanh Loan), bà nói cho cha của The biết The từng là gái buôn hương bán phấn ở Saigon dưới cái tên Hương. Cha của The cảm thấy như bị sỉ nhục nên đuổi The ra khỏi nhà.
The (Hương) trở về Saigon, đến thăm em gái ruột là Diệu (Ngọc Nuôi), không ngờ người con gái được Tùng cưới hỏi lại là Diệu, em của The (Hương). Lúc này Tùng cũng biết được là anh ruột của Tùng là Hai Cang đã yêu cầu Hương xa lánh Tùng và việc Hương bị Định làm hại cuộc đời cũng chỉ vì Hương là gái quê, không hiểu lòng hiểm độc và gian trá của tên Định lưu manh.
Đau đớn tột cùng, Hương cắt tóc quy y, mượn cửa thiền để chôn vĩnh viễn quãng đời cay đắng. Tùng đến chùa xin Hương tha thứ, mẹ và em của Hương cũng van xin nàng trở về cuộc sống với cha mẹ ở quê hương. Nhưng Nửa Đời Hương Phấn, đối với Hương đã là dĩ vãng, nàng ngậm ngùi chôn thân trong cửa thiền mãi mãi.

Nghệ sĩ Út Bạch Lan trong vai Hương, cô gái giang hồ trong Nửa Đời Hương Phấn, là một cô gái đẹp sang trọng mà không hề có nét lẳng lơ của phường bán phấn buôn hương nhưng số phận quá bất hạnh khiến cho khán giả càng thêm thương xót cho Hương khi mà nàng muốn hoàn lương nhưng lại bị tên lưu manh Định xuật hiện bất ngờ, đã đẩy Hương vào ngõ cụt và Tùng lầm tưởng sự thay lòng đổi dạ của Hương, chàng bèn phó mặc việc hôn nhơn của mình cho Hai Cang định đoạt.
Hương bàng hoàng đau khổ, chỉ còn con đường trở về quê nghèo là khả dĩ xoa dịu nỗi đau. Qui cố hương, bất ngờ gặp lại bà chủ nợ Lung, bà khai quật dĩ vãng gái buôn hương của Hương cho cha mẹ nàng biết. Và một lần nữa, Hương vấp phải sự lạnh giá nhục nhã vì tội điếm nhục gia phong.

Cha của Hương (Minh Điển) giận dữ khi The (tên ở quê của Hương) vừa chào cha:
Cha Hương: Không có cha con gì hết! Người nói chuyện với tao, tuy là xác con…
(Ca Kim Tiền Huế) …The, nhưng là hồn của con Hương. Trước kia mày là đứa con gái đàng hoàng. Nay mày lại đi làm bại hoại gia phong, lễ giáo nhà tao. Tao cũng tin mày đi làm ăn chân thật. Chớ tao đâu có dè. Mày đem tiết trinh đi bán cho người ta để nuôi mẹ cha. Trời ơi! Cái đồ quân mất dạy, đừng léo hánh về đây, để làm nhục tổ tông.

Hương ca: Con cúi đầu trăm lạy Ba…
Cha Hương: Thôi, thôi, mầy đừng có lạy lục mà làm chi… Cho tao thêm tổn thọ…
Hương ca: Xin Ba nhìn nhận con là con The. Cho con ở lại, sớm hôm hầu cha mẹ…
Muốn trở lại cuộc sống thuần lương chất phác, ước muốn trở thành con The như ngày ở dưới quê không được nhìn nhận, Hương phải đi tiếp cuộc đời cay đắng của mình hay phải chọn một giải pháp nào khác? Tùng lập gia đình với người khác sau áp lực của anh Hai Cang và lầm tin lời nói của Định.
Hương đến thăm Diệu, em gái ruột của nàng, không ngờ người vợ mới cưới của Tùng lại là Diệu. Còn đau đớn nào hơn khi ta nghe từ nỗi lòng tan nát ấy phải bật ra câu chúc mừng!
Hương nói với Diệu: Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với…
(ca Phụng Hoàng) …em. Để mừng ngày em xuất giá, cho vui long Ba với Má. Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
Còn dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng hoàng. Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong…

Bài ca Phụng Hoàng này nói lên nỗi lòng của Hương (Út Bạch Lan) như định mệnh dành sẵn cho cuộc tình của Út Bạch Lan – Thành Được. Nhờ làm sống những nhân vật Tùng (Thành Được) và Hương (Út Bạch Lan) trong tuồng mà tên tuổi của Thành Được – Út Bạch Lan và cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng nổi lên như một hiện tượng đặc biệt của sân khấu cải lương trong đầu thập niên 60 của thế kỷ trước nhưng hoàn cảnh trái ngang tan vỡ của Hương và Tùng cũng vận vào chính cuộc tình và cuộc đời của Út Bạch Lan và Thành Được.

Khi biết Thành Được “qua đường” với một cô gái đẹp khác, Út Bạch Lan quá ghen, cô đã liệng một cái gạt tàn thuốc bằng thủy tinh vô đầu Thành Được, làm bể đầu chảy máu, cắt đứt cuộc tình của đôi nghệ sĩ “xứng đào xứng kép” nhất của thập niên 60, mỗi người đi tiếp cuộc đời nghệ thuật của mình với một nghệ sĩ khác nhưng Thành Được và Út Bạch Lan đều không tạo được những thành tích tuyệt vời như trong giai đoạn còn chung hát tuồng Nửa Đời Hương Phấn.

Mấy mươi năm sau khi hai bạn tình Thành Được – Út Bạch Lan gặp lại nhau trên sân khấu hải ngoại, Thành Được, Út Bạch Lan và Ngọc Nuôi (trong vai Diệu), để nhớ lại thuở vàng son trên sân khấu, cả ba nghệ sĩ tài danh này vẫn hát lại trích đoạn tuồng Nửa Đời Hương Phấn qua lớp ca Phụng Hoàng kể trên.

Nghệ sĩ Thành Được về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga sau cuộc tình tan vỡ với Út Bạch Lan, anh tìm được bạn diễn mới, tuy ca không hay bằng Út Bạch Lan nhưng bạn diễn mới đẹp hơn Út Bạch Lan và là một nghệ sĩ đang sáng chói trên sân khấu, được hàng chục vạn khán giả và tất cả ký giả kịch trường yêu thích: đó là nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Ngôi sao Thành Được tiếp tục sáng chói trên bầu trời nghệ thuật với liên danh mới Thanh Nga – Thành Được.

Về phần Út Bạch Lan, như đã được báo hiệu trước trong tuồng Nửa Đời Hương Phấn, Hương (Út Bạch Lan) sau khi cuộc tình tan vỡ, đã diễn với nhiều kép hát khác, danh ca có, có cả những diễn viên đẹp mới nổi trên vòm trời nghệ thuật, nhưng Út Bạch Lan không tìm được bạn đồng diễn tương xứng, nàng khép kín tấn bi kịch đời mình bằng cách xuống tóc đi tu, nàng gởi lại mái tóc cho mẹ già:

“…Má ơi, mái tóc dài đậm đượt, con đã từng ve vuốt ấp yêu. Nơi phồn hoa, trong một buổi chiều, người ta đã cắt đi của con phân nửa. Rồi trong một đêm vừa đau vừa tủi, con lại cắt đi mái tóc sau cùng. Con đau lòng ngất lịm. Khi tỉnh dậy, sờ lên đầu thì tóc đâu không còn thấy nữa, con hoảng hốt la lên. Trời ơi, ai đã cắt tóc của tôi! Má ơi, chừng nhớ ra chính tay con đã cắt tóc của con rồi….
(Vọng cổ)
… Mớ tóc mà hơn hai mươi năm trời, ngày đêm con xăm soi ngắm nghía, tha thiết tưng tiu. Nay nhìn mái tóc kia rời khỏi mái đầu, lòng con đòi đoạn từng cơn. Đoạn lìa mái tóc ngày xuân thì chẳng khác nào con cắt đoạn lìa quãng đời má phấn mày xanh!
… Má ơi! Đây là phân nửa tóc mà con giữ mấy năm trường. Nay con xin gởi lại cho Má với Ba, mái tóc dịu mềm suôn sẻ này là của đứa con lạc loài bạc phận. Còn nửa mái tóc kia là mớ tóc của nửa đời hương phấn, con đã chôn trước cửa Phật đài.
Số phận con đã không may
Kiếp hoa tàn héo, đọa đày truân chuyên
Tóc xanh gởi lại mẹ hiền
Đời con khép kín cửa Thiền từ đây.

