Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022
LÁ VỤ
Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019
CHẾT THẾ CÓ OAN KHÔNG ?
Chủ tịch Hiệp hội những người chết oan đến tuổi hiu. Ông lo lắm, đợt này không tìm được chủ tịch mới thì lại phải làm thêm khóa nữa. Bốc điện thoại gọi cho thư ký của hội, chủ tịch hỏi, anh em chết oan năm nay có đứa nào mới nhể, chết xứng đáng thì bầu lên thay tao, chứ tao đéo làm nữa. Chết cũng không được nghỉ, suốt ngày họp hành nhọc bỏ mẹ ra.
Tổng Thư ký hội chết oan trình bày, năm nay khá đông anh ạ, nhưng cũng cứ nhàn nhạt như nhau, đúng là chết cũng chả có điểm nhấn.
Chủ tịch Hội gắt lên, thì phải xem kỹ, chú cái gì cũng chê. Hỏi xem thằng cu ruộm tóc xanh bị đâm xem nó như nào.
Thằng cu nhuộm tóc xanh hiện lên, mếu máo trình bày, cháu đang đi chơi, vừa nhuộm quả đầu xanh, bọn thanh niên nó đâm luôn. Nó bảo ngứa mắt.
Thư ký lại hỏi, thế mày không cãi được câu nào à, thằng cu tóc xanh nhăn nhó bảo, nó đâm óe phát, chết tươi. Giờ xuống đây trình bày với các bác chứ tính cháu không thích cãi nhau.
Chủ tịch hội bảo, thôi lui ra đi, đúng là ko có điểm nhấn gì cả.
Thư ký lại bảo, để em gọi cái thằng tranh hát karaoke bị đâm lên. Thằng cu bị đâm vì tranh hát karaoke vừa hiện lên vừa nghêu ngao. Tôi quen, tôi đã quen rồi em... Chủ tịch hội nghe nửa câu đã quát ầm ĩ, thôi cút, hát thế thì mày gặp tao cũng xác cmnd luôn.
Thư ký hãi quá chưa biết gọi ai thì chủ tịch lại thét, gọi thằng tỉu lượng kém bị giết, đái vạ bị đâm, đút tay túi quần bị xọc, bị đâm chết vì vật tay thua không đi mua rượu...Bị đá chết vì tranh cãi giới tính của con trâu trên lon nước ngọt... lên đây xem nào.
Thư ký nhăn nhó trình bày, anh ơi, bầu mấy đứa này lên chủ tịch hội, tuyệt đối không được. Còn bên Hội khác người ta nhìn vào chứ. Chúng nó toàn đứa trẻ, chưa có kinh nghiệm chết. Trình độ lý luận lại non.
Chủ tịch Hội thở dài, thôi, kiểu này lại phải cố thêm vài năm nữa chứ đúng là toàn đứa chết nhạt. Không đáng mặt đàn ông.
Thư ký bảo, vâng, thể loại chết vì vợ bơm ngực như anh ai mà qua mặt được.
Chủ tịch mơ màng, mẹ kiếp, đúng là phê thật chú ạ, cái túi silicon nó vỡ ra, mình tối nào cũng chụt choẹt, silicon ngấm dần, ngấm dần, tím tái đi, chết thế mới gọi là chết chứ.
( Copy lại trên trang fb Viet Hoang )
PS: ảnh tìm trên google, ko thấy nguồn
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019
ĐẠI GIA Ở MỸ
Nguyễn Thị Thanh Dương.
Bà Xuân đã dọn dẹp nhà tươm tất, căn phòng apartment 1 phòng ngủ của hai vợ chồng bà ngày thường đã gọn gàng bà vẫn muốn gọn gàng hơn, lại có bó hoa tươi mới mua ở chợ về cắm để giữa bàn nên phòng khách chật hẹp bỗng tươi thắm và lịch sự hơn ngày thường.
Bà sốt ruột ngóng nhìn mông lung ra khung cửa sổ và nói với chồng:
-Chắc anh chị Bảo sắp đến rồi.
Rồi bà bỗng ngại ngùng:
-Họ là đại gia ở Việt Nam nhà cao cửa rộng, tiền bạc bề bề, chúng ta tuy ở Mỹ nhưng ngược lại…
Ông Xuân hiểu ý vợ:
-Mỗi thời mỗi khác, ngày xưa nhà bà giàu có trong khi bà Bảo là con nhà công chức nghèo mà hai người vẫn chơi thân nhau đấy.
