Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
TRỊNH CÔNG SƠN…
Thứ Năm, 24 tháng 9, 2020
CHUYỆN PHIẾM GIỐNG ĐỰC GIỐNG CÁI TRONG TIẾNG PHÁP VÀ VĂN PHẠM RẮC RỐI CỦA TIẾNG VIỆT
Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019
TRUYỆN KIỀU VÀ TIẾNG VIỆT
Cách đây ít lâu, một người bạn có nhắc với tôi câu nói của Phạm Quỳnh : Truyện Kiều còn thì Tiếng Việt ta còn...Cứ như đó là một chân lý sáng ngời vậy. Và tôi đoán là con bọ già ND Xuân cũng tin và viện dẫn điều này khi đả phá chữ quốc ngữ vậy...
Tiếng Việt có lịch sử từ mấy ngàn năm nay từ khi khai sinh ra dân tộc VN. Chính tiếng Việt đã giúp phân biệt người Việt trong cộng đồng đa dân tộc của thế giới. Nghe tiếng nói là người ta nhận ra bạn so với những người tàu, người hàn, người nhật, người thái.... Chính tiếng Việt và dân tộc Việt mới khai sinh ra mấy ông nhân tài cỡ Nguyễn Du, Phạm Quỳnh... và các tác phẩm để đời. Từ khi nào mà chúng ta bị mấy ông chính trị gia lừa phỉnh bằng những luân điệu như vậy.
Nguyễn Du là một đại thi hào, truyện Kiều của ông ấy gắn với văn hóa Việt Nam, thấm vào trong máu người Việt đến độ mẹ tôi một người phụ nữ ít học mà lúc trẻ vẫn ru con à ơi bằng mấy câu thơ Kiều. Nhưng không thể gán ghép một cách vớ vẫn là mất Kiều là mất dân tộc được. Đó là chính trị...
Cũng giống như chuyện mấy anh cổ động viên bóng đá vào sân bóng mà còn ôm theo ảnh ông Hồ, ông Giáp vậy... Đó là thứ niềm tin ngu xuẩn. Đá banh, thắng hay thua đều do trình độ, kỹ thuật tay nghề của cầu thủ và huấn luyện viên..Xa hơn nửa là điều kiện sân bãi, thời tiết và ức chế tâm lý trước sự cổ động của khán giả. Làm gì có ông nào phò hộ ông nào ??
Tất cả chỉ là chuyện chính trị, tuyên truyền để lôi kéo quần chúng vì mục đích chính trị
Bên cạnh tình cảm yêu thích bóng đá, yêu thích văn chương, hội họa thi ca thật sự thì mọi sự cổ vũ, ngợi ca và phê phán đều có liên quan đến chính trị và tuyên truyền
Bài viết này cũng không nằm trong ngoại lệ..
Bạn có tin không ?
TRẦN PHONG VŨ
11/12/2019
Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019
CON ÔNG CHỦ RẠP CAO ĐỒNG HƯNG
11 tháng 5 lúc 20:56
Đọc lại một số bài viết tào lao để gom thành tập CHUYỆN BAO ĐỒNG sẽ xuất bản nay mai.
Nhớ Cao Đông Khánh, một tửu đồ tôi vô cùng yêu quí.
Đăng lại bàI viết như một nén tâm hương. Mười tám năm đã trôi qua, rưng rưng nhớ bạn, Cao Đông Khánh.
*
CAO ĐÔNG KHÁNH, THƠ VÀ RƯỢU
Vài năm gần đây, chúng ta liên tiếp mất đi nhiều tài năng, trong nhiều lĩnh vực. Nhà văn Mai Thảo, thi sĩ Nguyên Sa, nhà báo Lê Đình Điểu, nhà văn Nghiêm Xuân Hồng, họa sĩ Ngọc Dũng, nhạc sĩ Lê Uyên Phương... Văn học nghệ thuật Việt Nam trên quê người vốn khó khăn, vì điều kiện kinh tế, môi trường nuôi dưỡng, cũng như thiếu hẳn những gạch nối kế thừa, càng trở nên khó khăn hơn, khi chúng ta cứ phải, vài tháng, một năm, chứng kiến những cuộc ra đi vĩnh viễn. Gần đây nhất, (ngày 12/12/2000), thi sĩ Cao Đông Khánh lại vừa từ giã chúng ta!
Qui luật vận hành của thời gian và lẽ tử sinh của kiếp người, quả thực, quá đỗi khắc nghiệt. Cao Đông Khánh vừa từ giã chúng ta. Cái gã xem cuộc đời như ngọn rau muống ấy, cái kẻ, nếu tình cờ vài ba năm gặp lại, ở đâu đó, thay cho lời vấn an cũ mòn, đến khách sáo: “Khỏe không ?”, là cái hất hàm kèm tiếng chửi thề và câu hỏi ngắn gọn: “Còn nhậu được chứ?”
Còn nhậu được, đồng nghĩa với còn khỏe, còn tráng kiện, còn phong độ. Cụ thể, giản dị, cực kỳ Lương Sơn Bạc.
Nhớ đến Cao Đông Khánh, là nhớ đến hình ảnh một gã đàn ông rất giang hồ, rất “tay chơi”, rất “công tử Bạc Liêu”, và tất nhiên, rất thi sĩ.
Trong đời, tôi được may mắn biết ba người làm thơ, theo tôi, chất “thi sĩ” hiển lộ rõ rệt nhất, không những qua ngôn ngữ thi ca, mà ngay trong đời sống và cung cách xử kỷ tiếp vật của họ. Đó là Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, và Cao Đông Khánh.
Cả ba, mỗi người một cách, đã ném cả sinh mệnh, cuộc đời, buồn vui giận ghét của mình đến chỗ tận cùng, quyết liệt, tan hoang!
Dĩ nhiên tôi không phiến diện kết luận phải sống như thế, phải là như thế, thì tác phẩm của họ mới hay, mới tinh lọc, mới trở thành trân chu bảo ngọc. Trong lịch sử văn học Việt Nam, nào thiếu gì những thi sĩ xuất chúng, tên tuổi được hậu thế nhắc đến như những thành tựu viên mãn nhất của thơ ca tiếng Việt, thế nhưng đời sống cá nhân của họ lại là những tấm gương cực kỳ gương mẫu. Hình ảnh những tên đàn ông đầu bù tóc rối, áo quần xộc xệch, rượu chè, hút sách, nói năng gàn dở ngông nghênh, mặt mày đăm chiêu lãng đãng, yêu đương mê đắm cuồng si... mà người đời vẫn hình dung, vẫn vẽ ra, để chỉ chủng loại nghệ sĩ (văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ...) thường ít nhiều làm méo mó chân diện mục thực sự của họ. Cuộc đời muôn màu muôn vẻ, con người cũng thiên hình vạn trạng, ở bất cứ lĩnh vực nào, không cứ gì nghệ sĩ, sự sinh động và đa dạng của con người đều hiển lộ đầy đủ. Nhưng sở dĩ bọn nghệ sĩ bị lưu ý nhiều, trở thành hình tượng tiêu biểu, có lẽ vì họ là người của quần chúng. Nhiều chuyện quá tầm thường, quá phổ biến (yêu nhau, bỏ nhau chả hạn), nhan nhãn hàng giờ hàng ngày ở mọi nơi trên trái đất, không ai để tâm, ngoài một số bà con bè bạn thân gần. Thế nhưng cũng sự cố đó, nếu xảy ra trong giới nghệ sĩ, lập tức trở nên ồn ào. Báo chí, sách vở, truyền thanh, truyền hình... viết, nói về, tường thuật về, với những suy diễn, phỏng đoán, kết luận... có khi chính kẻ trong cuộc nghe, đọc, cũng phân vân không hiểu có phải hình ảnh người ta tô vẽ kia có phải là mình chăng?
Viết những điều trên, tôi cốt chứng minh gã "tay chơi" Cao Đông Khánh, tên bợm nhậu kỳ phùng địch thủ này đã là như thế, cứ là như thế, từ lúc biết cầm ly rượu, đến khi từ giã cõi đời. Hắn làm thơ, và hắn nhậu. Tách bạch, Không vì hắn làm thơ nên phải nhậu, hoặc nhờ nhậu mới làm được thơ. Thi sĩ Du Tử Lê cả đời chưa từng nhấp một ngụm rượu, dù chỉ rượu khai vị, thức uống duy nhất của "chàng", tứ thời bát tiết, là cà phê đen. Sáng "đen" trưa "đen" chiều "đen" tối "đen", còn thức còn "đen"... Thế nhưng thơ họ Du lúc nào cũng chếnh choáng hơi men - men tình -, ngất ngây, ngất ngư đến.... tội!
Cao Đông Khánh làm thơ. Lịch sử văn học Việt Nam sau này hẳn nhiên sẽ gắn liền tên tuổi hắn với những thành quả thi ca do hắn tạo tác. Hắn là bợm nhậu cừ khôi hay chỉ quanh năm trà đá chanh đường. Hắn vợ con đàng hoàng, công ăn việc làm nghiêm chỉnh hay độc thân lang bạt, rong chơi giỏi, kiếm tiền dở... Tất cả râu ria này chỉ là chuyện phụ. Không làm cho thơ hắn hay hơn hoặc tệ ra.
Vậy, thơ và nhậu, hai "phạm trù" độc lập.
Giữa tôi và Cao Đông Khánh từng có giao tình khá mật thiết. Thế mà hắn vừa từ trần. Tôi nhớ hắn. Điều tôi nhớ nhất về hắn, không phải thơ, mà là hình ảnh tôi vừa hình dung, một tửu đồ.
Một tửu đồ!