Út Bạch Lan ngậm ngùi nhớ bạn tri âm, đã nhiều năm chia cách nhau trên sàn diễn, giờ đây lại xa cách nhau trên vạn dặm, hai người đều tiếc nuối thời vàng son sân khấu khi cùng nhau hóa thân thành những cặp tình nhân tuyệt vời qua lời ca tiếng nhạc. Út Bạch Lan khép kín cuộc đời còn lại của mình trong việc thường xuyên viếng chùa và làm từ thiện dưới mái chùa nơi quê hương Long An để tự suy nghiệm về tình yêu, tình người, nghĩa đời và định mạng đã gắn liền với Út Bạch Lan – Thành Được, giống như Tùng và Hương, cô gái giang hồ qua tuồng Nửa Đời Hương Phấn.
Nếu không có trận ghen mù quáng của Út Bạch Lan, lịch sử sân khấu cải lương chắc chắn sẽ ghi dấu ấn sâu đậm về hình ảnh và tài năng của đôi nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn như Út Bạch Lan và Thành Được.
Nhớ hai em Thành Được và Út Bạch Lan.

Nguyễn Phương, 2015

Nguồn tin: tcgd theo TB

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

THỬ BÀN CHƠI VỀ CHỮ "SẾN".


-Trong âm nhạc truyền thống,3 cây đàn chánh là tranh ,kìm ,cò.,trong đó, cây đàn kìm là số một.
Ban nhạc cung đình,ban nhạc lễ trong các đám cúng,các ban nhạc trong các đoàn hát cải lương ,các dàn nhạc trong đàn ca tài tử......,thì 3 nhạc cụ nói trên là không thể thiếu.

Các cây đàn khác như:đàn sến,đàn tam,đàn độc huyền......là những cây đàn ...không chính quy.
(Về sau,có thêm ghi phím lõm,violon...)

Người chơi đàn kìm,được danh dự ....giữ "song lang",tức là người cầm trịch,người giữ nhịp độ của buổi hòa đờn.

Cây đờn kìm còn có cái tên bằng chữ Nho hết sức thanh lịch là ...nguyệt cầm.
Nhà thơ Xuân Diệu đã viết:

"Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân. "...

Nhạc sĩ Cung Tiến ,trong bài "Nguyệt cầm" cũng tả là:

"lung linh tiếng nguyệt cầm,tiếng đàn trầm...."
Như vậy,bao nhiêu cái hay,cái đẹp,cái thanh lịch....,cây đàn kìm đã dành hết.

Một người anh em, có ngoại hình rất giống cây đàn kìm,mang cái tên nôm na là ....cây.... "đàn sến.".

"Tiếng" của cây đàn sến...vừa thô,vừa quê mùa,vừa cục mịch ,vừa,,chói tai.!

Chỉ có những nhạc sĩ đã thành danh với các nhạc cụ khác,mới dám chơi với cây đàn sến,vì tiếng đờn sến không mùi,không êm tai,không truyền cảm.....!
Cây đàn kìm,ví như một thiếu nữ vừa đẹp,vừa tài hoa,vừa sang trọng....;thì ngược lại,cây đàn sến ví như một cô gái vừa thô kệch,vừa quê mùa cục mịch.....!!!
-
Có phải chăng,từ cái ý nghĩa tầm thường của cây đàn "Sến",mà phát sinh ra chữ"sến" trong "nhạc sến","Marie Sến" ?

bài của fb QUY LA

Bài hay thuyết phục quá anh Quy La .Xin bổ sung thêm về cây đàn Sến mà anh vừa nhắc trong bài.Đàn sến:

- Hộp đàn hình hoa đào sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28 cm.
- Mặt đàn và đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc.
- Thành đàn dày 6 cm, làm bằng gỗ cứng. Cần đàn dài 70 cm, trên mặt đàn có 17 phím bấm. - Phím đàn được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều. Đàn có 3 trục gỗ nhưng chỉ dùng 2 trục để lên dây còn 1 để trang trí
- Đàn có 2 dây bằng tơ se, được lên cách nhau một quãng 4 hoặc quãng 5: Fa - Do1 hoặc Sol - Do1.

Khi diễn tấu nhạc công gẩy đàn bằng miếng gẩy nhựa, dùng riêng cho dàn nhạc cải lương.

vancong



Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Câu chuyện Tự Lực Văn Đoàn, và những điều chưa nói

Phạm Thảo Nguyên
Diễn đàn Thế kỷ

Mục đích bài biên khảo này là tìm hiểu việc xây dựng báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn trong suốt thập niên 1930, đưa đến việc hiện đại hoá nghề báo và thúc đẩy nguyên một cuộc cách mạng văn chương, văn hoá Việt Nam. Đồng thời khám phá sự thực về đời sống của thành viên Tự Lực Văn Đoàn, cái phần lâu nay vẫn bị hiểu lầm.

Cuối thập niên 1920, Nguyễn Tường Tam đi Pháp du học ba năm, đỗ cử nhân giáo khoa Vật Lý, đồng thời tìm học thêm nghề báo, xuất bản, in ấn, và tham khảo văn chương các nước. Đối với ông văn bằng cử nhân chỉ dùng để dạy học kiếm sống khi cần, và là cái cớ để xin chính phủ thuộc địa cho đi du học, phần học thêm mới thật quan trọng. Ông hiểu sâu sắc rằng chỉ có báo chí và văn học mới giúp dân trí chóng tiến hoá, nên trước đó đã bỏ nửa chừng việc học Y khoa và Mỹ thuật. Chẳng khác người anh cả của làng báo Việt Nam Nguyễn Văn Vĩnh, từ đầu thập niên 1920 đã mang hết cuộc đời đi mở mang báo chí và dịch tài liệu từ nhiều thứ tiếng sang tiếng Việt, để giúp dân nâng cao kiến thức, hiểu biết thế giới bên ngoài. Ông Vĩnh từng nói: “Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ ».


Về nước, ông Tam đi dậy trường tư thục Thăng Long của Phạm Hữu Ninh, chờ thời. Sau khi xin ra báo không xong, gặp lúc báo Phong Hóa của ông Ninh sắp đình bản vì ế ẩm, không người đọc, ông Tam xin mua tờ Phong Hoá, nghĩa là mua cái tên báo, cái giấy phép ra báo, rồi thay đổi toàn bộ ban biên tập: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm chủ bút, với hai người bạn: Khái Hưng Trần Khánh Giư, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, cùng hai em: Tứ Ly Nguyễn Tường Long và Việt Sinh Nguyễn Tường Lân.

Ngày 22/09/1932 báo Phong Hóa số 14 của nhóm Nguyễn Tường Tam ra đời, là tờ báo trào phúng đầu tiên của Việt Nam. Mục đích là:

Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết:
Xã hội, chính trị, kinh tế- nói rõ về hiện tình trong nước…

Nhờ tính thời sự và giọng trào lộng châm biếm với tư tưởng phóng khoáng về văn học, nghệ thuật, tờ báo lập tức nổi tiếng.

Đó chính là khởi đầu tinh thần dân chủ mở rộng và bình đẳng trong tư tưởng, văn chương, báo chí của cuộc cách mạng chữ nghĩa Việt Nam thế kỷ 20, mà chúng ta còn được hưởng tới ngày nay.