Ngày xưa bà Bảo và bà Xuân là bạn bè cùng lớp từ trung học đệ nhất cấp đến đệ nhị cấp, cả hai cùng theo học anh văn Hội Việt Mỹ, cùng yêu thích tiếng Anh và thích một nước Mỹ xa xôi giàu đẹp.
Bà Xuân học năm thứ hai luật khoa thì lấy chồng. Ông Xuân cũng là sinh viên văn khoa vào đời lính. Chàng theo nghiệp đao binh bỏ dở học hành, nàng yêu lính sẵn sàng làm người vợ thời chiến. Cha mẹ bà Xuân cho vợ chồng bà một cửa hàng sửa xe gắn máy ở Đa Kao, nàng trông coi cửa tiệm với vài người thợ, chàng ở tiền đồn xa thỉnh thoảng về thành phố thăm vợ.
Bà Bảo không học đại học nào, bà đi làm công chức như cha, cô thư ký lương ba cọc ba đồng lấy chồng là một đồng nghiệp cũng chẳng khá giả gì. Hai người bạn có gia đình riêng, hai cuộc sống khác nhau. Dòng đời nổi trôi chia rẽ mỗi người một hướng và cách xa.
Gia đình bà Xuân sang Mỹ diện H.O. Sau những năm tháng dài tù tội nơi núi rừng từ Nam ra Bắc, ông Xuân bệnh hoạn đau yếu, ông đi làm được một thời gian ngắn thì phải nghỉ ở nhà, bà Xuân cũng làm chẳng bao nhiêu, nghỉ ở nhà để chăm sóc chồng. Hai ông bà đang hưởng tiền trợ cấp của chính phủ.
Ông bà Bảo đi tour du lịch sang Mỹ, đến thành phố Houston tiểu bang Texas. Hai người bạn xưa mới vừa biết tin nhau qua một vài người quen. Thế nên mới có cuộc hẹn gặp nhau bất ngờ ngày hôm nay.
Ông bà Bảo đang đứng trước cánh cổng sắt của khu apartment trên đường Beechnut, phải bấm số mật mã mới liên lạc được ông bà Xuân để cổng mở.
Ông lẩm bẩm khen:
-Nhà khu chung cư có cổng an ninh tốt qúa, chẳng thua gì nhà mình ở Sài Gòn bà nhỉ.
Bà Bảo ngắm nghía tòa nhà và trầm trồ:
-Nhà chung cư cao tầng này vừa đẹp vừa mới, chắc giá thuê không rẻ đâu, anh chị Xuân vẫn phong lưu như ngày xưa..
Ông bà Xuân đã hớn hở tận tình đi ra cổng đón khách vào nhà, chào hỏi mừng vui ríu rít xong chủ và khách thong thả đi bộ qua những hành lang, bước lên những bậc thang sạch đẹp của chung cư. Bà Bảo cất tiếng khen:
-Khu chung cư cao cấp có khác, sạch sẽ không thấy một cọng rác.
Ông bà Xuân chưa kịp nói gì thì ông Bảo chỉ một bóng dáng bà Mễ đang lui cui quét dọn phía xa cuối hành lang:
-Bà nhìn kìa, có lao công quét dọn chăm chỉ thế cơ mà..
Nhà ông bà Xuân ở tầng hai, là một căn phòng nhỏ rộng khoảng 700 Sq Ft..Bà Xuân thành thật khiêm nhường:
-Hai anh chị ở Việt Nam là đại gia, nhà cửa cao sang rộng lớn thông cảm cho vợ chồng chúng tôi căn phòng hẹp này nhé. Nghe bạn bè nói anh chị có công ty lớn lắm…
Được dịp bạn hỏi bà Bảo hãnh diện:
-Nhờ trời chúng tôi ăn nên làm ra. Dù bận trăm công nghìn việc chúng tôi cũng Mỹ du một chuyến cho biết đó đây.
Mời khách ngồi xuống ghế xong bà Xuân pha trà rót nước và giới thiệu:
-Đây là căn chung cư bình thường chứ chẳng cao sang gì, được cái là mới xây dựng 6-7 năm nay, dành cho những người cao niên hưởng trợ cấp nhà nước. Chúng tôi chỉ trả tiền thuê với một gía rất rẻ.
Bà Bảo ngạc nhiên suýt xoa:
-Ô , thích nhỉ…
Ông Bảo thì thực tế thắc mắc:
-Vậy là anh chị đã đi làm đóng thuế cho nhà nước nhiều lắm mới được hưởng tiêu chuẩn này?
-Trái lại, chúng tôi đi làm ít lắm, lúc có lúc không, thậm chí không đủ credit về hưu nữa, nên nhà nước phải trợ cấp mọi chi phí như nhà ở, y tế và tiền mặt để sinh sống.