Tôi từng nhiều lần, rất nhiều lần, cùng Cao Đông Khánh giang hồ vặt, từ hàng quán này, sang điểm nhậu nọ, suốt đêm, suốt ngày. Cách đây trên dưới mười lăm năm, thuở hắn còn ngụ cư ở Bolsa, Cao Đông Khánh là một trong vài hảo thủ của làng nhậu. Hắn nhậu khủng khiếp, hũ chìm hũ nổi, túy lúy càn khôn, nghiêng ngửa thiên địa. Càng nhậu, chất Nam bộ trong hắn càng hiển lộ rõ rệt. Bạt mạng, hào sảng, ngang ngược, bất cần, và (xin lỗi các vị nữ lưu) chửi thề, văng tục như máy. Điểm đặc biệt nhất, làm nên con người Cao Đông Khánh, tạo thành dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn bè cũng như những ai từng có dịp tiếp xúc với hắn, đó là, khi say, hắn đọc thơ. Càng say, càng đọc hay. Cực hay. Đặc biệt hơn nữa, hắn chỉ đọc thơ của mình (tất nhiên), và thơ Tô Thùy Yên. Tôi chưa từng thấy có ai lột tả được trọn vẹn cái bức bối, cái hào sảng, cái bi tráng của thơ Tô Thùy Yên, ngoài Cao Đông Khánh. Cũng như chưa từng biết có ai đủ khả năng biến những con chữ vốn dĩ rất dung tục, rất đầu đường xó chợ, rất ngã ba Hàng Xanh, rất ngã năm Chú Ía... trong thơ Cao Đông Khánh, ngoài chất giọng và cách đọc của chính hắn, tác giả.
Cao Đông Khánh đọc thơ của mình hay, đọc thơ Tô Thùy Yên hay, có lẽ vì cả hai cùng sinh trưởng tại miền Nam. Trong tác phẩm của họ, từ ngôn ngữ đến phong cách, đều ăm ắp chất Nam bộ. Dù, nếu phân tích kỹ lưỡng hơn, chúng ta vẫn thấy ở thơ Tô Thùy Yên còn tồn tại cái óng ả, cái “trí thức” (xin độc giả hiểu chữ trí thức ở đây trong ngoặc kép) của ngôn ngữ văn học miền Bắc. Ở thơ Cao Đông Khánh, thứ chữ nghĩa óng chuốt, điệu đàng ấy bị khai tử triệt để.
Ngôn ngữ thơ của Cao Đông Khánh là ngôn ngữ nói, giữa anh Sáu Mỹ Tho với chị Tư Cầu Muối. Đại loại theo kiểu: “Nhớ em như nhớ nhà”, mộc mạc, trần trụi, thô vụng, bộc trực, tỉnh rụi. Không màu mè riêu cua, không thêm mắm dặm muối, không hành ngò ớt tỏi.
Nhớ em như nhớ nhà. Bốn chữ này, nếu đứng độc lập một mình, tất nhiên không thể gọi là thơ. Thế nhưng kỳ lạ thay, qua phù phép của mình, Cao Đông Khánh đã biến chúng thành thơ, đã thổi vào chúng một linh hồn, một sứ mệnh, khiến chúng phập phồng thở. Sinh động, gợi mở và thi vị.
Đêm. Gió. Cây. Trời. Hồn nhiên
tình cờ ngọn lá quạt giọt nước nhẹ
khắp nơi nào cũng nhớ em như nhớ nhà
Nhớ em như nhớ nhà
Cố nhiên điều anh nói chẳng ai tin, kể cả, khi em lang chạ với người đàn ông đó cùng một kiểu như với anh; căn phòng ám khói than củi nấu ăn, tấm kính to soi hai đứa nằm đối và kể cả cái giường và bất cứ cái gì... cũng đổi, thay áo rách em mặc thời trang.
Nhớ em như nhớ nhà.
Cũng có khi nhớ em như hồi mới gặp nhau, rất nhiều điều đâu cần tỏ rõ, mà yêu em tận tường, buổi sớm mai hôn em trong vườn trái cây, dụ dỗ em, chỉ dạy em ân ái.
Nhớ em như nhớ nhà.
Em chạy xuyên qua nhiều nhân vật mặc quân phục, ngơ ngác gọi tên anh, nắng là nơi em đứng hồn nhiên giữa thành phố công bố, “anh ơi em nhớ anh”. Bởi vì trong cùng cực dĩ vãng đã tận tường, chẳng phải chỉ những ám ảnh nhục thể sung sướng; còn ví dụ như, quyển sách trên đầu giường, em ngủ như đứa bé, ví dụ như, anh giận dữ sau những cúi đầu gật gật dạ dạ thưa thưa làm em khóc.
Nhớ em như nhớ nhà.
Bằng vào thiện tâm và bằng vào thù hận, cùng một lúc với sự chính xác của anh yêu em không tưởng được, thông qua, anh ghi nhận, là chính nơi sự suy vi của ngôi nhà đã đổi chủ.
Một bài thơ
Chẳng thể như một sự tình cờ chút nào,
Mà sự thật rằng
Anh nhớ em như nhớ nhà em ơi.
(Từ nơi yêu dấu, tr 5. Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn, 1997)
Không dừng lại ở cách dùng chữ mộc mạc, thô vụng, tỉnh rụi..., Cao Đông Khánh đi xa hơn, hắn thoải mái ném vào thơ một số từ ngữ ngay cả những độc giả “cấp tiến” nhất cũng giật thót mình, để rồi lập tức sau đó, đỏ mặt xấu hổ. Độc giả đỏ mặt xấu hổ không phải vì những chữ dùng ấy thô lỗ tục tĩu quá, mà chỉ vì cảm thấy có lỗi do cái tâm đục của mình, trong lúc chính tác giả, chủ nhân của những từ ấy, lại rất đỗi hồn nhiên, trong sáng. Đối với Cao Đông Khánh, mọi từ đều có giá trị như nhau, vấn đề không phải nên hay không nên dùng, mà giản dị là dùng như thế nào, dùng với mục đích gì, dùng ở đâu.
Mở cửa New York, San Francisco, Seattle, Houston
Mở cửa Đồng Tháp Mười, Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau, Cái Răng, Cái Tắc, Cái Vồn
Trên nóc cao ốc trùng trùng đàn ông.
Chót vót điệp điệp đàn bà, Cái Lớn, Cái Bé những bái vật muôn năm trong gốc gác con người
Cái Răng, Cái Tóc. Cái Lồn. Cái Hồn Vía còn tươi
Kẻ di tản đã ra khỏi đường chân biển
Và bao nhiêu đường chân trời.
Không ai nhớ rõ
Đi hết ánh sáng. Đốt lửa ngoài giới hạn...
(Cánh đồng trầm thủy, tr. 311. Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn)
Xin lỗi, tôi vừa đẩy ngòi bút phiêu lưu khá xa ra “ngoài giới hạn”.
Nhắc lại, mục đích của tôi không nhằm viết về thơ Cao Đông Khánh. Tôi chỉ muốn đề cập đến con người hắn, cá tính hắn, cung cách sống của hắn. Đó là một con người, một cá tính và một cách sống, theo chủ quan tôi, thật đẹp. Đẹp và giàu có. Đẹp và mầu mỡ như đất đai miền Nam, nơi hắn đã sinh ra, lớn lên.
Trở lại chủ đề chính.
Ngoài “đức” nhậu và khả năng mê hoặc khi đọc thơ, Cao Đông Khánh còn một “đức” khác, độc đáo không kém. Đó là “đức”... đập lộn. Tuy nhiên, xin độc giả yên tâm, thi sĩ của chúng ta chỉ đấu võ mồm, tuyệt chưa bao giờ tôi thấy hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với ai, kể cả... tôi, một kẻ rất dễ bị đập, vì thường phát ngôn không lấy gì làm cẩn thận cho lắm!
Một lần tại nhà tôi, giữa cuộc nhậu, trong lúc đọc thơ, Cao Đông Khánh cao hứng lý giải thơ của mình.
Khi hắn đọc đến đoạn thơ:
Sài Gòn Chợ Lớn mưa như chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về Xóm Chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
Trái cây quốc cấm dấu trong lòng
Hỏi thăm cho biết đường ra biển
Nước lớn khi nào tới cửa sông
rồi giải thích đại ý rằng sau bảy lăm, những người đàn bà đi buôn lậu từ miền Tây lên Sài Gòn, thường qua mặt công an kinh tế bằng cách dấu mọi thứ hàng hóa trong người. Ví dụ nếu buôn trái cây, họ sẽ dấu các loại trái vào ngực giả làm ... vú. Lần ấy tôi đã nổi sùng la lối: “Đoạn thơ hay như thế, gợi mở như thế, khoáng đạt như thế, sao mày nỡ bó chúng lại bằng cái cách lý giải nhà quê không chịu được của mày, hử?” Thế là Cao Đông Khánh điên tiết, chửi thề văng tục không thua bất cứ tên du đãng cầu Ông Lãnh chính hiệu nào, và, như hàng trăm lần khác, hùng hổ đòi... đập lộn, rồi đùng đùng vào xách va li, quần áo, giày dép bước ra khỏi cửa, sau khi ném lại một câu xanh dờn: “Đụ mẹ, mày ngu như con bò, tao nể mặt anh em, tha không đập mày vỡ mặt. Từ nay nhớ cạch tao ra...”...Nhưng ra đến lề đường, đứng lơ ngơ chừng mươi mười lăm phút, nhìn ngược nhìn xuôi, chẳng thấy ai đoái hoài, bạn bè bên trong tiếp tục chén chú chén anh, tiếp tục đấu hót tưng bừng, người hùng của chúng ta tức tối khăn gói... qui hồi vị trí cũ, mặt mày đằng đằng sát khí, dõng dạc: “Cóc nhậu với chúng mày nữa, ông ngủ”. Và lăn đùng ra thảm, nửa phút sau, ngáy như sấm. Riêng khoản ngáy và nghiến răng, Cao Đông Khánh có thể so tài ngang ngửa với nhà văn Cao Xuân Huy. Khiếp, nếu chẳng may ban đêm bị nhốt chung phòng với hai vị này, chúng ta có rất nhiều khả năng thức trắng !