Nhất Linh hiểu rõ là dân chúng chán ngấy văn chương, báo chí cổ, chỉ đều đều một giọng mô phạm dậy đời, họ chờ đợi một tờ báo có tinh thần mới, phù hợp với nhu cầu muốn biết, muốn hiểu, muốn tiến về đời sống đang thay đổi mạnh mẽ. Cho nên Phong Hoá làm một cuộc lột xác báo chí: báo ngày càng gần gụi đời thường, qua những bài bình luận về thời sự, kinh tế, xã hội, chính trị mới mẻ sắc sảo, và những bài phóng sự diễu cợt rất được chờ đón.

Với lối văn nhẹ nhàng dễ đọc, dẫn đầu bởi Khái Hưng và Nhất Linh, Phong Hoá thay đổi sâu xa chữ nghĩa, câu văn Việt Nam với những tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ mới…. Tất cả được lồng trong hình thức mỹ thuật hay, lạ, dí dỏm, có duyên, với những truyện vui, văn vui, những bức tranh khôi hài. Một loạt nhân vật hoạt kê trào phúng được sáng tạo: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh... Lúc đầu chỉ có Đông Sơn (Nhất Linh) và Tứ Ly vẽ minh hoạ, về sau là do những hoạ sĩ hàng đầu, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương phụ trách.

Với tinh thần rộng mở vui vẻ, tinh nghịch tạo không khí trẻ trung yêu đời, Phong Hoá Ngày Nay dần trở thành món ăn tinh thần mới, không thể thiếu của dân chúng khắp nơi. Số báo phát hành tăng vọt, vượt trên 5000, rồi trên 10 000, những con số chưa từng có trong lịch sử báo chí.

Hai nhân tố làm cho Phong Hoá Ngày Nay nổi bật lên chính là : Sức trẻ tiên phong về văn học nghệ thuật và tinh thần chiến đấu trên mặt trận văn hoá kiêm chính trị. Ta thấy ở đây cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận đầy tinh thần đổi mới vì sự tồn vong và tiến bộ của dân tộc, đầy khí huyết của lớp nhà văn khao khát kéo đất nước đến với trào lưu chung của thế giới. Tóm lại, Phong Hoá Ngày Nay là cái mới, hứa hẹn điều tốt đẹp cho Việt Nam, vì vậy đã lôi cuốn hấp dẫn được trí thức và tầng lớp trung lưu đến thế.

Không lâu sau, Nguyễn Thế Lữ, một cây viết trẻ, đã có ít nhiều thành tựu về thơ văn, về hợp tác với Phong Hoá. Ngay khi thấy nhân sự đã đầy đủ, báo đã vững vàng, Nhất Linh đề nghị thành lập Tự Lực Văn Đoàn, một loại «hạt nhân», để giúp đỡ che chở nhau cùng tiến lên, tự lập, không dựa vào ai khác «Nguyên tắc là làm ăn dựa trên sức mình, theo tinh thần anh em một nhà, tổ chức không quá mười người nên không phải xin phép nhà nước, không cần có văn bản điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ, mục đích , tôn chỉ, anh em tự giác tuân theo». (theo Tú Mỡ (1)), (Lúc đó Pháp trợ cấp cho Nam Phong của Phạm Quỳng 600fr mỗi tháng, Trung Bắc Tân Văn 500fr mỗi tháng, trong khi một lạng vàng giá 30fr).

Tự Lực Văn Đoàn thành lập vào trung tuần tháng 7/1933, gồm toàn bộ nhân viên toà soạn Phong Hoá : Nhất Linh, Khái Hưng, Tứ Ly (Hoàng Đạo), Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ. Trên Phong Hoá số 56 vào ngày 22 tháng 7-1933, nhóm chữ Tự-Lực Văn-Đoàn đã xuất hiện lần đầu tiên trong hai khung quảng cáo sách Hồn Bướm Mơ Tiên, và Vàng và Máu :

Vì « Không cần có văn bản điều lệ : lấy lòng tin nhau làm cốt», cho nên lúc đầu Văn Đoàn không công bố tôn chỉ. Nửa năm sau, mới đưa ra trên báo Phong Hoá số #87 ngày 2/3/1934. Điều này không do ý muốn của văn đoàn mà vì bị bên ngoài hỏi thăm nhiều quá. Đó là:Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi : mục đích để làm giầu thêm văn sản trong nước.

1. Soạn hay dịch những cuốn sách có giá trị xã hội, chủ ý làm cho Người, cho Xã hội ngày một hay hơn lên.
2. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân, và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
3. Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam.
4. Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời. có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
5. Ca tụng những nết hay, vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái.
6. Trọng tự do cá nhân.
7. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
8. Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.
9. Theo một điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những diều khác.

Hiện nay, căn cứ trên Di Cảo « Đời Làm báo » của Nhất Linh, được gia đình ông cho công bố, chúng tôi xác định :
Thành viên Tự Lực Văn Đoàn: Ngoài sáu vị đầu tiên, không ai bàn cãi. Trên Di Cảo chỉ một mình Xuân Diệu có thêm hàng chữ «Có chân trong Tự Lực Văn Đoàn». Vậy, thi sĩ Xuân Diệu là thành viên thứ bẩy.

Những trường hợp dư luận có nghi vấn:

* Đỗ Đức Thu: Nhất Linh đã chính thức gửi thư mời, nhưng ông từ chối, vì không muốn bị ràng buộc vào tôn chỉ của bất cứ văn đoàn nào.
* Họa sĩ Nguyễn Gia Trí cũng như các hoạ sĩ khác, đều không thuộc Văn Đoàn vì không phải là nhà văn, tuy các ông làm việc sát cánh trong toà soạn Phong Hoá Ngày Nay nhiều năm.
* Cuối thập niên 1950 tại Saigon, ba nhà văn Duy Lam, Tường Hùng và Nguyễn thị Vinh, được Nhất Linh lựa chọn dự bị cho nhập văn đoàn, nhưng việc không thành.

Các nhà văn của Tự Lực Văn Đoàn cùng nhau làm việc rất hăng hái suốt gần một thập kỷ, trong tinh thần anh em bình đẳng, không ai làm chủ, mỗi người bắt buộc làm chủ bút trong 6 tháng, khiến Tự Lực trở thành một văn đoàn kiểu mẫu chưa ai so sánh được (chỉ Tú Mỡ và Xuân Diệu không làm việc toà soạn). Nhờ con mắt tinh đời của Nhất Linh, các thành viên được mời đều là những tài năng độc đáo xuất sắc hiếm có. Và nhờ tinh thần dân chủ, đậm chất thân ái kính trọng nhau, đã tạo nên một tình thân bền chặt khiến mỗi thành viên đều hăng hái làm việc hết mình, tài năng ngày càng nẩy nở.

Sự nghiệp văn chương lừng lẫy của họ đã được nhiều nhà phê bình công nhận. Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam được ca tụng là những nhà văn hàng đầu, mở đầu cách viết văn mới, tiểu thuyết mới. Thế Lữ, Xuân Diệu là những thi sĩ sáng chói, tiên phong, xây dựng phong trào thơ mới. Trong khi lối viết trào phúng hoá chính trị, hài hước đen tố cáo thực tế khốn cùng của dân nghèo, cùng những lời thúc dục tuổi trẻ tiến lên theo mới, thay đổi xã hội của Hoàng Đạo, đã làm rung động bao trái tim thanh niên thuở đó.

Báo Phong Hoá và Ngày Nay được dân chúng hoan nghênh, tinh thần yêu tiếng Việt, yêu dân tộc được xây đắp, ẩn tàng lòng yêu giống nòi, yêu đất nước. Để tiến tới mục đích nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần cho dân chúng, và mong mỏi người Việt trí thức nhìn ra tương lai của dân tộc mình, cũng như sửa soạn cho ngày đất nước thoát khỏi ách nô lệ; trong những năm về sau, nhất là từ khi Mặt trận bình dân lên nắm chính quyền ở Pháp, Phong Hoá đưa ra nhiều loạt bài như Công dân giáo dục, Trước vành móng ngựa, Thuộc địa ký ước,… cũng như viết những lá thư gửi những người Pháp có tinh thần rộng rãi, công bình, hiểu những bất công dân thuộc địa phải gámh chịu.