Bà Bảo hỏi ngay:
-Mỗi tháng hai anh chị được trợ cấp bao nhiêu? Có thoải mái chi tiêu không?
Ông Xuân tỉ mỉ:
-Ở Texas này tiền trợ cấp cho một người là 771 đồng, cho hai vợ chồng ở chung thì hơn 1,100 đồng, lại còn thêm mấy chục đồng tiền food stamp nữa.. Tuổi gìa chúng tôi ăn xài là bao nên vẫn có dư tiền thỉnh thoảng gởi giúp vài họ hàng nghèo khó ở Việt nam.Về mặt y tế chúng tôi đi bác sĩ hay vào nằm bệnh viện không tốn một xu nào cả..
Bà Xuân kể:
-Có lần ông ấy cảm thấy mệt khó thở tôi gọi 911 vài phút sau là xe cấp cứu đến chở thẳng ông vào bệnh viện. Ở với ông suốt buổi chiều, cô y tá biết là tôi đói nhắn nhân viên nhà bếp mang lên cho tôi một xuất thức ăn bữa chiều nóng sốt ngon lành.
-Thế chị Xuân có phải “xã giao” cho tiền cô y tá không mà họ đối đãi tốt thế? Còn tiền “lót tay” cho bác sĩ là bao nhiêu?
-Ở Mỹ không phải như Việt Nam đâu chị Bảo ơi, bổn phận bác sĩ, y tá là phục vụ người bệnh đến nơi đến chốn mà.
-Ô, thích nhỉ..
Bà Bảo kêu lên xong lại so sánh:
-Những bác sĩ mà vợ chồng Xuân đến khám bệnh, bệnh viện mà chồng Xuân nằm là niềm ước mơ cao xa của biết bao người ở Việt Nam, phải có thật nhiều tiền, phải xin đủ thứ giấy tờ thủ tục mới đến được nước Mỹ để chữa bệnh.
-Vâng, nhờ sống ở Mỹ, y tế của Mỹ chăm sóc mà sức khỏe ông Xuân nhà tôi mới được như ngày nay.
Ông Bảo thắc mắc sang chuyện khác:
-Nhưng người ta bảo ở Mỹ không có…tình người. Ngay con cái họ, đến tuổi trưởng thành cũng bị “đuổi” ra khỏi nhà. Quanh năm ta chẳng thấy mặt mũi thằng hàng xóm ra sao. Họ lại kỳ thị những sắc dân da màu.
-Văn hóa, cách sống, suy nghĩ của mỗi dân tộc khác nhau thôi anh ạ. Người Mỹ không có tình người sao các ông bà tỷ phú Mỹ đã hiến tặng bao nhiêu của cải cho tha nhân, cho xã hội. Chính phủ Mỹ cho chúng ta bảo lãnh thân nhân đoàn tụ diện vợ chồng, con cái cha mẹ đã đành, kể cả diện anh chị em, một người ở Mỹ bảo lãnh cả đàn anh chị em và con cái họ sang Mỹ đoàn tụ.
Bà Bảo tán thành:
-Phải đấy, ngay dân gian Việt nam mình còn có câu “Kiến gỉa nhất phận” anh em ai có phận nấy chứ có đùm bọc nhau mãi đâu. Người Việt mình còn kỳ thị với nhau nữa là, nào kỳ thị vùng miền, tôn giáo, giai cấp, giàu nghèo..
Ông Bảo gật gù:
-Ừ nhỉ…suy ra mình còn kỳ thị mình nói chi ai, cho tới giờ này các diện bảo lãnh của Mỹ vẫn còn. Đúng là lòng bao dung nhân ái của nước Mỹ không ngừng nghỉ .
Bà Xuân nói:
-Nhìn những người handicap ở Mỹ là thấy tình người ra sao rồi, họ được đối xử tử tế và thân ái, mọi ưu tiên dành cho họ nơi công cộng.
Vừa lúc ấy có tiếng gõ cửa, thì ra cô Lan đến. Bà Xuân dặn dò nhờ cô nấu cho bữa ăn chiều với hai người khách xong ra bàn tiếp tục chuyện trò. Bà Bảo tò mò hỏi:
– Anh chị thuê mướn người giúp việc nhà hả?
Bà Xuân giải thích:
-Đây là người của Home care đến giúp chúng tôi những công việc nhà như đi chợ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ v..v…. Mỗi ngày cô đến làm việc 6 tiếng. Chi phí thuê mướn nhà nước chi trả.