Một lần khác, trong quán nhậu, sau khi đã đổ vào bao tử chừng nửa tá Budweiser, Cao Đông Khánh đòi đọc thơ. Tôi can: “Trong quán, toàn bọn trẻ, chúng chả biết gì thơ với thẩn đâu, đọc làm quái gì”. Người hùng tất nhiên không cho lời khuyên ấy hữu lý. Anh xiêu vẹo đứng lên, ngẩng mặt, khoa tay, bắt đầu “tra tấn” thiên hạ bằng cái chất giọng miền Nam rặc, đã mềm nhão hơi men.
Bàn bên cạnh, một đám trẻ nhìn qua. Có đứa lên tiếng: “Thôi đi ông ngoại, làm ơn ngồi xuống cho chúng con nhờ”. Ông ngoại cụt hứng, ném tia nhìn Võ Tòng sát tẩu vào đám trẻ: “Có câm họng không, nhóc tì.” Đấng nhóc tì bị chạm nọc, đứng bật dậy, xổ tiếng Đức ngọt lịm: “Fuck you, ông ngoại nói gì nói lại coi?” Tôi hoảng vía. Không xong rồi, dù từng xuất thân đầu đường xó chợ, nhưng sau mấy mươi năm văn không ôn võ không luyện, tuổi tác lại đã xấp xỉ ngũ tuần, chân yếu tay run, chỉ cần một nhóc tì vung nắm đấm, thì dù song thủ hợp bích, tôi với người hùng cũng sẽ nhanh chóng văng bắn ra cửa như hai bịch gạo rách! Trầm trọng hơn, tôi đoán chín mươi chín phần trăm trong thắt lưng của mỗi nhóc tì làm gì cũng có một con chó lửa, cương với chúng, rất nhiều khả năng về chầu ông bà ông vải, mang theo mấy hòn đạn chì trong người! Bèn vội vàng kéo người hùng ngồi xuống, rồi sà qua bàn các đấng nhóc tì, trổ tài thuyết khách. Đầu tiên, tôi gọi chủ quán đưa gấp ra một “xâu” bia mới, mỗi đấng một chai, kể cả tôi. Xong, tôi nâng chai hồ hởi: “Anh em cả mà. Ông bạn goa tửu lượng cóc cắn, say bét nhè nên phát ngôn bừa bãi, mặc mẹ thằng chả, lát goa đưa thằng chả về. Giờ, nhậu tiếp cái đã. Nào, mình nâng chai cùng một phát làm quen nhé.” Không khí bớt căng thẳng, các nhóc tì chịu ngồi xuống, nâng chai. Cao thi sĩ dĩ nhiên nào đã chịu yên, hắn nhào qua, tiếp tục quậy. Tuy nhiên, dân nhậu vốn dễ cảm thông và đa phần đều hào sảng, rộng lượng. Sau khi tôi đã kết nghĩa đào viên được với đám trẻ, chúng dễ dàng chấp nhận trò chơi mới: chịu khó ngoan ngoãn ngồi nghe ông ngoại đọc thơ. Dứt bài, chúng cũng vỗ tay chí chát, cũng "Tới quá ông ngoại, cạn đi rồi tiếp tục ông ngoại", dù tôi biết tỏng, với khả năng tiếng Việt giả cầy của chúng, chửi tục hẳn không thua ai, nhưng nghe và hiểu thơ thì coi bộ... tuyệt vọng!
Tóm lại, trong Cao Đông Khánh có hai con người. Con người thi sĩ và một gã giang hồ. Con người thứ nhất, xin để văn học sử đánh giá, xếp loại. Tôi không đủ khả năng lượng định, dù tôi vẫn tin thơ hắn đã ghi dấu mốc cực kỳ quan trọng cho một giai đoạn của nền thơ ca Việt Nam, cả trong lẫn ngoài nước. Cao Đông Khánh tạo được cho riêng mình một bản sắc, một ngữ vựng, một phong cách. Thơ hắn không thể lẫn với bất cứ ai, từ trước. Điều ấy tưởng dễ dàng, lại hết sức khó khăn. Chúng ta vẫn thường thấy xảy ra trong văn học mỗi thời đại, mỗi giai đoạn, một số nhà văn nhà thơ cùng có với nhau một mẫu số chung, hít thở với nhau một bầu khí, sử dụng cùng nhau một loại ngữ vựng, chia xẻ với nhau một phong cách, cũng như thói quen chọn lựa rập khuôn một số đề tài sáng tác. Hầu hết những nhà văn nhà thơ này vì không có bản sắc riêng, họ dễ dàng bị thời gian đào thải. Chỉ số ít người vượt thoát được sự đồng dạng, đồng phục ấy, bằng tài năng vượt trội, bằng nỗ lực khai phá thực sự, mới tồn tại được.
Kẻ thứ hai, gã giang hồ trong Cao Đông Khánh, như tôi đã trình bày, là một tay chơi đúng nghĩa, một tên bạt mạng thượng thừa.
Vì cảm tình riêng, tôi lệch lạc nghĩ, con người thứ hai này quan trọng hơn, thắm thiết hơn,nghĩa tình hơn. Dù tôi hiểu rất rõ hai con người này luôn bổ túc, hổ tương cho nhau, làm nên nhân cách người, cũng như nhân cách thơ Cao Đông Khánh.
Trong nghĩa ấy, Cao Đông Khánh và thơ và rượu, là một.
*
Chị Ngọc Anh,
cho tôi chân thành gửi lời chia buồn đến chị. Lẽ ra, tôi phải sang với anh ấy ngay khi nghe hung tin. Nhưng khổ nỗi, trước anh ấy một tuần, tôi cũng đã vào nhà thương vì “tai nạn” giống như anh ấy. May mắn, “tai nạn” của tôi không đến nỗi trầm trọng, tuy nhiên, sức khoẻ chưa hồi phục hẳn, đi xa, khó khăn quá. Không đi được, đành ngồi đây, gõ những dòng này, xin chị xem bài viết như nén tâm hương, tôi bùi ngùi thắp trước bia mộ anh.
Tôi vẫn còn nhớ rất rõ, trong nhiều trận nhậu, chị ngồi cạnh khi Cao Đông Khánh đọc thơ, thỉnh thoảng anh ấy vấp váp ngập ngừng vì quên. Chị nhanh nhẹn và nhỏ nhẹ nhắc chậm từng chữ, từng câu. Hình ảnh thực âu yếm, cảm động.
Hẳn nhiên, chưa có ai thuộc thơ anh ấy bằng chị, mê thơ anh ấy bằng chị. Và cũng hẳn nhiên, trân trọng yêu mến con người cùng tài năng của anh ấy bằng chị.
Thơ ca, văn học, nghệ thuật Việt Nam thành tựu, tồn tại đẹp đẽ như ngày hôm nay, một phần rất lớn, nhờ những người đàn bà, những người vợ như chị.
Cảm ơn chị, cảm ơn những người vợ nghệ sĩ đa phần bất hạnh nhưng cực kỳ trân quí, như chị... Chị đã "chịu đựng" anh ấy bằng tấm long thủy chung và rộng lượng của một người vợ yêu chồng. Cao Đông Khánh làm việc kiếm tiền dở, nhưng rong chơi lại rất giỏi. Mọi chuyện, từ kinh tế đến tề gia nội trợ, nuôi dạy con cái, một tay chị gánh vác!
Tôi lẩn thẩn nghĩ, hàng năm, ở mọi nơi trên thế giới, người ta thường tổ chức trao giải thưởng văn xuôi, thơ ca, hội họa, âm nhạc...cho những thành tựu xuất sắc của các tác giả. Lẽ ra, bên cạnh những giải thưởng này, phải có thêm một giải thưởng nữa, cho những đóng góp âm thầm của các bà vợ, như chị. Không có những bà vợ như chị, có lẽ những nỗ lực của các tác giả, sẽ gian nan hơn.
KHÁNH TRƯỜNG
(Hợp Lưu số 57 tháng 2&3 năm 2001)
Cao Đông Khánh vẽ bởi Đinh Cường
****
Các nghệ sĩ ăn nói kỳ thú lắm
Một nhà văn đi uống bia chỉ ngồi quay mặt vào tường không cùng ai cả
Tôi thấy vậy hỏi một ông nhà thơ là ông đó sao vậy
Ông này nói đó là cái thú riêng mếu như ông ấy trèo lên cây uống cũng vậy thôi
Lại có một lần ông nhà văn ấy đang độc ẩm bia có một chàng bặm chợn khó chịu khoe doạ mình mới mãn hạn mười hai năm tù
Ông khẽ trả lời là cậu tù it hơn tôi nhiều
Tôi đã tù 70 năm nay rồi
Hoàn Đỗ
****
Lần gặp nó lần cuối trong một buổi đọc thơ ngồi uống rượu bàn chót ..lặng lẽ nó rót cho mình một ly.. tới phiên tao ...nó lên đọc thơ ... xuống uống .
Mày có. biết tại sao tại sao tao đọc lớn không ...không ..tụi nó chê thơ tao dở..
Mày có biết tao là ai không...không !
Tao là L.A .. bạn mày... Nó quì xuống sàn lạy Tao lậy mày...bạn tao mày mới mang tao về nhà mày uống rượu ..tao điên rồi..
Thẳng bạn học hay chửi đù mẹ
Con Cao Đồng Hưng chuyên bán rễ nhàu ...