Những ngón đòn kiểm duyệt của Pháp:

Lẽ dĩ nhiên, thực dân muốn điều ngược lại vì quyền lợi của họ, nên luôn luôn rình rập sơ hở để đóng cửa báo. Vì vậy, muốn sống sót để tiếp tục nghĩa vụ của mình, thì phải che dấu hết sức khéo léo. Ngoài những bài viết bị Kiểm Duyệt xoá trắng tràn đầy trên báo, Tự Lực Văn Đoàn đã từng nếm trải những điêu đứng như sau:

1) Phong Hoá bị phạt đình bản 3 tháng, từ ngày 24/5/1935. Hồ sơ Mật vụ ở Aix en Provence, nơi tàng chữ những tài liệu thời thuộc địa của Pháp, cho thấy: Báo Phong Hoá bị phạt 3 tháng vì giễu nhại các quan lại Nam Triều.

Tranh bà kiểm duyệt
(Nguyễn Gia Trí).
2) Sau Phong Hoá số 190 ngày 5/6/1936, báo bị đóng cửa rút giấy phép vĩnh viễn, không lý do. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân cuối cùng đưa đến hình phạt tối hậu này là do bức tranh « Tam anh chiến nhất bố» trong số báo này.

Sau bao năm tháng chơi mèo rình chuột, thực dân Pháp cho rằng Phong Hoá đã dám hé tới điều cấm kỵ: Trong bức tranh này, Lý Toét, biểu hiệu dân tộc Việt, đang bị ba con chó tấn công xâu xé, mà con dân không hiểu, đứng reo hò bên cạnh! Những con chó đó là kẻ thù của dân Việt, là «mẫu quốc» chứ ai! Báo đã ra lọt, độc giả dân chúng thời đó, cũng như hậu thế chúng ta sau này, đã được coi tranh. Nhưng Phong Hoá không thoát khỏi sự trả thù của Tây, đã bị đóng cửa hẳn.

(Bức tranh không có chữ ký, có nghĩa là hoạ sĩ vẽ theo ý kiến của cả toà soạn. Ngoài ẩn ý chính trị chửi Tây, tiêu đề “Tam anh chiến nhất Bố” còn là một ý tưởng đùa giỡn trong văn chương tuyệt hay. Tam anh chiến Lã Bố là tên trận dũng chiến của đại tướng Lã Bố chống lại ba anh hùng Lưu Quan Trương trong sử Tầu thời Tam Quốc. Chỉ cần “nói trẹo” đi một chữ “Lã” thành “Nhất”, thì các anh hùng trong sử Tầu hoá thành Lý Toét đánh nhau với 3 con chó ngay!).


Tam anh chiến nhất Bố

Nhất Linh đoán biết sẽ có ngày Phong Hoá bị giết chết nên đã phòng hờ. Ông nhờ anh ruột là Nguyễn Tường Cẩm, một công chức, xin ra báo Ngày Nay từ 31/1/1935. Ban đầu, báo Ngày Nay rất hiền lành, chuyên về văn hoá, thử nghiệm ảnh mỹ thuật và phóng sự thực tế. Tuy lỗ vốn, báo vẫn được giữ cho sống lai dai tới khi Phong Hoá mất. Lập tức, toàn lực Tự Lực Văn Đoàn và cộng sự viên quay sang làm việc cho Ngày Nay, làm Ngày Nay trở thành một Phong Hoá thứ hai, lừng lẫy, hiện đại hơn nữa.

3) Ngày 7/1/1939 Nguyễn Gia Trí vẽ tranh bìa Lý Toét biếu gà cho quan tây trên bìa báo Ngày Nay số #144, cho hợp với biểu hiệu « con gà sống (trống)» của Pháp, (cocorico), mà hoạ sĩ xuýt bị kiện tù, chủ báo Nhất Linh bị khiển trách. Lý do: Nói cạnh quan tây thích gái (tiếng Pháp: gà mái= “poule”).



4) Ngày Nay bị đình bản một tháng, sau tờ Ngày Nay số #206, ngày 6/4/1940. Lần này do một bức tranh chửi thực dân của Nguyễn Gia Trí đăng trong phụ bản. (Hiện nay, chúng tôi không có tài liệu này).

5) Cuối cùng, sau số 224 ngày 7/ 9/1940, Ngày Nay bị rút giấy phép, đóng cửa vĩnh viễn, không lý do.

Thế mà thời nay có những nhà phê bình viết rằng Tự Lực Văn Đoàn không biết ai là kẻ thù của dân tộc, không biết đả kích Tây, quả thật là quá ngây thơ.

Dưới đây là một tấm ảnh quý hiếm Đồi Lim chụp năm 1938. Có 4 thành viên của Tự Lực, và 2 người bạn. Có chữ chữ ký của Thế Lữ viết đề tặng Xuân Diệu 1938.


Từ phải sang trái: Đứng: Hoàng Đạo +một người ban.
Ngồi: Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu+ một người bạn

Hai người bạn trong ảnh, chúng tôi không biết là ai, nhưng chắc chắn không phải Nhất Linh, hay Thạch Lam, hay Nguyễn Gia Trí.

Về Nhất Linh, thủ lĩnh văn đoàn Tự Lực:

Nhất Linh là một văn hào viết văn đầy hứng thú, đầy tài năng. Gập đúng lúc văn chương Việt Nam manh nha từ đầu thế kỷ 20, đang bắt đầu hiện đại hoá, cái nhìn rộng lớn của ông đã giúp văn học Việt Nam chuyển hoá từ cổ điển tới hiện đại vô cùng nhanh chóng. Không có một tác giả nào có tác phẩm đi qua đủ các thể loại tiểu thuyết rõ ràng bằng Nhất Linh: Từ phong thái cổ kính của những năm 1932 và trước đó, như Nho Phong, Người Quay Tơ, tới tiểu thuyết luận đề xã hội cũ mới với Giấc Mộng Từ Lâm, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, qua Nắng Thu lãng mạn ly kỳ rất được lòng độc giả, chuyển tới tâm lý xã hội với Bướm Trắng, Đời Mưa Gió (viết chung với Khái Hưng), rồi tiểu thuyết không cốt truyện Đôi Bạn, … và sau cùng là hiện đại với Bèo Giạt, Xóm Cầu Mới. Đúng là chính Nhất Linh đã mở đầu, sau đó là cả Văn học Việt Nam tiến tới, xông pha vào những bộ môn mới của văn chương cùng thế giới.
Thêm nữa, giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn đã kích thích hoạt động văn hoá trong nước, tạo thêm người viết, văn sản trong nước và có xu hướng khuyến khích người viết đi vào các bộ môn chưa được biết đến.Thế Lữ từng nói: “Anh Tam dậy tôi nhiều điều. Giấc mơ của anh lớn quá…”

Nhất Linh, người điều hành Phong Hoá Ngày Nay:

Nhất Linh điều khiển báo Phong Hoá, Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay đặc biệt xuất sắc, có phương pháp, có nghề, làm các báo đối thủ không sao chèn chân được. Ông có con mắt tinh đời, nhận xét rất xác đáng tài năng, sở trường của từng tác giả, tìm được nhân tài, cũng như giao phó trách nhiệm rất đúng người, đúng việc. Điều này giúp các cộng sự viên tin tưởng theo đuổi sự nghiệp của mình đến cùng. Nhất Linh thường không ép buộc mọi người phải theo ý kiến của mình, chỉ khuyến khích. Theo nhiều người kể lại mỗi khi ông có một ý tưởng, một dự án nào đó, thường tìm đến người thích hợp nhất, cùng bàn luận suy nghĩ làm chung, khi việc chạy tốt, ông giao hẳn cho người công sự, còn ông đi sang một dự án khác. Như nhiều truyện ngắn, truyện dài lúc đầu có hai tên tác giả, nhưng sau chỉ còn một tên. Tuy nhiên, có khi ngược lại: Hình tượng Lý Toét, lúc đầu do Đông Sơn « đẻ » ra, sau có vô số người vẽ tiếp!