-Trời, thế thì anh chị như ông hoàng bà chúa rồi còn gì, được trợ cấp đủ thứ lại còn kẻ hầu người hạ .
Ông Bảo cũng ngạc nhiên:
-Sao mà nước Mỹ rộng lượng tử tế đến thế chứ. Tuổi ngoài 70 như anh chị Xuân bao người ở Việt nam còn phải nắng mưa dãi dầu kiếm miếng cơm manh áo. Hèn gì tôi từng nghe nói ở Mỹ là thiên đường của tuổi già, nhưng hôm nay tận mắt thấy tai nghe, chỉ đôi điều trong nhà anh chị thôi, tôi đã hiểu cái thiên đường ấy tốt đẹp thế nào.
Bà Bảo bỗng buồn buồn:
-Chị Xuân còn nhớ không? hồi chúng mình học Hội Việt Mỹ cả hai từng ngưỡng mộ nước Mỹ giàu đẹp. Xuân đã may mắn được đến nơi này còn tôi thì không.
Bà Xuân thành thật:
-Tuy ở Việt nam nhưng vợ chồng chị là đại gia giàu sang cũng sướng chán.
Bà Bảo càng thành thật hơn:
-Vợ chồng Xuân mới là đại gia ở Mỹ.
-“Đại gia” …. hưởng trợ cấp nhà nước hả chị Bảo.
-Tôi nói thật đấy, không bông đùa đâu. Những gì vợ chồng chị đang hưởng chẳng con cái nào chăm lo cho được dù chúng ở Mỹ hay ở Việt nam, dù chúng giàu có đến đâu.
Bà Bảo kể lể:
-Vợ chồng tôi đại gia thật đấy nhưng làm ăn ở Việt Nam lắm cạnh tranh, lắm thăng trầm, lúc được lúc thua, đâu phải chỉ toàn là những thành công tiếp nối thành công. Nhất là phải xã giao, biếu xén, hối lộ mới xong thủ tục đầu tiên, nhưng cũng là cái dây thòng lọng treo cổ mình bất cứ lúc nào. Hôm nay đại gia mai bị nhà nước hỏi thăm xập tiệm mấy hồi.
Ông Bảo tiếp lời vợ:
-Anh chị được hưởng đầy đủ mọi tiện nghi cuộc sống của xã hội và an toàn cho đến cuối đời, tha hồ thảnh thơi an nhàn vui hưởng tuổi già. Còn một gia tài vô gía khác là anh chị sống ở một đất nước tự do dân chủ hàng đầu thế giới. Nếu được chọn lựa thì tôi sẽ chọn lựa là “đại gia” ở Mỹ như anh chị.
Bà Bảo tiếc rẻ:
-Giá mà ngày xưa chúng tôi được đi Mỹ như anh chị….
Cô Lan đã nấu xong và dọn cơm ra bàn, những món ăn quen thuộc của người Việt nam như cá đù ướp xả chiên, tôm rim và canh bí nấu tôm khô.
Bà Xuân nói với bạn:
-Mâm cơm toàn là sản phẩm ở Mỹ. Mời anh chị…
Bà Bảo lại so sánh:
-“Đại gia” ở Mỹ hơn hẳn đại gia ở Việt nam chúng tôi điều bình thường này nữa, hàng ngày được ăn những thực phẩm bảo đảm chất lượng. Ở Việt Nam có tiền cũng chưa chắc mua được những thực phẩm tươi sạch. Xã hội khiến người ta lọc lừa từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, chẳng biết tin ai. Sang Mỹ du lịch ăn món gì tôi cũng cảm thấy ngon vì cảm giác tin tưởng yên tâm vào thực phẩm.
Cả nhà vui vẻ ngồi vào bàn ăn. Bà Xuân thấy vui hơn vì vợ chồng bạn cởi mở chân tình và nhận xét đúng như quan niệm của bà.
Nếu phải đánh đổi hiện tại đang là người nghèo ở Mỹ hưởng trợ cấp chính phủ để trở thành đại gia giàu có ở Việt nam như vợ chồng chị Bảo thì chắc chắn ông bà Xuân cũng không bao giờ chấp nhận.
Nguyễn Thị Thanh Dương.
(Dec.26, 2018)
Nguồn : Cuocsongomy.com
Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018
THEO DÒNG (9).