Lê Anh Phong
Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018
NHẠC CẢI BIÊN THỜI TUỔI THƠ TÔI
Chúc ace SS một cuối tuần vui vẻ 💖🌹
ACE nào còn nhớ bài nào thì bổ sung thêm nhé . Cám ơn 💖
NHẠC CẢI BIÊN THỜI TUỔI THƠ TÔI
Vào những năm 1959-1960, tuổi thơ của chúng tôi thời đó thường tụm năm tụm ba lê la trong xóm chơi đùa. Trong lúc chơi đủ các “món”, thì ca hát là một phần không thể thiếu. Với tuổi thơ dại có biết gì về âm nhạc đâu nhưng hổng biết từ đâu mà có và chúng tôi truyền miệng nhau mà hát những câu nhạc cải biên. Nhạc cải biên (tôi thích dùng từ này hơn từ "nhạc chế" mà hiện nay hay dùng, vì nghe hợp lý hơn) là những bài hát đặt lại lời ca mới, dựa theo giai điệu những bài hát quen thuộc có sẵn. Thường lời hát cải biên lại có tính vui nhộn, trào phúng. Các bài hát được cải biên phải là những bài hát nổi tiếng, được nhiều người biết, có vậy thì nghe lời mới cải biên nó mới… đã!
# Sau đây là những bài nhạc cải biên xưa:
Bài “Kiếp nghèo” của Lam Phương:
Đường về đêm nay vắng tanh
Dạt dào hạt mưa rất nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh
Lầy lội qua muôn lối quanh
Gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh
Nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi…
Được cải biên lại thành:
Đường về đêm nay tối thui
Mà sao cô không thấy tui
Cô đụng tui cô nói tui đui
Đường về đêm nay tối thui
Mà sao cô không thấy tui
Cô sờ tui cô nói tui cùi …
# Bài “Gạo trắng trăng thanh” của Hoàng Thi Thơ:
Ai đang đi trên đường đê,
Tai lắng nghe muôn câu hò đế mê…
Cải biên lại thành:
Ai đang đi, trên cầu Bông
Té xuống sông ướt cái quần ny-lông
# Bài “Khúc ca ngày mùa” của Lam Phương:
Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác…
Cải biên lại thành:
Cười lên đi cho răng vàng sáng chói
Hát lên đi để cho đời le lói…
# Bài “Hòn vọng phu 1” của Lê Thương:
Qua thiên san kìa ai tiễn rượu vừa tàn
Vui ca xang rồi đi tiễn binh ngoài ngàn
Người đi ngoài vạn lý quan san
Người đứng chờ trong bóng cô đơn…
Cải biên lại thành:
Một – hai – ba thằng cha bán kẹo què giò
Một – hai – ba thằng cha bán kẹo què giò
Còn một giò đi kéo xe lôi
Còn một giò đi kéo xe lôi…
# Bài “Tàu đêm năm cũ” của Trúc Phương:
Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga, đưa tiễn người trai lính về ngàn
Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay…
Cải biên lại:
Trời đêm dần tàn, tôi lấy Honda, tôi dắt nàng đi ra nhà hàng
Cầm chắc năm trăm, tôi hỏi này nhiêu đây được chăng?
# Bài “Rước Tình Về Với Quê Hương” của Hoàng Thi Thơ:
Anh xin đưa em về
Về quê hương ta đó
Anh xin đưa em về
Về quê hương tuyệt vời
Đèn trăng treo tuốt trên cao
Ánh sao như muôn ngọn nến
Lập lòe đom đóm hoa đăng
Rước dâu em đi vào làng…
Được cải biên thành:
Anh đưa em đi chùa
Chùa hôm nay có chuối
Anh đưa em đi chùa
Chùa hôm nay có xoài
Thầy lo nhắm mắt Nam mô
Anh lén đưa tay vồ chuối
Thầy lo nhắm mắt Nam mô
Anh lén đưa tay chụp xoài . . .
# Bài “Tiếng hát quê hương” của Y Vân, Xuân Lôi:
Có cô gái miền quê hát bài ca
Giữa hoa lá xanh tươi bên làn gió
Thôn xóm nhà khi nắng tà
Êm êm trong muôn câu hò…
Được cải biên thành:
Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua
Lắc ba cái ra ba con gà mái
Chung hết tiền, thua hết tiền…
Chắc chắn là các bạn đồng trang lứa với tôi đều biết và nhớ những bài hát cải biên này.
Tôi muốn kể thêm về những bản nhạc ngoại do "bà con cô bác" cải biên lời dựa trên nhạc chứ không chỉ là nhạc nội, thường lời cải biên không ăn nhập gì với lời gốc, nhưng mà vui dễ sợ và được nhiều người thuộc lòng còn hơn cả bài được chuyển lời Việt đàng hoàng.
Bài gốc là một bài hát Ai Cập, có tựa đề là “Mustapha ya Mustapha”, rất thịnh hành vào thập niên 1950, 1960. Được cải biên lại:
Cắc chú Ba Tàu, thằng nào cũng như thằng nấy
Thằng nào không giấy, đá cho nó bay về Tàu…
Hoặc:
Cái đít Ba Tàu, thằng nào cũng như thằng nấy
Thằng nào dơ dáy, đá cho nó bay về Tàu…
Bài “Auld Lang Syne” nổi tiếng phát xuất từ nước Anh khoảng thế kỷ 18. Bài Auld Lang Syne được cất lên gần như trên toàn thế giới vào dịp giao thừa, với ý nghĩa báo hiệu một năm cũ đã trôi qua, năm mới vừa đến. Được cải biên lại:
Ò e, Rô-Be đánh đu
Tặc-dzăng nhảy dù
Xe tăng bắn súng
Chết cha! Con ma nào đây?
Tặc-dzăng hết hồn
Thằn lằn cụt đuôi…
Còn trong các sinh hoạt đoàn thể, theo tôi nhớ, mỗi khi kết thúc người ta thường hát như vầy:
Giờ đây, anh em chúng ta
Cùng nhau kết đoàn
Một nhà thân ái
Cách xa, nhưng ta hằng mong
Rồi đây có ngày
Mình lại gặp nhau…
# Ca khúc “Khi xưa ta bé” (Bang bang – lời Việt Phạm Duy):
Khi xưa đôi ta bé ta chơi
Đôi ta chơi bắn súng khơi khơi
Chơi công an đi bắt quân gian
Hiên ngang anh giơ súng ngay tim: Bang! bang!
Cũng được cải biên nhưng hơi thô tục:
Khi Xưa đôi ta bé ta ngu
Đôi ta chơi bắn súng cao su
Em hiên ngang đem nhắm ngay C..
Bang Bang
Anh đã sưng vu bang bang …
Bài “Orquesta Aragon de Cuba – Que rico bacilon” với điệu Cha cha cha rất thịnh hành. Trẻ con chế lại :
Cha cha cha! Ma-ní lấy chồng Chà-và!
Cha cha cha! Ma-ní lấy chồng Chà-và!
Sau đó ít lâu, lại có lời mới (chắc không phải do trẻ con đặt) nghe phê hơn, như vầy:
Buông tui ra! Tui đã già rồi mà!
Tui không buông! Tui cũng già bằng bà!
Hồi đó tui nghe (và hát) thấy vui ghê, nhưng chưa thấm ý. Bây giờ già rồi, ngồi lẩm nhẩm hát lại mới thấm ý và lấy làm khoái chí quá. Tôi đứng lên nhảy và hát:
Buông tui ra! Tui đã già rồi mà!
Tui không buông! Tui cũng già bằng bà!
😂😂😂😂
(LTN)
fb DO Thi Tuyet Phuong
Nguyễn Hoàn Ngọc Tuyết
****
Denis Lê
****
Linh Curry
Chiều ơi! Lúc chiều về bà vãi đi tu , ong thầy chùa ngồi khoc huhu. oi.. Chiều ...
bài Tết Trung Thu k?
Tết Trung Thu Má đòi đi tu, Ba ở nhà Ba khóc lu bù. Thằng cu Tí cũng đòi đi theo. Hai Má con tu chung 1 Chùa
Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018
BÔNG LÚA CHÍN LÀ BÔNG LÚA CÚI ĐẦU
Thành ngữ Nhật: – 実(みの)る程頭(ほどあたま)の下(さ)がる稲穂(いな.
"...Câu thành ngữ của người Nhật :"Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu " chính là từ các thế hệ đi trước muốn răn dạy thế hệ sau hãy làm người và sống như bông lúa. Lúc bông lúa bị sâu bệnh hạt bị lép bông lúa sẽ vươn lên đứng thẳng còn khi bông lúa được mùa và trĩu bông, bông lúa sẽ cúi đầu, con người cũng vậy khi khó khăn hãy vươn lên đứng thẳng còn khi thành công hãy biết cách cúi đầu và không kiêu ngạo.
Chính triết lý về bông lúa ấy đã được lưu truyền và làm nên một nước Nhật như ngày nay, một nước Nhật khiêm nhường, một nước Nhật biết đứng lên làm cả thế giới phải ngưỡng mộ..."
Văn hóa cúi đầu của người Nhật
"...Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu " được người Nhật áp dụng vào rất nhiều trong cuộc sống, khi chào hỏi người Nhật dùng tư thế cúi đầu đặc biệt của mình để thể hiện sự tôn trọng đối phương. Trong rất nhiều trường hợp cúi đầu còn thể hiện sự biết ơn hay xin lỗi của người Nhật, người Nhật cúi đầu giống như bông lúa cúi đầu vậy.
Nguồn:http: traumvietnam/thanh-ngu-nhat-bong-lua-chin-la-bon…
Fb Gia Nguyễn
29/9/2018
Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2018
Y ĐỨC
Phương châm của ngành y Việt Nam ngày nay là:
Y đức cứ làm dân thêm Ức đi!
Chuyện lãnh đạm với người bệnh và né trách nhiệm đã xảy ra từ những năm 1980, khi đó Kaoh là cán sự Y dược đóng ở Daknong, Gia nghĩa. Chuyễn viện khẩn cấp cho anh Phan Văn Ngừng vì cơn sốt xuất huyết ác tính, đơn vị không có xe trù bị đành dùng xe khách, vì có công lệnh nên xe khách không dừng đón thêm người trên lộ trình. Tuy vậy mà anh Ngừng vẫn có triệu chứng xuất huyết càng lúc gia tăng. Kaoh phải liên tục cầm máu và giữ cho anh luôn ở tình trạng không hôn mê, bấm huyệt làm đủ mọi phương pháp để anh đủ sức về đến bệnh viện Bình Dương cấp cứu.