Nhất Linh có rất nhiều ý tưởng mới với những quyết định đặc biệt. Ngoài ý kiến tuyệt vời là mua lại báo Phong Hoá cũ, và ra thêm tờ báo Ngày Nay phòng hờ, ta có thể kể một vài:
1* Thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Đó là việc ông hài lòng nhất trong suốt cuộc đời văn chương của mình.
2* Khuyên Khái Hưng đổi loại viết từ nghị luận sang tiểu thuyết. Kết quả: Cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên là cuốn thử tay của Khái Hưng, cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn đoàn Tự Lực, đã được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt. Còn chúng ta được một văn hào thay đổi cả cách viết văn, viết truyện Việt Nam.
3* Đề nghị Tú Mỡ chỉ nên tập trung viết thơ trào phúng trong Mục Dòng Nước Ngược. Nhờ đó Tú Mỡ phản ứng rất nhạy bén dí dỏm trước mọi diễn biến thời sự. Được nhiều thế hệ yêu thích, Tú Mỡ nổi tiếng một thời, như một Tú Xương đời mới, lại có giọng Hồ Xuân Hương!
4* Sáng tác ra hình tượng Lý Toét, tượng trưng cho quốc hồn quốc tuý Việt nam, một nhân vật hý lộng đi vào văn học sử. Đông Sơn, Nhất Linh vẽ tranh Lý Toét trước hết để vui cười, sau để diễu nhại những thói hư tật xấu, hủ lậu, mê tín, tham lam ích kỷ… của dân ta, để sửa mình. Nhưng quan trọng hơn hết là để phê bình các quan tham, thúc dục họ làm việc đắc lực cho dân cho nước, sửa soạn lòng dân cho việc tranh đấu đòi độc lâp sau này. Hay hơn nữa, Nhất Linh không giữ tác quyền Lý Toét riêng mình, mà rủ tất cả các hoạ sĩ trong và ngoài toà soạn cùng vẽ. Ông tạo ra những cuộc thi vẽ tranh Lý Toét để có thêm hứng thú, thêm ý tưởng, thêm bạn và mở rộng ảnh hưởng của Lý Toét.
5* Thành lập An Nam xuất bản, Cục Xuất Bản ( Société anamite d’Edition) (1933). Đến 1934 đổi tên là Đời Nay. Xin độc giả lưu ý, các Nhà Xuất Bản thường không có nhà in, họ chỉ đưa tác phẩm cho các nhà-in-ngoài như Lê văn Tân, Tân Dân, Thuỵ Ký… in thành sách, rồi mang về bán (bây giờ vẫn vậy). Vì vậy tiền lời chui vào túi các đầu nậu giấy, chủ nhà in, các ông tư bản, gần hết. Anh em Nhất Linh hiểu chuyện đó, nên nhất định để dành vốn đầu tư mua nhà in. Việc mua nhà in còn xa, chúng tôi sẽ nói tới sau.

Thoạt đầu An Nam xuất bản các tác phẩm của các thành viên Tự Lực, theo cách in tại các nhà in ngoài rồi mang về bán (các báo Phong Hoá Ngaỳ Nay cũng vậy). Sau đó xuất bản cả sách của các bạn văn ngoài văn đoàn, như Vũ Trọng Phụng, Hoạ Sĩ Cát Tường, HS Trần Bình Lộc, Vũ Hoàng Chương... Từ đó ra sách và bán sách ngày mỗi nhiều, tới 5 vạn bản một năm, mỗi cuốn sách in khoảng 5 ngàn bản. Nổi tiếng đắt khách chẳng kém gì Phong Hoá Ngày Nay, Đời Nay là nhà xuất bản đầu tiên của nước ta chia lãi cùng tác giả, để các tác giả vẫn được giữ bản quyền, khỏi bị bóc lột như khi bán tác quyền cho con buôn sách.

Trên thị trường lúc đó, khi một tác giả có tác phẩm văn chương muốn xuất bản, phải đưa cho một nhà in hay một hiệu sách, họ thường bị ép bán đứt bản quyền với giá rẻ mạt. Đó là một cách: “chiếm đoạt tư tưởng của người ta, cả một quãng đời niên thiếu của người ta, vì theo hợp đồng hai bên đã ký thì những tác phẩm kia đã nghiễm nhiên trở nên vật sở hữu của ông buôn chữ rồi!” !.Rồi (sách) mãi mãi là của họ, của con cháu họ, nó sẽ là di sản của nhà họ. Thực, hạng buôn người cũng không tàn nhẫn bằng hạng buôn chữ… mà khắp trong nước không có lấy một nhà xuất bản sách- xuất bản sách theo như các nước văn minh, nghĩa là để tác giả được hưởng chung lãi, mà vẫn được giữ bản quyền về cuốn sách đã soạn” (4) (Nhị Linh Khái Hưng, Viết Sách, Xuất Bản Sách).
6* Đưa tiểu thuyết trinh thám lên báo Việt ngữ và tìm ra người sẽ viết thành công những tiểu thuyết đó. Theo chuyện kể trong gia đình Thế Lữ:
Bạn có biết tại sao Thế Lữ viết truyện trinh thám không?

- Đơn giản lắm. Hồi ấy báo bắt đầu giảm số lượng phát hành, chính Nhất Linh nghĩ rằng phải viết truyện trinh thám cho người ta đọc, và Thế Lữ là người có khả năng làm việc đó. Hết chuyện.
Sau đó, không chỉ có báo Phong Hoá đăng tiểu thuyết trinh thám, mà các báo chí Việt cùng nhiều văn sĩ khác cũng theo chân. Theo các nhà phê bình có hai nhà văn viết truyện trinh thám nổi nhất thời đó là Phạm Cao Củng và Thế Lữ. Nhưng Lê Phong phóng viên của Thế Lữ có phần được yêu mến hơn Kỳ Phát.
7* Đưa lên báo vấn đề cải cách y phục phụ nữ Việt Nam, giao cho Nguyễn Cát Tường, một hoạ sĩ còn rất trẻ, 22 tuổi, phụ trách. (Nhất Linh cũng vẽ vài mẫu áo). Thế là các bà các cô có Áo dài Lemur, một chiếc áo thay đổi cách ăn mặc của phụ nữ, và làm chúng ta thật hãnh diện.
8* Thiết lập Hội Ánh Sáng, cùng các kiến trúc sư “Tiếp và Luyện” xây dựng “Nhà ánh sáng” thoáng đãng hợp vệ sinh cho người nghèo, thay thế nhà ổ chuột…Mời gọi các nhà hảo tâm tới họp, làm việc xã hội tập thể tại nhiều tỉnh thành của Việt Nam. Việc này đã gây một phong trào lớn trong nước, dân chúng chung lòng làm việc giúp người nghèo, như tham gia các việc cứu trợ cho các nạn nhân thiên tai, bão lụt hàng năm, cũng như các tai nạn lớn, tới cả giúp nạn đói năm 1945.
9* Đăng những bản nhạc mới đầu tiên của Tân Nhạc Việt Nam lên báo Ngày Nay, giúp các nhạc sĩ trẻ tiên phong phổ biến tác phẩm tới quảng đại quần chúng, giúp phong trào lan rộng. Ngày nay chúng ta có được cả một nền Tân nhạc to lớn thật đặc biệt.
10* Lập trò chơi văn chương cổ điển “Câu Đối” dưới dạng “Thách đối” cũng do Thế Lữ phụ trách, làm điên đầu biết bao người đọc!

Nhân đây, tôi xin kể lại một câu chuyện xẩy ra cho chính tôi:
Khoảng hai năm trước đây, được biết tôi có trong tay một bộ báo Phong Hóa, Ngày Nay cũ, đang cùng các bạn hữu tìm kiếm cho đủ, làm số hóa từng trang, sửa soạn đưa lên mạng cho tất cả mọi người cùng đọc. Một người bạn, học giả Cao huy Thuần, người đã được đọc toàn bộ Phong Hoá Ngày Nay trong tủ sách gia đình từ trước năm 1946, viết cho tôi:
“Tôi không ngờ chị giữ được của quý văn hóa đó cho đến nay. Vậy tôi xin đố chị:
Ngày Nay đã ra câu đối này trong số nào : "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà"
Câu đố này đọc lên rối tinh, thật ra có nghĩa là:
(Báo) Ngày Nay ngày (hôm) nay, in (tại) nhà-in (của) nhà.