Một lần anh nói chuyện với tôi: Cái chết của ông Ngô Đình Diệm vào ngày 02/11/1963 đã để lại nhiều câu hỏi lớn cho những người dân Bắc di cư như tôi. Những câu hỏi mang tính chất bi quan và tuyệt vọng vì tình hình Sài Gòn những năm đó ngày càng xấu đi. Năm 1967 ông Nguyễn văn Thiệu được bầu làm tổng thống, tình hình càng trở nên xấu hơn. Năm 1975 thì chính quyền Sài Gòn bị mất hẳn. Tôi đi cải tạo ngoài Bắc. Hồi còn trong Sài Gòn tôi có những câu hỏi có thể tóm lại như sau:
1-Ông Ngô Đình Diệm và em là ông Ngô Đình Nhu bị người Mỹ giết có phải vì hai ông không đồng ý cho người Mỹ đem quân vào Việt Nam, không muốn người Mỹ can thiệp quá sâu vào chuyện Việt Nam? Hai ông muốn độc lập?
2-Ông Diệm độc tài và đàn áp Phật giáo, làm mất chính nghĩa tự do và thiên vị Công giáo quá rõ. Nên các tướng lĩnh dựa vào đó mà tìm cách khai trừ ông ra khỏi chính quyền như một cách tạo dựng lại sự tự do, sự công bằng tôn giáo tại miền Nam?
3-Ông Diệm thì tốt, nhưng những người trong gia đình ông như vợ chồng ông Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Cẩn quá xấu xa và quá lộng quyền nên gây ra sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội miền Nam. Do đó cuộc đảo chính ngày 01/11/1963 là phương cách bắt buộc để quân đội quốc gia có thể loại trừ một chính quyền độc tài gia đình trị?
4-Những con số thống kê kinh tế tài chính giai đoạn thời Đệ nhất Cộng hòa là những con số ảo? Tính từ đầu năm 1962 nền kinh tế miền Nam chỉ có cái vỏ, còn cái ruột là viện trợ của Mỹ. Do đó, người Mỹ với viện trợ dồi dào hoàn toàn chi phối chính quyền miền Nam, họ muốn làm gì thì làm?
5-Sau ngày 01/11/1963 Sài Gòn và cả miền Nam lâm vào tình trạng rối loạn từ trong nội bộ lẫn do áp lực Cộng Sản. Nếu còn chính quyền ông Diệm thì chưa chắc tình trạng xấu đó đã xảy ra? Nếu còn ông Diệm thì chưa chắc chính quyền Sài Gòn bị sụp đổ tan tành vào ngày 30/4/1975
6-Việc đưa quân lính Mỹ trực tiếp tham chiến tại Việt Nam là bắt buộc? Hay chính quyền Sài Gòn vẫn có thể tự túc chống Cộng bảo vệ miền Nam mà không cần quân đội Mỹ vào can thiệp? Không có người Mỹ thì Sài Gòn vẫn tồn tại được?
7-…
Anh Luận muốn nói thêm câu hỏi số 7 cho tới số mấy chục gì đó nhưng nghe mới tới đó tôi liền lắc đầu ngăn anh Luận lại: Thôi đi ông nội. Tôi chỉ lo làm kinh tế kiếm cơm thôi, tôi không quan tâm tới những chuyện đó đâu. Tôi sợ bị bệnh đau đầu lắm. Làm ăn ở Sài Gòn ngày càng khó càng mệt, rảnh rỗi tôi muốn nghe cô ca sĩ Dalida hát: Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời… chớ không muốn nghe chuyện rắc rối ngày xưa hay chuyện chính trị chính em bây giờ.
Anh Luận: Hồi bị đưa ra ngoài Bắc cải tạo tôi cũng thỉnh thoảng muốn nghe Dalida hát mà làm gì có Dalida, nên tôi ưa hát lầm bầm trong họng mấy câu nhạc Pháp cho đỡ nhớ cô Dalida.
Cán bộ nghe được liền hỏi: Tiếc nuối tàn dư đế quốc thực dân lắm hả? Muốn ở tù mọt gông không? Tôi trả lời: Tú-lơ-mông đều muốn nghe Dalida hát ông cán bộ à, chớ không phải riêng mình tôi đâu. Cán bộ mắng: Ra tới ngoài đây rồi mà còn mông với vú, mấy anh Sài Gòn sa đoạ đồi trụy ngoan cố thấy mẹ. Tôi cãi lại: Cán bộ ơi nhìn lại đi, tú-lê-dua tôi đã làm chăm chỉ hết mọi việc do các ông sai bảo hết rồi mà. Cán bộ càng mắng mỏ dữ: Thôi đủ rồi nghe. Ông cứ tú, mông, lê mãi tôi cho ông đi mút chỉ cà tha luôn đó.
Thế là sau đó tôi chỉ dám nói tiếng Việt và hết dám hát tiếng Tây.