Nhưng đến trước cửa họ không cho vào, hết y sỹ, y tá rồi bác sĩ nghe tim, sờ ngực anh. Sau đó họ cho biết bệnh viện không còn giường và yêu cầu đưa về thành phố. Anh ấy ngừng thở! Nước mắt của Kaoh vô cùng phẩn uất cho anh cứ tuôn trào. Anh đã nghe tôi cố gượng sống để về bệnh viện tỉnh, và sau khi nghe họ nói "hết giường" thì anh nói hãy đưa anh về nhà: "anh muốn về nhà lắm"
Và anh tự mình đi không đợi...Kaoh rất buồn về "Y đức xã hội chủ nghĩa" ký ức khó phai mờ.
Fb Kaoh Hmin Neugyn
* Liên quan đến chuyện một thiếu niên 19 tuổi bị viêm tụy cấp, gia đình tố giác bệnh viện đã lề mề không cấp giấy chứng nhận medic report để đem sang Mỹ chữa bệnh
Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018
KINH NGHIỆM NHIẾP ẢNH
===============================
1) Hãy luôn ghi nhớ mang theo pin dự phòng, thẻ nhớ, dây bấm mềm, chân máy và các dụng cụ khác cần thiết cho những chuyến chụp xa. Có thể mỗi thiếu sót trên sẽ đem lại cho bạn vô vàn sự nuối tiếc.
2) Hãy cân nhắc dừng đầu tư "nâng cấp" thiết bị ảnh với mục đích giải trí nếu điều đó ảnh hưởng đến tài chính của gia đình trừ khi thiết bị đó là công cụ phục vụ kế sinh nhai của bạn.
3) Ưu tiên mua thiết bị cũ của người quen nếu nguồn tài chính của bạn không dư dả và hãy mua thiết bị mới từ những đại lý uy tín dù giá cả có thể đắt hơn chút ít nhưng bạn sẽ yên tâm về nguồn thiết bị và chế độ bảo hành nghiêm túc.
4) Đừng nên đi chụp ảnh trong tình trạng tâm lý bất ổn bởi bạn sẽ chẳng có một tấm ảnh nào ra hồn cả đâu. Hãy thu xếp trước chuyến đi để sao tâm trạng được vui vẻ, sản phẩm ảnh của bạn sẽ tràn đầy cảm xúc.
5) Chấp nhận thoải mái khi có người khác không muốn chơi với bạn trong cộng đồng chơi ảnh. Có thể ngưòi ta không nói cho bạn biết lý do đâu và bạn cũng không cần phải quá suy nghĩ làm gì.
6) Trong những dịp cao điểm của mùa vụ chụp ảnh tại một nơi nào đó, hãy thức dậy sớm và di chuyển đến đó để có được vị trí ưng í trước khi có quá đông những người như bạn có mặt.
Nếu vì lý do nào đó bạn không thể có vị trí thuận lợi để chụp vì có quá đông ngưòi đến điểm chụp sớm hơn bạn, hãy ngỏ lời lịch sự với những người đến trước để xin ké chiếc chân máy. Và luôn nhớ bạn là người đến sau.
7) Kết hợp cả hình thức đi chụp chung nhóm và đi chụp một mình, bạn sẽ đều có những trải nghiệm thú vị.
8) Nên làm quen và chấp nhận những điều kiện ăn ở, sinh hoạt hạn chế tại những vùng sâu, xa để thuận tiện cho sáng tác hơn là ăn ở trong điều kiện cực tốt nhưng rất mất thời gian di chuyển đến điểm chụp.
9) Đến những nơi sáng tác, tranh thủ chụp một tấm check- in vào thời điểm thuận lợi vì 5 năm sau bạn sẽ vô cùng thích hình ảnh của mình của 5 năm trước đó.
10) Nếu tình cờ gặp nhóm ảnh bạn bè, nên giao lưu với anh em để trao đổi thông tin về lịch trình và kinh nghiệm hay.
11) Nếu bạn tham dự chuyên đề chụp người mẫu nào đó mà không phải mất tiền thuê người mẫu, bạn nên chụp đinh dạng Jipeg để dễ bề trả ảnh. Nếu bạn không thể dùng Photoshop để biến hóa người mẫu của bạn trở lên "lung linh" thì cũng đừng ngần ngại trả họ toàn bộ ảnh gốc định dạng Jipeg. Họ biết dùng 360 độ kia mà. Còn không trả ảnh thì bạn đã là người rất ích kỷ rồi.
12) Sòng phẳng và rõ ràng về tiền bạc trong các chuyến đi với nhóm bạn. Có thể bạn có những người bạn chơi ảnh hào phóng luôn mời bạn trong mọi tình huống nhưng đừng vì thế mà luôn nhận lời bởi có thể bạn không biết rằng mình trở thành người "thiếu tế nhị" lúc nào không hay.
13) Trong những chuyến đi xa và khó, hãy tranh thủ chụp tất cả những gì có thể chụp, đừng bỏ sót khuôn hình nào trong tầm mắt. Đôi khi bạn chỉ phát hiện sự độc đáo của tấm ảnh sau nhiều năm nữa. Đôi khi quá trình đô thị hóa nhanh đến bất ngờ, bạn sẽ có những tấm ảnh không bao giờ có thể chụp lại.
14) Sau một khoảng thời gian, nếu có thể, hãy dọn dẹp ổ cứng lưu ảnh để thêm dung lượng lưu trữ. Nhưng nếu quá trình dọn dẹp, xóa ảnh quá đau đầu và mệt nhọc hãy đầu tư thêm một chiếc ổ lưu trữ mới và đừng cố xóa ảnh nữa. Làm một ly cafe cho thư giãn là phương án tốt nhất.
15) Cấu hình máy tính của bạn có thể không cao lắm nhưng bạn nên có một màn hình màu chính xác để xem ảnh của mình và của các bạn.
16) Nguyên nhân "ngã xuống hố vôi" của những người chơi nghiệp dư thì gần giống nhau; xuất phát từ việc mượn máy ảnh người khác, được người khác tặng máy ảnh, nhu cầu ban đầu là chụp người thân, gia đình và những thứ quanh mình... nhưng con đường và đích đến của mỗi người đều khác nhau thế nên bạn hãy cân nhắc cách chơi ảnh của mình phù hợp với sở trường, sao cho vui, khỏe, đỡ tốn kém... và có nhiều ảnh đẹp nhất.
17) Mỗi người sinh ra trong hoàn cảnh khác nhau, điều kiện sống khác nhau nên hãy chấp nhận sự suy nghĩ khác biệt của người khác và hãy vui vẻ nếu họ không muốn kết bạn và giao lưu với bạn. Hãy coi là sự việc bình thường khi họ Unfriend (bỏ kết nối với bạn trên facebook)
18) Cộng đồng chơi ảnh như một xã hội thu nhỏ, ở đó có đầy đủ các giai tầng của xã hội tham gia nên nó chứa đầy đủ các cung bậc cảm xúc: hỉ, nôi, ái, ố... và vì thế bạn khó có thể làm hài lòng tất cả mọi người nên đừng cố. Ai vui thì chơi, ai không vui thì bỏ.
... Bởi đối với phần lớn những ngưòi chơi ảnh, ảnh không phải là thứ quá quan trọng trong cuộc sống của mình.
#Lamphunghiemphotos
Nguồn fb của a Lam Phu Nghiem
Ảnh Pinterest
Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018
HÃY NGỦ YÊN ĐÀ NẴNG CỦA TÔI ƠI
Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng thực dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ những chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okay, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?
Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm Hoa Kỳ lừng danh, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đầu tiên nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Hoa Kỳ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành hai năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn "viện trợ" hai Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.
Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu khó tánh ở Cổ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.
Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát ra khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.
Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:
chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
mắt hồng liệng cái ngoắt tay
dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
chập chùng xuân ảnh vải hương
ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
giả vờ châm thuốc nhâm nhi
nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.
(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán Luân Hoán)
Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa đã không về nữa. Các cô đã ra đi, bỏ lại sau lưng hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.
Các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mát. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.
Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.
Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém thực dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ căm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được Hong Kong, Philippines, và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.
Đà Nẵng của tôi sau 1975 không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước: "Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi" đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say" đã được thay bằng những những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.
Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.
- Anh sắp phải đi xa.
- Em biết.
- Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
- Anh nói với em rồi. "Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa." Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.
- Không phải. Đó là chuyện hồi chưa "giải phóng", bây giờ thì khác.
- Bây chừ anh tính đi đâu?
- Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.
- Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.
- Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.
- Anh lại hứa.
Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào: "Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi. Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì. Tôi là người đi chinh chiến dài lâu. Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu". Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để "lòng man mác buồn" nhưng là chia tay vĩnh viễn, nát tan.
Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là giòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.
Bao nhiêu năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng ở Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.
Và biết đâu, nhờ chưa về mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi. Nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.