Nhận được thư, tôi ngẩn người, tự hỏi: Làm sao có thể tìm nổi một câu đối trong 224 số báo Ngày Nay, mỗi số lúc đầu là 16 trang, sau tới hơn 24 trang? Nên đành xin hàng, với lý do:“Thời gian báo Ngày Nay phát hành thì tôi... chưa sinh ra đời, nên bây giờ mù tịt, không biết tìm ở đâu.”

Hôm sau, tôi nhận được một thư dẫn:
“…Cho tới hôm đó, Ngày Nay phải mang đi in tại một nhà in. Sau một thời gian, xu hào rủng rỉnh, Ngày Nay tậu được máy in, in ấn ngay tại nhà in của mình. Cho nên hôm đó là một ngày có thể gọi là vinh quang. Trí nhớ tôi bây giờ đã bắt đầu khập khiễng, nhưng hình như câu đối "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà" được phô trương như một chiến công, đánh dấu một trang sử mới của tờ báo.

Chuyện chẳng có gì, nhưng cái gì trong Ngày Nay cũng đều có duyên như thế. Tự Lực Văn Đoàn là một cách mạng ngôn ngữ mà hậu thế ghi ơn đời đời…”.

Thế là nhờ được “mách nước”, tôi biết cách đi tìm câu thách đối trong núi báo Ngày Nay cũ. Kết quả là: Trên tờ Ngày Nay số 208, ra ngày18/5/1940, có câu đố nói trên, trong 2 thông báo, và Ngày Nay số #209 ra ngày 25/5/1940 là tờ báo đầu tiên in tại nhà-in Ngày Nay.




Hai thông báo của Ngày Nay

Báo Phong Hóa và Ngày Nay ngày một nổi tiếng, hoàn toàn không có đối thủ trong làng báo. Bên ngoài tưởng rằng họ là những “nhà tư bản, báo có nhà in!”, mà không biết rằng, muốn có tiền mua nhà in, họ đã sống cần kiệm, thanh bạch như thế nào:
Nhất Linh kể trong Phong Hoá số #154, ra ngày 20/9/1935, bài Lời Nói Đầu (về việc thành lập báo Phong Hoá): “ Mỗi người mỗi tháng chỉ cần một số tiền đủ sống, còn tiền lãi, nếu có, sẽ là của chung và sẽ dùng vào những công cuộc chung phải làm sau này”
Tú Mỡ, viết trong cuốn Tiếng Cười (5) : “Họ tập trung chung lo tờ báo, anh em quyết tâm đem hết tài lực làm việc quên mình, không vụ lợi. Bốn anh rường cột trong tòa soạn (anh Tam, anh Long, anh Giư, anh Thế Lữ) tình nguyện chỉ lĩnh mỗi tháng 50 đồng (có nhiều nguồn tin nói 30đ) đủ sống(1 người), để dành tiền lãi làm vốn cho báo phát triển”
Và họ đã làm được điều họ muốn: “Xuất thân từ những bàn tay trắng, đoàn đã có một số vốn khá to, đủ để xây dựng một nhà in riêng, để có thể từ nay:
“Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà”
Đó là câu đối báo đưa ra để thách đối, đồng thời để báo tin mừng với bạn đọc”.

Nhưng, đằng sau tất cả những vinh quang đó, mấy ai biết tới những cảnh này:

Báo Ngày Nay bị Tây rút giấy phép sau số #224 ngày 7/9/1940. (Đóng cửa hẳn, chấm dứt hẳn sự nghiệp của hai tờ báo nổi tiếng nhất nước ta. Hồ sơ mật vụ Tây để ở Aix en Provence nín thinh, không hề nói nguyên do).

Nghĩa là: Sau 8 năm làm báo, với biết bao tâm lực, bao cố gắng về tài chính, hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay chỉ được in tại nhà in Ngày Nay từ số #209 tới #224. Hay, báo chỉ được in tại nhà-in nhà 16 số tất cả, trên 401 số (tổng cộng cả Phong Hoá và Ngày Nay) (hay 4%).

Để gia đình, con cái sống qua nổi những ngày tháng thanh bạch đó (từ 1932 tới 1940, và sau đó), phải có người làm lụng buôn bán tần tảo ngược xuôi. Người đó chính là những người mẹ, người vợ cuả các thành viên nổi tiếng như cồn của Tự Lực Văn Đoàn, những tác giả được (bị) mang nhãn hiệu “tư bản”, bị ghen tị vì thành công lừng lẫy.

Bây giờ tôi xin kể những việc làm của các bà Tự Lực:
- Bà Nhất Linh buôn cau khô nuôi gia đình. Bà kể với các con (anh Nguyễn Tường Thiết thuật lại qua điện thoại): “Khi đi dậy học ở trường Thăng Long thì lương của cậu mang về là 200 đồng, đến khi làm báo, báo bán chạy lắm, nhưng cậu chỉ mang về có 20 đồng thôi” (chắc ông chủ báo giữ lại ít tiền túi, để tiêu vặt suốt tháng: nào xe cộ, chè tầu, thuốc lá, nào giúp gia đình, giúp người nghèo…).

- Bà Hoàng Đạo nuôi gia đình hoàn toàn. Anh Nguyễn Lân, con Hoàng Đạo nói qua điện thoại: “Bác Tam còn mang về 20đ, chứ ba tôi chẳng bao giờ đưa một đồng nào về cho vợ con hết”.

Theo hồi ký của bà Nguyễn thị Thế, em gái Nhất Linh, thì lúc này các vị Nguyễn Tường còn chung nhau trả tiền nuôi mẹ, tiền thuê nhà ở Hà Nội để đưa cụ bà Nguyễn Tường Nhu về sống gần các con các cháu.

- Bà Khái Hưng dù có hoa lợi riêng, cũng phải mua bán tần tảo thêm mới đủ chi tiêu (Trần Khánh Triệu, Ba tôi).

- Bà Thế Lữ, ở Hải Phòng hành nghề bà lang, chữa bệnh trẻ con gia truyền (truyền dạy từ gia đình mẹ của Thế Lữ). Bà làm thuốc, đầu tắt mặt tối cơm nước nuôi một đàn con và thay chồng phụng dưỡng mẹ già. Thi sĩ đang ở Hà Nội làm báo, mỗi tháng về thăm một, hai lần. Ông bán cả đất mẹ cho để lấy tiền làm kịch với bạn bè.

Chúng ta đừng quên các bà vợ trong bóng tối đó, họ không phải là những nhà tư bản, rủng rỉnh xu hào. Sau này đọc bài Tâm tình của người con, Nguyễn Tường Thiết viết về Nhất Linh, tôi đã thật sự cảm động: “…Chúng tôi thường hay nói đùa: “Cậu có nhiều cái “sĩ” quá, này nhé: văn sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, và kiêm cả “chiến sĩ” nữa. Nhưng không mấy ai biết là ông còn có một cái “sĩ” nữa mà có lẽ ông hãnh diện nhất trong những sĩ vừa kể, đó là “hàn sĩ”. Ông sống nghèo, trong sạch, và rất kiêu hãnh về điều này.

Trong hai năm 1962-63, tất cả bố mẹ con chúng tôi chen chúc nhau ở trên một căn gác rộng 4mx12m lầu 2 chợ An Đông, vì dưới nhà là giang sơn buôn bán của bà cụ tôi mà các bồ (đựng) cau đã chiếm hơn nửa. Chính tôi cũng không chịu được cảnh bần hàn này, nên có lần trong bữa ăn có ai than thở về cảnh sống chật chội. Ông cáu, cầm bát đứng dậy, cái bát run run trong tay:
“Mình phải hãnh diện là nhà mình nghèo chứ!”.