Những năm cải tạo ban đầu gian khó lắm, lao động nhiều bệnh tật nhiều mà cơm không đủ ăn, thuốc không có để chữa bệnh. Một số người chết vì bệnh tật, do không quen thời tiết khí hậu khắc nghiệt, do không quen ăn uống kham khổ. Số người được cho về nhà từ từ cũng nhiều, nhưng riêng anh Luận là cấp sĩ quan to nên bị giữ lại khá lâu. Anh Luận cũng không biết phải do anh ưa tú, mông, lê… nên bị giữ lại ngoài Bắc lâu quá không?
Anh Luận kể anh trở về Sài Gòn theo chuyến tàu vét cuối cùng tháng tư năm 1992. Chuyến đó là chuyến chuyên chở những người cải tạo cuối cùng còn sót lại trên đất Bắc. Ngày đó đứng trên ga Hàng Cỏ anh thẩn thờ biết mười bảy năm dài đã trôi qua.
Ngoài Bắc anh nhớ mẹ lắm, mà mẹ anh chẳng còn sức khỏe để ra thăm anh được. Một ngày mưa gió trên đất Bắc nghe tin mẹ mất, anh viết bài “Nhớ Mẹ” rồi ôm đàn mà hát. Những năm sau cùng của cuộc đời cải tạo giống như giam lỏng thôi chớ không còn lao động nặng nề mấy, chế độ cải tạo đối với những sĩ quan Sài Gòn vào những năm cuối cùng không còn gay gắt như hồi những năm cuối thập kỷ 1970, nên anh Luận có xin được một cây đàn guitar làm bạn. Những tiếng đàn, tiếng hát đầu tiên là dành cho mẹ chớ không phải là cho người yêu hay cho vợ, vì vợ anh đã bỏ anh đi lấy người khác lâu rồi…
Cán bộ bảo: Thôi xin ông đừng hát nữa. Ông tru tréo nỉ non quá làm tôi nhớ mẹ tôi quá đi. Mấy năm rồi tôi cũng chưa về quê thăm mẹ được.
Về tới Sài Gòn anh không về nhà mình mà tìm về nhà mẹ. Mẹ anh mất lâu rồi. Nhìn đôi mắt mẹ trong tấm hình trên bàn thờ vẫn trong vắt như ngày anh chưa ra đi, anh Luận kể lại: Người đàn bà duy nhất trong đời tôi có đôi mắt trong vắt là mẹ. Người đàn bà duy nhất không bao giờ từ bỏ tôi, luôn thương yêu tôi cuối cùng chỉ là mẹ.
Anh Luận không về nhà của riêng mình, anh nói vợ anh đã có người chồng khác rồi, con anh đã có cha khác rồi.
Không chờ tôi tò mò hỏi thêm chuyện bà vợ, anh đã kể thêm: Cải tạo được ba năm thì vợ tôi có ra Bắc thăm tôi một lần duy nhất cùng với một người đàn ông lạ. Cô ấy nói nhờ ông này mà em mới có cơ hội ra thăm anh được. Em đi đường xa một mình không quen, em phải có bạn mới xa đi được. Người đàn ông lạ ngượng nghịu nói với anh Luận: Tôi chỉ là bạn của cô ấy, anh đừng lo lắng.
Thăm viếng được nửa giờ đồng hồ thì hết giờ thăm nuôi. Anh Luận hỏi vợ: Từ Sài Gòn ra tới đây mất mất ngày đường hả em? Vợ anh thản nhiên trả lời: Chỉ có một tuần lễ anh ạ, về chắc cũng mất một tuần lễ. Đi đường hết nửa tháng mà thăm anh chưa được một giờ, tiếc quá. Anh Luận đau đớn: Thôi em về đi, cứ coi anh như đã chết rồi. Vợ anh làm bộ rớt nước mắt: Dù sao cũng tình nghĩa vợ chồng, sao em làm vậy với anh được? Anh Luận: Em đã làm được rồi đấy thôi, em đã có bạn đường đấy thôi. Vợ anh Luận hỏi với giọng ráo hoảnh: Anh nói thực đi, bây giờ anh có còn thương em nữa không? Thương em thì phải tin em chớ?
Anh Luận thổn thức mà kể cho tôi nghe: Cậu có biết tôi trả lời với cô ấy thế nào không? Tôi trả lời: Không, tôi hết thương em rồi. Em về đi. Chỉ xin em đối xử với mẹ tôi và con tôi cho đàng hoàng là đủ.