Trần Trung Đạo
Bãi Lăng Cô
Chuyện chưa từng kể
Giáo Sư John Vu, bút hiệu Nguyên Phong, là một nhà khoa học nổi tiếng nước Mỹ thuộc trong Top 10 những người sáng tạo nhất thế giới, đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs. Câu chuyện độc đáo, sâu sắc và góc nhìn thông thái của GS John Vu này về cuộc trò chuyện thú vị với Bill W. Gates, khi họ đi giảng ở hai quốc gia lớn Châu Á. Sau khi rời chức vice president của Boeing, GS John Vu hiện là viện trưởng Viện Công Nghệ Sinh Học ÐH Carnegie Mellon, là dịch giả/tác giả bộ sách Hành Trình về Phương Ðông, Ðường Mây Qua Xứ Tuyết, Ngọc Sáng Hoa Sen, Trên Ðỉnh Tuyết Sơn,… và cuốn mới nhất 2016 là Khởi Hành. (lou bowie)
"Hè năm ngoái tôi đã đi dạy với Bill G và học được rất nhiều qua kinh nghiệm của người giám đốc điều hành doanh nghiệp này. Khi đi qua nhiều nước, chúng tôi thường xếp hàng ở phi trường. Bill quan sát: “Ông có thể thấy ở một số nước, mọi người chờ đợi kiên nhẫn cho đến lượt họ nhưng ở một số các nước khác, người ta lại thường chen lấn xô đẩy. Mua vé là đều được xếp chỗ trên máy bay rồi, vậy sao họ phải xô đẩy người khác? Dường như là giáo dục của xứ họ thiếu đào tạo phép xã giao và sự tự trọng. Nước này (1) vẫn muốn trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới nhưng cứ nhìn vào dân chúng xô bồ, hỗn loạn, chen lấn và thiếu tự trọng như thế này thì còn lâu họ mới lấy được sự kính trọng của các quốc gia khác. Họ có thể có sức mạnh kinh tế nhưng muốn đi xa hơn thì còn lâu lắm vì kinh tế là một chuyện nhưng “dân trí” lại là một chuyện khác. Không phải to tát, lớn lao là quan trọng nhưng thường những điều nhỏ bé xác định ra hệ thống giáo dục của xứ họ tốt như thế nào. Chính hành vi của những người dân xứ đó xác định ra rằng liệu nước đó có là “Ðẳng Cấp Thế Giới” (World Class) hay không ? Một con heo có thể thoa son giồi phấn nhưng nó vẫn là một con heo, phải không?”
Khi rời khỏi nước này, Bill kết luận: “Quốc gia này còn phải học nhiều vì không có hệ thống dịch vụ tốt ở đây. Cả nước đang hội tụ vào phát triển sản phẩm để xuất cảng tối đa nhưng họ sẽ không đi xa được nữa. Họ có thể hiểu kinh doanh sản phẩm nhưng không hiểu kinh doanh con người. Toàn thể nền kinh tế là về xây dựng thật nhiều cơ xưởng, sao chép mọi thứ và xây dựng nhiều sản phẩm giá rẻ nhưng không cần phẩm chất cao, nghĩa là họ không nghĩ gì đến khách hàng mà chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ. Họ muốn xây dựng mọi thứ, sản phẩm lớn, sản phẩm nhỏ nhưng họ sẽ không bao giờ thành công vì không hiểu nhu cầu của khách hàng; họ không có ý tưởng nào về sự thỏa mãn của khách hàng. Từ người quản lý khách sạn tới nhân viên phục vụ nhà hàng, từ viên chức cao cấp tới nhân công mức thấp, tất cả họ đều hành động y hệt như nhau, cứ vội vàng làm gì đó cho nhanh chóng mà không suy nghĩ. Chúng ta đã đi tìm hiểu rất nhiều cơ xưởng và nếu chú ý, ông sẽ thấy rằng phần lớn các cơ xưởng đều có giám thị người ngoại quốc và phần lớn các công ty đều có người giao dịch ngoại quốc bởi vì người của họ không thể làm điều đó. Ðó là làm kinh doanh “nửa đường,” sản phẩm không thể thành công nếu không có dịch vụ, và chính dịch vụ mới đem khách hàng trở lại.”
Một ngày ở Ðại Hàn, chúng tôi đi lầm đường cách xa chỗ khách sạn của chúng tôi vài dãy phố. Trời tối khi chúng tôi hỏi đường nhưng không mấy ai nói được tiếng Anh. Cuối cùng một anh sinh viên đi tới, anh chỉ cho chúng tôi hướng đi tới khách sạn nhưng ngần ngại: “Dễ bị lạc lắm vì có vài chỗ rẽ phải và rẽ trái… và bây giờ đã khuya rồi nên rất khó đi khi trời tối, các ông có thể bị lạc lần nữa.” Thế là anh ta đề nghị đi cùng chúng tôi tới khách sạn để chắc rằng chúng tôi sẽ không bị lạc nữa. Chúng tôi bước đi khoảng mười lăm phút tới khách sạn. Khi chúng tôi cám ơn người sinh viên, Bill đề nghị anh ta ăn tối với chúng tôi nhưng anh từ chối vì cần về nhà. Lúc đó chúng tôi thấy rằng anh ta phải đi ngược lại và trở lại chỗ chúng tôi bị lạc.
Việc là một thanh niên sẵn lòng giúp người lạ cho dù phải đi ngược lại trong đêm tối đã gây xúc động cho cả hai chúng tôi. Bill bảo tôi: “Khi một thanh niên của một quốc gia hành động như vậy, nước đó có tương lai. Quốc gia đó có ‘Ðẳng Cấp Thế Giới (World Class).’”
Theo Bill: “Ðẳng Cấp Thế Giới” không phải là nền kinh tế mạnh hay có bao nhiêu triệu phú hoặc tỷ phú, bao nhiêu đại học, nhà chuyên môn mà đẳng cấp thế giới là về cách công dân xứ đó hành động ra sao.”
(Nguồn: Hạt Giống Tâm Hồn )
‘Người Mỹ không thích mua nhà mặt tiền để ở’, đọc mới hiểu sao người ta giàu
Ai cũng đều thấy tiêu chí của một căn nhà được xem ngon lành ở Việt Nam là: mặt tiền, nhiều tầng, ngự trên một con đường càng lớn, càng đông đúc, thậm chí càng ồn ào, càng tốt… Về phong thủy, thì kiêng nhà trong hẻm cụt, phía sau có sông hồ, cửa trước thông cửa sau, cùng đủ thứ cần kiêng khác… Một căn nhà “ngon lành” trên đất Mỹ, gần như ngược lại hoàn toàn những tiêu chuẩn trên.
Ngoại trừ những thành phố lớn như New York, San Francisco, Los Angeles… nhà mặt tiền đồng nghĩa với những tòa nhà chọc trời, hẳn nhiên tấc đất tấc vàng, hầu hết tiêu chuẩn chọn nhà của dân Mỹ là ở những vị trí càng ít ồn ào, càng vắng xe cộ qua lại, càng riêng tư… càng tốt.
Trong cùng một khu nhà hiện nay, ở mức giá trung bình, người ta xây theo tiêu chuẩn: Có đường nội bộ, hai làn xe hơi; hai bên đường, trước mặt nhà trồng cây xanh; có nhà cộng đồng để lâu lâu họp mặt, hoặc cho những ai có nhu cầu tổ chức tiệc lớn có thể mượn; có hồ bơi chung cho cả khu; có công viên, sân chơi thiếu nhi, khu tập thể thao; có lối đi bộ, đạp xe; có hồ nước nhân tạo uốn lượn như thể một dòng sông, chảy len lỏi trong khu để điều hòa tiểu khí hậu; nhiều khu có rừng bao quanh- thường người ta cứ để một đoạn rừng lại tới một khu nhà, xen kẽ…
Cứ khoảng trong bán kính 15 phút lái xe lại có một quần thể với đầy đủ siêu thị, bệnh viện, trạm cứu hỏa, cây xăng, đồn cảnh sát… nói chung không thiếu thứ gì, để trong trường hợp khẩn cấp, người dân gọi 911 là 5 đến 10 phút sau ba chiếc xe cảnh sát- chữa cháy và cứu thương, có thể có mặt cùng lúc.
Và những ngôi nhà mắc nhất của khu đó thường là những nhà trong cùng, hẻm cụt (No Outlet), càng ít xe cộ chạy qua trước nhà lại càng mắc. Nhà ở Mỹ đơn thuần là để ở, không được buôn bán, mở tiệm đồ khô, chanh ớt, hột vịt… bởi vậy yếu tố “nhà mặt tiền để tiện kinh doanh” là hoàn toàn vô nghĩa.
Lâu lâu, khi đồ trong nhà dư thừa, người ta có thể trưng biển “garage sale”, mở cửa garage, tận dụng bán mấy món đồ cũ trong khoảng một buổi, trước khi gom bỏ thùng rác. Chính vì vậy, ở Mỹ người ta giãn dân rất tốt, không có chuyện tập trung ở nội thành với mật độ cao. Nội thành chủ yếu là công sở, cơ quan chính quyền, các thiết chế như bảo tàng, di tích, hoặc cao ốc văn phòng… chứ rất ít khi người ta chọn nội thành để ở.
Dân Mỹ cũng thích ở nhà trệt hơn là nhà có lầu. Rao bán một căn nhà cũ có lầu sẽ ít khách hỏi hơn so với một căn nhà trệt. Bởi mấy yếu tố: nhà trệt an toàn hơn đối với em bé và người già vì không có cầu thang. Nhà ở Mỹ thường làm bằng gỗ- phủ gạch phía ngoài, không đổ bê tông tường, sàn, nên ở lầu trên mà bước mạnh sẽ rất dễ ồn xuống lầu dưới; nhà ở Mỹ cũng để máy điều hòa nhiệt độ toàn phần, quanh năm, mùa hè làm mát, mùa đông sưởi ấm, vì vậy nếu nhà có lầu, không gian thông từ dưới lên trên, trần nhà cao lồng lộng sẽ tốn nhiều năng lượng hơn so với nhà trệt.
Một căn nhà ở Mỹ cũng rất… cá nhân. Trong nhà chỉ có một phòng ngủ lớn, dành cho hai vợ chồng, rộng mênh mông, đầy đủ tiện nghi nhất, gọi là phòng Master Bedroom. Còn lại các phòng ngủ khác, dành cho các con, khách khứa, thường nhỏ hơn nhiều, bồn tắm, nhà vệ sinh xài chung… Vì đám nhỏ chỉ ở cùng cha mẹ cho đến năm 18 tuổi là… tự giải phóng. Căn nhà ấy là của cha mẹ chúng, chúng chỉ sống tạm chừng ấy năm, trước khi tự có một căn nhà riêng.