Suốt đời chúng tôi không bao giờ quên được câu nói này. Tiếc rằng lúc đó chúng tôi không hiểu được cái chiều sâu của câu nói, chắc ông cũng cảm nhận được điều đó, nên càng tỏ ra buồn phiền hơn.”(6)

Khoảng đầu những năm 1940, Nhất Linh bị thực dân Pháp theo dõi. Để mật vụ cho rằng mình mê nhạc, không làm chính trị, ông tạo ra việc đi thổi kèn cho một dàn nhạc, có lẽ là ban nhạc đầu tiên của người Việt, tên là Diễm Hoa của Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước. Sau đó thoát ra hải ngoại. Khi báo Ngày Nay bị đóng cửa, nhà in Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay còn hoạt động, đã xuất bản thơ, tiểu thuyết, sách Hồng nhiều hơn trước. Lúc này các thành viên nhận được ít tiền chia lời thất thường của Đời Nay. Nhờ vậy, cũng đã giúp được các gia đình qua ngày, trong thời buổi rất khó khăn.

Một vài cố gắng của Thạch Lam và Khái Hưng ra báo Chủ Nhật, rồi cũng sớm bị rút giấy phép. Năm 1941, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng bị Pháp bắt tại Hà Nội, mấy tháng sau bị đưa lên phát vãng tại Vụ Bản, Hòa Bình. Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí bị tra tấn tàn nhẫn. Tới 1943, Pháp đưa Nguyễn Gia Trí về quản thúc ở Thủ Đầu Một. Hoàng Đạo, Khái Hưng ở Hà Nội.

Trong khi các anh vắng bóng, Thạch Lam trông nom nhà xuất bản một mình. Năm 1942, ông mất trong thiếu thốn vì bệnh lao, khi mới 32 tuổỉ. Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, người em út, đứng ra tiếp tục nhà xuất bản Đời Nay. Tháng 4/1945 ra cuốn Hoa Niên (tức Nghẹn Ngào) của Tế Hanh là cuốn cuối cùng.

Năm 1946 Tự Lực Văn Đoàn tự giải tán. Nhà in mang bán, mỗi thành viên có cổ phần được chia 6 nghìn đồng. Thế Lữ mang tiền về Hải Phòng chia cho mẹ và vợ con, trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ (7).

80 năm trôi qua, Phong Hoá Ngày Nay vẫn còn là đỉnh cao của văn chương, báo chí Việt Nam. Đó là một kho tàng văn hoá mà chúng ta còn học được nhiều điều…

Ghi chú:
(1) Tú Mỡ, Tạp chí Văn học, HN, số tháng 5,6/1988.
(2) Nhất Linh, Di cảo « Đời làm báo».
(3)(5) Tú Mỡ, Tiếng Cười NXB Hội Nhà văn, HN, 1993.
(4) Khái Hưng, Viết Sách, Xuất Bản Sách, PH#101.
(6) Nguyễn Tường Thiết, Tâm tình của người con, Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ. Người Chiến Sĩ, nhiều tác giả, Thế Kỷ, California, USA, 2004.
(7) Song Kim, Hồi ký : Những chặng đường sân khấu, 1995.

Nguồn:Diễn đàn Thế kỷ





Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

"CỘI NGUỒN TRẦN THẾ"

VỀ SỰ KIỆN NGÀY 29.05.2014, TẠI BẢO TÀNG ORSAY ở PARISCÓ MỘT PHỤ NỮ ĐÃ VÉN VÁY, NGỒI " ĂN VẠ" NGAY TẠI NƠI TRƯNG BÀY KIỆT TÁC "CỘI NGUỒN TRẦN THẾ" CỦA HỌA SĨ GUSTAVE COURBET.
TỪ NGUỒN SƯU TẦM, NAY XIN HIẾN CÁC BẠN FACEBOOK MỘT CÂU CHUYỆN LÝ THÚ XUNG QUANH TÁC PHẨM BẤT TỬ VÀ TÁC GIẢ CỦA NÓ.
Bất kỳ du khách nào đến Paris biết chút đỉnh về hội họa, cũng đều cố đến Viện Bảo tàng Orsay xem cho được bức tranh độc đáo của Gustave Courbet (1819-1877) vẽ vào năm 1866, để rồi từ đó cả cuộc đời và sự nghiệp ông gắn liền vào các tai ương cho đến chết.
Tác phẩm mang tên “Cội nguồn trần thế“ (L’origine du monde).

Về kiệt tác mang tên: “Cội nguồn trần thế“

Năm 1866, Khalil Bey, nhà ngoại giao sưu tập tranh người Thổ Nhĩ Kỳ đã đặt ông bức tranh khiêu khích nhất, bức “Cội nguồn trần thế”, vẽ bộ phận sinh dục đàn bà, trông thật và sống động tới nỗi nó được giấu mãi, ngay cả đến những năm 1950. Vừa vẽ xong là bức tranh biến mất. Ban đầu nhà sưu tập treo trong phòng tắm, sau đó treo tấm màn che. Rồi họa phẩm này được bán đi bán lại, và người mua cuối cùng là nhà phân tâm Jacques Lacan vào những năm 1950, phải làm khung đôi, bên trên vẽ bức tranh khác.

“Cội nguồn trần thế” bị xem là khiêu khích vì nó quá thực, vì nó gợi lên ý nghĩ “những gì bạn trông thấy và nắm bắt được”, đây là trường hợp áp dụng thực tế: “hãy gọi con mèo là con mèo”.

“Cội nguồn trần thế“ bị xem là xấc xược vì cho thấy một đỉnh vú cương cứng, tức là người mẫu vừa qua cơn thoả mãn hoặc sắp sửa đạt được. Họa sĩ đã dám phô bày cái ham muốn của người mẫu, điều này chưa ai làm. Cũng bị cho là xấc xược vì nó là bức tranh. Nếu là quyển sách hay truyền hình thì nguời ta có thể khép sách hay tắt truyền hình - trừ phi phải che bằng tấm màn như nhà sưu tập. Và rằng những gì phô bày hết trong vòng kín đáo thì không thể phơi bày ra trước công chúng.

“Cội nguồn trần thế” cũng bị xem là điếm nhục (ngay cả đến ngày nay đối với một số người) vì hội họa là loại nghệ thuật cao, có vai trò phải đưa tâm hồn con người hướng thượng, không được hạ xuống các chuyện xung năng. Trái lại nghệ thuật khiêu dâm có thể chấp nhận được trong chừng mực đạo đức vào thời đó.

“Cội nguồn trần thế” cũng bị một số người quan niệm là hạ giá đàn bà vì nó đã giảm đàn bà xuống thành đàn-bà-đồ-vật; cũng là hạ giá hội họa vì dù là vẽ, bức tranh này không còn là một biểu tượng nghệ thuật nữa.

Về cuộc đời của tác giả Gustave Courbet

Là con trai duy nhất của điền chủ nửa nhà quê nửa tư sản được cha mẹ cùng 3 chị nuông chiều, Gustave Courbet có tính ngang tàng phóng khoáng của dân du mục, không nghi ngờ bất kỳ cái gì và không điều gì làm nản chí.

Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1819 ở làng Ornans (tỉnh Doubs, vùng Franche-Comté, biên giới Thụy Sĩ) miền Ðông nước Pháp, sau khi học sơ sài ở tỉnh Besançon, ông lên Paris năm 1840, 20 tuổi đẹp trai, cao ráo thanh tao với đôi mắt nhung và bán diện có nét đông phương, tính tình vui vẻ, khôi hài sống động, là một đứa con hiếu kính, một người bạn trung thành và một người tình ưu tú. Ông tự học vẽ thay vì học luật như đã dự định. “Cội nguồn trần thế” cũng bị xem là điếm nhục (ngay cả đến ngày nay đối với một số người) vì hội họa là loại nghệ thuật cao, có vai trò phải đưa tâm hồn con người hướng thượng, không được hạ xuống các chuyện xung năng. Trái lại nghệ thuật khiêu dâm có thể chấp nhận được trong chừng mực đạo đức vào thời đó.