Tôi hỏi anh Luận: Chị ấy phản ứng ra sao hả anh? Người đàn ông đi theo chị ấy suốt cả tuần lễ cả đêm lẫn ngày từ Sài Gòn ra Bắc phản ứng ra sao hả anh? Anh Luận cười không thấy vui hay buồn gì hết trơn: Thực ra vì uất ức quá mà tôi nói như vậy, giờ thăm nuôi cũng hết nên vội vã quá tôi chẳng để ý họ nghĩ gì, thái độ họ vui hay buồn, họ thỏa thê hay còn muốn gì nữa. Mà thôi tôi biết để làm gì. Thế là hết rồi!
Họ đi khỏi rồi. Tối nằm trong trại vắt tay lên trán mà vừa khóc nấc mà vừa vật vờ suy nghĩ. Hàng loạt câu hỏi tới giờ này tôi vẫn chưa biết phải trả lời sao. Tóm lại như sau:
1-Nếu người Mỹ không giết chết ông Diệm thì Sài Gòn có sụp đổ hay không? Sài Gòn không sụp đổ thì mình có phải ra ngoài Bắc học tập cải tạo hay không?
2-Nếu mình không đi cải tạo, gia đình mình có tan vỡ hay không? Nếu mình không đi cải tạo, vợ mình không phải ra Bắc thăm mình và cùng đi cả ngày lẫn đêm với một người đàn ông lạ khác thì cô ấy có bỏ mình ra đi lấy ông chồng khác hay không?
3-Nếu mình không đi ra Bắc, mình có thương mẹ mình đến nỗi khi nghe tin mẹ mất phải cất lên tiếng ca ai oán “Nhớ mẹ”? Bài ca này làm cho ông cán bộ cũng nức nở đòi bỏ về nhà. Tại sao ông ấy thương mẹ quá mà không thương vợ? Mà làm sao biết chắc ông ấy thương mẹ hơn thương vợ?
4-Có phải từ lâu rồi vợ mình chẳng còn thương yêu mình nữa, cho nên chỉ chờ mình bước ra khỏi nhà là cô ấy thay dạ đổi lòng?
5-Nếu mình không nói dại: Thôi em về đi, cứ coi anh như đã chết rồi. Em đã làm được rồi đấy thôi. Và vợ mình không hỏi: Anh nói thực đi, anh có còn thương em nữa không? Thì gia đình mình có tan vỡ hay không?
6-Nếu ngày trở về Sài Gòn mình nén lòng lại, quay trở về nhà của mình thì người đàn ông kia có chịu rút lui và vợ con mình sẽ quay lại với mình?
7-...
Như lần trước, anh Luận muốn hỏi thêm câu số 7 cho tới câu số mấy chục gì đó nhưng nghe tới đó tôi liền lắc đầu ngăn anh Luận lại: Thôi đi ông nội. Tôi chỉ lo làm kinh tế kiếm cơm thôi chớ không muốn nghe những câu chuyện tình cảm éo le quá. Nói qua chuyện khác cho vui đi.
4/4/2018.
Momentary Notes
Ảnh Dang Danh st
Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017
BA GIÒNG NƯỚC MẮT
https://youtu.be/XMlDNlhIcPM
Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy.
Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.
***
Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần "inh". Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng "con gái cầm roi đi quyền" đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá.
Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn.
Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính.
Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn "chúng mình ba đứa" nữa.
Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.
Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình được lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.
Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch.
Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần "anh về với em rồi anh lại đi". Có lẽ nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.
Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.
Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi nhà phía trước "thăm dân cho biết sự tình", không ngờ "hồn lỡ sa vào đôi mắt em", đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.
Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế.
Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị. Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.
Chỉ có thằng Bình là "số đẻ bọc điều". Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo "tán", sau các buổi tan trường.
Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập.
Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu : cháo trắng ăn với hột vịt muối.
Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao "đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng" như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán.
Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.
Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.
Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi "xác thân đã nhuốm mùi trần tục", một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.
Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói "lắm mối tối nằm không", đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.
Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà.
Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình.
Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học.
Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.
Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.
Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục.
Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..
Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.
Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.
Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện "học tập cải tạo" bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh "nước mất nhà tan" này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.
Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.
Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng.
Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.
Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.
Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ.
Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế "ứng chiến" để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình.
Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.
Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão.
Và vẫn còn hàng ria mép.
Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.
- Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.
- Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình. Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.
Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.
- Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.
Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự :
- Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao.
Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết.
Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.
Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.
- Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác ?
- Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi "mu" qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.
- Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác ?
- Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ.
Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.
Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về.
Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.
Người ra mở cửa là Mỵ Khê.
Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.
Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.
Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm. Tôi chưa biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.
- Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng.
Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống
- Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao ?
- Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.