Một căn nhà tiêu chuẩn, cửa sổ không được phép có chắn song, chỉ ráp kiếng an toàn, để khi có sự vụ bất an, người phía trong và phía ngoài có thể đập kiếng, chạy vô, chạy ra. Mặt kiếng có cảm biến, khi bể, cảm biến sẽ kết nối với hệ thống báo động và chuông sẽ reo ở… đồn cảnh sát. Khi hệ thống báo động này hú lên, cảnh sát sẽ lập tức gọi cho gia chủ, hỏi lý do.
Nếu gia chủ nói rằng kiếng bị bể là do tai nạn nội bộ, cảnh sát sẽ không tới, nhưng nếu gia chủ phản hồi, tui không biết, ngay lập tức xe cảnh sát sẽ ập tới trong khoảng 5 phút, vì trong các khu nhà thường có vài chiếc xe cảnh sát tuần tra, thay phiên nhau “lảng vảng”, có chuyện là ập tới liền. Ở những khu vực mất an toàn, gia chủ thường phải gia cố thêm song sắt ở cửa. Và một khi, căn nhà đã gắn song sắt, nó sẽ xuống giá thê thảm, bởi đó là chỉ dấu của khu thiếu an ninh và các công ty bảo hiểm cũng không dám bán sản phẩm cho mấy căn nhà ấy, bởi nếu nó… cháy, lực lượng cứu hộ sẽ đột nhập khó hơn.
Về các yếu tố phong thủy, như đã nói lướt ở trên, dân Mỹ chẳng kiêng cữ theo “chuẩn mực Á Đông”. Cửa trước và cửa sau nhiều nhà có thể nhìn thẳng một đường. Bồn nước và bếp ga có thể đặt đối nhau. Cầu thang bước lên lầu có thể nằm ngay cửa ra vô. Cây có thể trồng trực diện cửa chính. Sau nhà nếu có hồ nước, ở Việt Nam thường cho đó là thế “khuyết hậu”, dựa lưng vô… chỗ chết đuối, nhưng ở Mỹ, phía sau nhà mà có hồ, coi như nhà đại gia, giá rất cao… Và gia chủ vẫn làm ăn vù vù, chẳng khi nào thấy hao tài, hao của, bệnh tật chi hết.
Hầu hết các căn nhà ở Mỹ cũng được người ta xây theo lối công nghiệp, như làm một chiếc xe hơi. Với tiêu chuẩn cơ bản chung, kèm thêm các “gói phụ kiện”- các gói phụ kiện này cũng phải theo tiêu chuẩn, nhưng nếu chọn thêm, người làm nhà sẽ phải trả thêm tiền. Ví dụ, có thể thêm lò sưởi, mái hiên phía sau, bồn tắm, các loại bếp, các loại gạch ốp quanh nhà hay lát dưới sàn, hệ thống đèn, công tắc điện, ổ cắm… Sau khi đã chọn xong, đúng quy chuẩn là không được phép thêm thắt gì hết. Nếu muốn thêm, phải xin giấy phép, thẩm định, rất kỳ công, khó khăn và không phải khoản nào cũng được phê duyệt. Nếu tự tiện cơi nới, thêm thắt hẳn nhiên sẽ bị phạt nặng. Ngay cả việc chỉ thêm một cái bóng đèn, cũng phải có nhà chuyên môn về điện, có giấy phép đến lắp ráp- bởi nếu xảy ra việc chập cháy là gia chủ… mệt nghỉ!
Cũng có nhiều người chọn cách mua đất, xây nhà riêng theo ý mình, nhưng chi phí xin giấy phép, xây dựng thường rất cao, phải là “đại gia” thứ dữ mới dám chọn cách chơi riêng biệt này.
Trên đây là ba chuyện mình kể thêm về một căn nhà (xin lấy chủ điểm ở khu vực Houston- Texas, nơi mình sống).
Nguyễn Danh Lam sinh năm 1972. Tốt nghiệp ĐH Mỹ Thuật TP HCM. Từng công tác tại báo Khăn Quàng Đỏ- Nhi Đồng- Mực Tím TP HCM. Từng in nhiều sách. Anh hiện đang định cư tại Texas, Mỹ.
Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017
NHỮNG "MỤ" HUẾ VANG BÓNG XƯA NAY...
"MỤ" LÀ CHI RỨA ?
“Mụ” tiếng Huế có nhiều nghĩa:
- Phần lớn người Huế dùng từ “Mụ” đề chỉ người chị gái hay em gái của ôn mệ (ông bà) nội, ngoại. (Ví dụ: Em kế mệ nội tui là mụ Diễm…);- Gọi chị hay em gái “mụ chị”, “mụ dì”. Hò Huế có câu “Đây vốn thiệt là con mụ chị, cháu gọi thiếp bằng dì/ lẽ chi cháu nằm cháu khóc mà mụ dì lại không ru?”. Lại gọi “mụ o” chỉ bà cô - người phụ nữ là chị hay em của bố.
-“Mụ gia”: từ chỉ tên gọi bà sui gia (bà sui), mẹ chồng hay mẹ vợ. Ca dao Huế: “Mụ gia ba bảy mụ gia/ Thương chồng phải khóc mụ gia, gẫm tui với mụ có bà con chi!”.
- “Mụ vợ”, từ để chỉ bà vợ. “Mụ vợ tui”, tức là “người vợ của tôi”, một số nơi gọi là “nhà tôi”. “Mụ mi” từ dùng để chồng gọi vợ (ví dụ: Mụ mi ơi ra đây tui nói cái ni). Các vùng trong Nam gọi là “mình ơi”.
- “Mụ mối”: từ chỉ người làm mai làm mối cho người ta nên vợ nên chồng thưở xưa. Mụ mối là người có danh phận đàng hoàng trong xã hội cũ.
- “Mụ tra”: chỉ người phụ nữ lớn tuổi.
- “Mụ vú”: từ chỉ người phụ nữ lo việc săn sóc sản phụ và trẻ con khi vừa mới sinh.
- “Bà Mụ”, là tên gọi nữ thần phù hộ cho con nít mới sinh, thường trẻ em tròn 1 tháng tuổi người Huế tổ chức cúng đầy tháng, gọi là “Cúng Mụ”.
- Mụ (Mệ): Ngày xưa trong dòng hoàng phái, bên cạnh việc gọi người đàn ông là “mệ”, đôi khi cũng gọi là “mụ”.
- Mụ nớ: chỉ người phụ nữ ngôi thứ 3 - mụ kia. (ví dụ: Mụ nớ thiệt thà lắm).
- Mụ cô mi: cụm từ dùng để chửi rủa…
Vậy, từ “mụ” trong tiếng Huế đa phần là đại từ chỉ người phụ nữ có quan hệ thân thiết trong gia đình. Từ “mụ” khi dành để gọi người phụ nữ ngoài xã hội cũng là cách gọi trân trọng. Cũng có những từ ghép có chữ “mụ” dùng để chửi rủa, miệt thị… Từ “mụ” nhiều khi được dùng như từ “bà” ở các nơi khác (mụ nớ, bà kia)...
VÀI "MỤ" NỔI TIẾNG TRONG DÂN GIAN HUẾ
“Mụ”, “Mệ” nổi tiếng trong chốn cung đình thì nhiều, ở đây nhớ đến vài “mụ” mà dân gian nhắc mãi, như mụ Cửu Ới, mụ Liếc, mụ Rớt, mụ Đợi…
- Mụ Liếc đi vào trong tâm thức dân gian Huế là người phụ nữ mập mạp, to lớn hơn người. Có lẽ mụ là người đàn bà nặng nhất Huế xưa nay. Mụ làm nghề thầu bến đò Thừa Phủ, chuyên ngồi trên bến thâu tiền chứ không dám xuống đò vì sợ đò... chìm.
Xưa có câu đố:
“Mụ chi vóc dáng đẫy đà
Khuôn trang đầy đặn thịt thà nở nang
Ăn làm răng nói làm răng
Xích lô sợ chạy, đò ngang sợ chìm?”.
Trả lời:
“Mụ Liếc vóc dáng đẫy đà
Nặng gần hai tạ ngó mà sướng ghê
Phần trên phía dưới đề huề
Ngồi xe, xe xẹp, ngồi ghe, ghe chìm”.
- Mụ Rớt là danh nghệ chủ nhân món bún bò giò heo Huế nổi tiếng những năm 1960,1970 ở vùng Gia Hội. Hồi đó qua cầu Gia Hội, về sau lưng chùa Diệu Đế có một căn nhà nhỏ bán bún bò. Quán không đề tên bảng hiệu, vậy mà lúc nào cũng đông người tìm đến ăn bởi “tiếng lành đồn xa”. Bún bò mụ Rớt nấu rất khéo, tô bún ở hàng 'ngon nhất trần gian'. Tô bún ý nhị với những sợi bún trắng, miếng giò heo đầy đủ da, nạc, xương, cộng thêm vài lát thịt bò xắt mỏng nổi bật những đường gân trắng ngà, ớt đỏ, hành ngò xanh, chan thêm vá nước dùng trong vắt mà rất thấm đượm. Tô bún không quá lớn đúng kiểu ăn thanh cảnh của người Huế, dễ cho người ăn vừa bưng, vừa húp, vừa và xì xà xì xoạp, miệng hít hà ớt cay, vô cùng khoái khẩu.
Trong nỗi nhớ quê nhà từ phương xa, nhiều người Huế nhớ hình ảnh tô bún Mụ Rớt như niềm thương nhớ món ngon mẹ hiền xưa… Học giả Vương Hồng Sển có lần ăn xong về da diết nhớ. Trong bài “Lai rai nhớ lại những món ăn Huế”, ông kể: “Cái mụ buôn bán lạ kỳ: ăn một tô chưa thấm tháp vào đâu, vì tô có một chút nhéo. Kêu thêm tô thứ nhì, ăn lưng lửng biết mùi, kêu tiếp tô thứ ba, mụ trả lời cộc lốc: “Hết rồi”!... Một người nướng thịt biệt tài dường thế, chết thật uổng”.