Vì không theo trường phái nào nên Courbet bị Viện Hàn lâm làm nản chí. Courbet tự học một mình, vẽ cóp theo các bức tranh nổi tiếng, nhất là theo trường phái Tây Ban Nha và Flamand (người Bỉ nói tiếng Hà Lan) và tạo ngạc nhiên cảm phục ngay cả những người chống đối ông. Ông đã tìm ra mạch vẽ của mình. Mặc kệ lãng mạn, ông vẽ sự thật như nhìn thấy bằng chính mắt mình, không tưởng tượng màu mè, tự cho mình có khuynh hướng xã hội và tuyên bố là “vẽ như thần”.

Ông làm việc cật lực và năm 1849 nhận được mề đai hạng nhì. Nhưng chưa phải là thành công. Năm 32 tuổi, Courbet về làng sinh trưởng và đưa dân làng vào tranh để năm 1850 hiên ngang trở lại phòng triển lãm Hàn lâm với bức tranh vĩ đại 7m x 3.50 mang tên “Ðám tang ở Ormans“ (Enterrement à Ornans), đã để lại dấu ấn trong lịch sử hội họa. Cho tới bấy giờ, khổ lớn chỉ dùng cho những đề tài “sang trọng, cao quý”, Courbet chỉ giới thiệu buổi tang lễ nhà quê, màu tối tăm đen là chính, từ ông Thị trưởng đến người đào huyệt mộ, từ nông dân đến tiểu tư sản... đều có mặt, những khuôn mặt tỉnh lẻ xấu xí như cảnh vật chung quanh. Tất cả đều không đẹp đẽ hài hoà trong bức tranh. Nhưng đó là mục đích.

Sự công phẫn vô cùng to lớn. Các nhà phê bình hết lời. Chính trị chen vào. Và huyền thọai nảy sinh. Ðược mệnh danh “Họa sĩ của sự xấu xí”, nhưng ông hài lòng: vị trí ông đã định hình rồi. Càng hài lòng hơn khi bức tranh không bán cho Chính phủ, mà bán cho các nhà sưu tập. Ông tiếp tục sáng tác và bán chạy. Và ông tự cho phép mình từ chối những đề nghị của Giám đốc Viện Hàn lâm. Cuộc triễn lãm năm 1855 ông vẽ bức “Phòng tranh họa sĩ“ (L’Atelier du peintre), nghệ nhân làm trung tâm xã hội, bị từ chối vì không có chỗ, ông sáng chế kiểu thương mại đầu tiên là thuê một biệt thự cạnh phòng triển lãm chính thức, dành riêng cho tranh hiện thực. Không những tranh bán chạy, mà kể cả hình chụp tranh và Catalog nữa. Các nhà phê bình không còn lời nào đủ mạnh để nói, giá tranh Courbet cứ tăng lên. Các nhà quý tộc kín đáo mua tranh đồng quê, cảnh sinh họat và tranh loã thể càng lúc càng táo bạo của ông.

Vào thời đó, Viện Mỹ thuật hàn lâm quyết định mọi việc: chọn giáo sư, tổ chức các cuộc triển lãm mỗi hai năm định giá trị tranh không thì khó lòng bán được, và quyết định sẽ mua bức nào cho các viện bảo tàng... Có hai trường phái rất chia rẽ: trường phái lý tưởng - khách quan, và trường phái lãng mạn. Họa sĩ trẻ muốn sống còn bắt buộc phải như bột nhuyễn nằm gọn vào một trong hai khuôn này.
Thời đó, trừ số người hâm mộ tài năng, phần đông thiên hạ mọi giới đều xem ông như kẻ thù. Ðến nỗi tại quảng trường Vedôme ở Paris (gần quảng trường Concorde và Champs Élysée), nơi cây trụ sừng sững đại diện cho nền quân chủ mà Courbet có “khuynh hướng đỏ” thường mong muốn triệt hạ đi, vì cho đó là “một khối đồng hỗn độn kéo dài truyền thống chinh phục, cướp bóc và sát nhân” - bị đập phá ngày 16 tháng năm 1871, và dù không tham dự, có nhân chứng và luật sư biện hộ, ông cũng không thoát được cảnh tù đày.

Ngày 14 tháng 8 năm 1871, cả Paris, nghệ sĩ, chính trị gia và dân tư sản chen lấn vào toà án Versailles trong cái nóng nung người. Người ta hả hê nhìn ông quằn quại đau đớn bị trĩ hành, ngồi nhấp nhổm trên chiếc gối mang theo đặt trên ghế. Trên đường phố Versailles, một bà đập cán dù vào đầu ông, quán cà phê ném vỡ cái cốc ông vừa uống, báo chí vẽ hình ông tóc tai xum xuê, u tối, nham hiểm... Tại quê nhà Ornans, người ta chặt bức tượng đồng người câu cá mà ông đã tặng trang hoàng quảng trường. Người ta khinh bỉ ông. Toà kết án ông 6 tháng tù giam. Lúc này ông 52 tuổi.

Ra tù, các tai họa khác bắt đầu. Các nghị viên muốn xây lại cây trụ và tịch thu tài sản ông làm chi phí.

Ở Paris người ta tránh né hoặc canh chừng ông. Ở Ornans phòng tranh ông bị tàn phá. Mẹ chết, bạn bè thời thơ ấu cũng chết, thiên hạ lợi dụng thời cơ vơ vét hết: bà chủ nhà cũ ăn cắp của ông hai thùng tranh, chủ nợ, thương gia, nhà sưu tập cố tạo nhiều khó khăn, bắt trả tiền ngay tức khắc, ngay chị ruột của ông cũng báo trình với cảnh sát. Ông hoàn toàn kiệt quệ vì kiện tụng.

Tháng 5-1873, Hạ Nghị viện quyết định ông phải trả 330.091,68 quan vàng (tương đương 800.000 Euro hiện tại) cho cột trụ bị phá. Họ xiết hết tài sản ông, nếu không trả đủ sẽ phải đi tù. Ông miệt mài vẽ nhưng còn lòng dạ đâu, khi biết là bức nào xong cũng sẽ bị tịch thu?

Chỉ còn giải pháp lưu vong. Ngày 22 tháng 7 năm 1873, ông sang Thụy Sĩ, ở La Tour-de-Peilz, một cảng nhỏ quận Vaud. Tại đây ông sản xuất hàng loạt, nhưng con tim không đi cùng nữa. Ông sa đà vào rượu. Thần kinh suy nhược. Ông xin trở về Pháp nhưng bị từ chối. Tài sản ông đã hoàn toàn bị tịch thu hết. Mọi người đều quay lưng. Chỉ có bố ông là người duy nhất tiếp tục tranh đấu cho ông.
Ông mất năm 1877 tại La Tour-de-Peilz, bệnh xơ gan và thủy thũng, thọ 56 tuổi. Courbet để lại cho đời hơn 600 bức tranh. Bức cuối cùng bán với giá 2,45 triệu Euro.

Năm 1994, cảnh sát Besançon buộc tiệm sách lấy khỏi tủ kính quyển sách mà tác giả đã dùng bức “Cội nguồn trần thế” làm hình bìa. Và đến năm 1995 bức tranh này mới được công khai trưng bày ở Viện Bảo tàng Orsay. Trước tường treo họa phẩm độc đáo này là hàng ghế luôn luôn có quý ông an toạ. Và đàn bà con gái đi ngang qua đấy tình cờ nhìn phải bức tranh đều vội vã quay chỗ khác, âm thầm đỏ mặt hoặc hốt hoảng kêu “My God!” quýnh hơn gặp ma. Bởi vì bức tranh sống động đến nỗi nếu đặt nằm ngang tầm chiếc giường, hai bên che màn, người nhìn sẽ bắt gặp một người đàn bà đang nằm trần truồng trước mặt.

“Cội nguồn trần thế” cũng bị một số người quan niệm là hạ giá đàn bà vì nó đã giảm đàn bà xuống thành đàn-bà-đồ-vật; cũng là hạ giá hội họa vì dù là vẽ, bức tranh này không còn là một biểu tượng nghệ thuật nữa.

ĐỖ LỆNH HÙNG TÚ (FACEBOOK)