- Bây giờ mày tính sao ? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày ?
- Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.
- Còn mày thì sao ?
- Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Nauy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.
Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời.
Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má.
Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.
Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.
Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định :
- Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.
Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình :
- Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về.
Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật.
Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.
Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà :
- Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối. Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào :
- Hello, Ninh ! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.
Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ.
Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.
phạmtínanninh
fb Pham xem share
Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017
RƯỢU RẮN
(TIẾP) CHUYỆN NHẶT TỪ MỒM CHỊ TÒA ÁN
Hôm rồi, chị tòa án kể cho nghe chuyện này:
Một bà trên sáu mươi tuổi tìm đến phòng của chị. Chị hỏi có việc chi rứa bà, kiện cáo đất đai hay có việc chi khác! Bà già cởi nón, khép nép ngồi xuống ghế, húng hắng bảo:
- Ở đây mát hè!
Chị ngước lên, nói dạ, nhưng có chuyện chi rứa. Bà già ho 3 cái, nói "Tui đến hỏi thủ tục...ly dị".
Chị nghe xong suýt ngã vật ra, nhưng vẫn từ tốn hỏi lại:
- Dạ, bà hỏi thủ tục cho ai? Con hay cháu ạ?
Thở dài cái thượt, bà già bảo:
- Cho tui chớ ai! Nói thật với chị tui chịu hết nổi lão nớ rồi. Kể ra thì rầy rà, nhưng... tui phải bỏ lão thôi chị ạ!
Rót ly nước lọc, chị động viên bà già kể ra hết sự tình, coi có thể cứu vãn được không. Chớ đầu bạc răng long cả rồi, bỏ nhau làng xóm họ cười chết. Nhấp ngụm nước, bà già lắc đầu nguầy nguậy một hai xin bỏ:
- Để kể cho chị nghe. Tui năm ni 63, lão nớ 73, cháu nội, cháu ngoại đủ cả rồi. Rứa mà trưa mô lão cũng đuổi tôi chạy quanh vườn như gà đòi đạp mái. Mùa hè nắng nôi đã khó chịu trong người, nhưng cứ ăn xong, làm đôi chén riệu rắn vào, lão lại đuổi tôi từ nhà ra vườn, tui chạy ra vườn lão lại đuổi tôi chạy vòng quanh mấy bụi chuối. Có bữa nhọc quá tui nằm vật xuống giữa vườn chuối, nói ông thích mần thì để tối mần, giờ tui chạy hết sức rồi. Rứa mà lão không chịu, bồng bằng được tui vô nhà để mần cái rồi mới tha cho. Chị thấy có ai khổ như tui không? Tui hết chịu nổi lão điên ấy rồi.
Chị nghe đến đây không chịu nổi liền phì cười, nói "Dạ công nhận ông nhà khỏe thật. Nhưng cháu hỏi tí, ông đuổi bà để mần cái là mần cái chi ạ?"
Bà già đỏ mặt nói:
- Thì để... để... đạp mái chớ mần chi nựa! Tui nói đạp mái kể ra cũng không được tế nhị cho lắm, nhưng chị ơi, lão ta cứ rượu vào là hùng hùng hổ hổ như gà đạp mái chị ạ! Mà sức tui trừ hèn rồi, chạy mô nổi.
Chị tòa án gật gật đầu đồng cảm nói, trường hợp ni thì đúng là hi hữu trong ngành tòa án. Chừ bác cứ về suy nghĩ thật kỹ đi, nếu vẫn không chịu nổi thì lúc ấy viết đơn mang lên đây bọn cháu xem xét để giải quyết. Bà già run run hỏi lại "Rứa trong đơn tui nên ghi lý do xin ly dị là chi rứa chị?". Chị bảo, dạ thì cứ ghi những lý do khiến bà không chịu nổi thôi, nhưng đừng có ghi lý do là vì chồng khỏe quá hay suốt ngày đòi đạp mái là được.
Tháng sau hai người ra tòa. Gọi là ra tòa nhưng chỉ cần đến viết cái giấy xin ly hôn, ký vào mấy tờ A4, nộp 200 nghìn tiền án phí rồi ra về. Nghe chị tòa án kể, bà già ghi lý do ly dị là "Tui khổ vì ông nớ khỏe quá, chịu không nổi".
Mình nghe kể mà cười như ma làm. Chị tòa án hỏi cười chi mà cười. Mình nhìn lên trần nhà, mắt chớp chớp nói "Chị cho em số điện thoại ông 73 tuổi phát". Chị hỏi để mần chi!
Mình nói, để xin lão chai riệu rắn về uống.
(Song Hà).