Dân gian Huế có câu đố:
“Mụ chi nổi tiếng ầm ầm
Chưa đi đã té, chưa cầm đã rơi
Ngày nay mụ đã qua đời
Mà trong thiên hạ lắm người mượn tên”.
Trả lời:
“Mụ Rớt nổi tiếng ầm ầm
Ngự Viên, Gia Hội ai nhầm được tên
Tiếc thay phần số không bền
Chu du thiên cảnh sống miền thiên thai
Thế gian thương mụ nhiều tài
Bún bò tên mụ ăn hoài chẳng no”.
- Mụ Cửu Ới nổi tiếng cái món thuốc lá Cẩm Lệ những năm 1960. Không chỉ dân Thừa Thiên đều hút thuốc của mụ pha chế, ngay dân các tỉnh lân cận như Quảng Trị, Quảng Nam cũng gởi mua cho được thuốc Cẩm Lệ của mụ. Có điều thú vị là thuốc lá Cẩm Lệ lại do làng Cẩm Lệ thuộc tỉnh Quảng Nam sản xuất, mụ Cửu Ới đưa ra Huế "phù phép" thành thứ thuốc khiến người ta ghiền. Dễ đến nửa thế kỷ, thuốc Cẩm Lệ đã gắn bó với sinh hoạt nhiều gia đình người Huế từ những năm 1960…
Các mụ nói trên giờ đã đi vào cõi sương mù, cái tên Bún bò Mụ Rớt ở Huế nhiều người treo biển, nhưng là mượn danh mà thôi. May thay, món Bún bò Mụ Rớt hiện con cháu vẫn còn giữ công thức gia truyền tại Kim Long Quán ở đường Trần Quang Diệu, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
- Nhưng Huế đương đại thì hiện vẫn còn “Bánh canh Mụ Đợi”. Bánh canh Mụ Đợi nguyên thủy nằm ở con hẻm nhỏ ở đường Đào Duy Anh - Huế. Quán cũng không bảng hiệu, ấy nhưng có gần 35 năm tồn tại, lại là nơi dừng chân của đông đảo thực khách. Tô bánh canh ở đây được nấu riêng cho từng khách, khi khách đến quán mới bắt đầu nấu nước và thả bột, lấy chả, bóc tôm để đảm bảo cho tô bánh canh luôn tươi nóng. Làm vậy nên thời gian chế biến rất lâu, chờ lâu nên cái tên "Đợi" được hình thành và được truyền miệng, trở thành thương hiệu “Bánh canh Mụ Đợi”. Ngoài việc tô bánh canh chỉ có mấy sợi bột theo kiểu hương hoa, muốn ăn thêm thì phải kêu trước thêm tô nữa; nó còn có điểm khác biệt là muốn thưởng thức thật ngon thì thực khách tự mình phải thật chi ly trong vấn đề thêm gia vị. Thực khách tự mình nêm muối, bột ngọt, tiêu, tương ớt, hành ngò sao cho hợp với khẩu vị, vô cùng dân chủ, tự do.
Hiện nay thì “Bánh canh Mụ Đợi” đã được rất nhiều người biết đến. “Bánh canh Mụ Đợi” đã mở thêm vài chi nhánh ở đường Nguyễn Trãi và đường Ngô Gia Tự. Thế nhưng nhiều người vẫn muốn tìm về con hẻm nhỏ ngày xưa.
Bài, ảnh: VÕ TRIỀU SƠN
(BNQ t/h)
.......................
Chú thích ảnh:
1) Nhiều thực khách tìm đến Kim Long Quán để thưởng thức hương vị bún bò Huế ngày xưa.
2) Tô bún bò giò heo Mụ Rớt do con cháu chế biến theo công thức gia truyền nay còn lưu giữ tại Kim Long Quán, quận 3, TP. Hồ Chí Minh
3) Bánh canh Mụ Đợi, khách tự nêm nếm gia vị cho riêng mình.
CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG
Hermann Hesse
Hermann Hesse là một văn hào của văn học Đức thế kỷ XX, sống cùng thế hệ Thomas Mann, Werfel, Wassermann, & E.V. Salomon.
Hermann Hesse sinh năm 1877, được thưởng giải Nobel năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904) Demian (1919) Der Steppeppwolf (1927) Narziss und Goldmund (1930) Das Glaserlenspiel(1943).
Tất Đạt khởi từ những thắc mắc về cha mình, tu sĩ Bà la môn:
“Ông sống một đời sống tốt đẹp, lời nói thì khôn ngoan, tư tưởng thì thanh cao, tế nhị -- nhưng cả đến ông, người biết nhiều như thế, ông sống có hạnh phúc chăng? Có được bình an chăng? Ông lại không là người không ngớt tìm kiếm đó sao? Ông lại không liên tục tìm đến nguồn với cơn khát không bao giờ được thoả mãn đó sao?”…
Và:
“Thế thì linh hồn không có ở trong cha hay sao? Nguồn suối không có sẵn trong chính tâm ông sao?”
“Người ta phải tìm thấy nguồn ở ngay trong tự thân mình, phải chiếm hữu nó. Mọi việc làm khác đều là mò mẫm sai lầm.”
Đây đâu phải là ý nghĩ của riêng Tất đạt, nó là ý nghĩ của tất cả chúng ta, cái tuổi của những bất mãn về cuộc đời.
“Chàng nhìn những thương gia buôn bán, các ông hoàng đi săn, những người tang chế khóc người chết, những người kỹ nữ bán thân, các bác sĩ săn sóc bệnh, những tình nhân đang tình tự, những người mẹ đang vỗ về con. Và tất cả không đáng một cái nhìn thoáng qua, tất cả đều lừa dối: hạnh phúc và sắc đẹp đều là ảo ảnh của giác quan -- tất cả đều đưa về huỷ diệt. Thế gian đượm vị đắng cay. Cuộc đời là nỗi đau khổ.”
Chàng sống khổ hạnh, khắc kỷ như rất nhiều thanh niên đã thử trải nghiệm, dưới một hình thức nào đó…
“Chàng phiêu du qua các đoạn đường diệt ngã bằng khổ đau, qua sự đau khổ tự nguyện và chiến thắng khổ đau, qua đói khát và mệt nhọc. Chàng phiêu lưu qua những con đường diệt ngã bằng trầm tư, bằng gạn lọc khỏi tư tưởng sạch hết mọi hình ảnh. Chàng đã học trải qua những con đường này và những con đường khác. Chàng diệt ngã được một nghìn lần và có những ngày chàng đã sống trong phi ngã.”
Chàng chứng nghiệm về tu khổ hạnh, như nhiều chàng tuổi trẻ trong chúng ta đã chứng nghiệm, bằng cách này hay cách khác.
“Thiền quán là gì? Bỏ quên tự thân là gì? Nhịn đói là gì? Điều hoà hơi thở là gì? Đó là sự vượt ra ngoài Tự ngã, đó là sự vượt ra ngoài dày vò của Tự ngã trong nhất thời, những viên thuốc tạm bợ chống lại đau khổ và điên đảo cuộc đời: người đánh xe bò cũng dùng lối thoát đó, phương thuốc nhất thời đó khi ông ta uống ít chén rượu nếp trong quán; ông ta không còn cảm thấy có mình nữa, không còn cảm thấy khổ đau của cuộc đời, và như thế, ông chứng nghiệm sự thoát ly trong chốc lát. Gục trên chén rượu nếp, ông ta biết được cái mà Tất Đạt và Thiện Hữu tìm thấy khi chúng ta thoát khỏi tự thân bằng những tập luyện dài và sống trong vô ngã.”
Rồi chàng gặp đức Phật, thấy ở người vị thày thánh thiện mà mình tìm kiếm, nhưng cũng đồng thời thấy rằng phải tự mình tìm ra con đường cho chính mình. Không theo đức phật như bạn chàng là Thiện Hữu, chàng quyết định từ giã ra đi…
Chàng gia nhập cuộc đời trần thế.
Chương “Giữa Xã Hội” đầy những tư tưởng minh triết một cách lạ lùng về cuộc sống của loài người. Tất Đạt tìm hiểu và sống giữa trần thế với phong cách ung dung như một sa môn giữa chúng sinh.
Nhưng rồi chàng bắt đầu chán ghét cuôc sống đó, nó đã biến đổi con người chàng thanh tầm thường dung tục, và chàng cảm nghiệm được điều đó. Một lần nữa chàng muốn thoát ra…
Chàng sẽ tiếp tục tìm kiếm chính từ tâm tưởng mình qua một đối tác là dòng sông. Nói chuyện với dòng sông cũng là nói chuyện với chính mình.
Tất Đạt rồi cũng tìm được điều mình đã tìm
Tất Đạt về với dòng sông.
Chỉ còn người đọc là lan man phương trời miên viển
Đoạn cuối “Câu chuyện của Dòng Sông” Hesse viết khá dài, đào sâu vào tâm tưởng Tất Đạt, ông khiến người đọc tưởng như cứ nghiền ngẫm Câu chuyện của Tất Đạt với Dòng sông là có thể tìm ra Con Đường, và đọc giả có thể cứ theo đó mà đi. Quên rằng mỗi người phải tự tìm lấy dòng sông của mình, con đường của mình.
Tuyệt kỹ của Tất Đạt là “nhịn đói” và qua tuyệt kỹ đó ta càng thấy rằng chàng đúng là một “kỳ nhân”.
Nói rộng hơn nữa, con người ta mà thoát được cái say mê tiền bạc vật chất thì là tiến thêm một bước vào sự giải thoát.
Nhân vật của Hesse cho ta thấy rằng cuộc sống vật chất là hoàn toàn không đủ, không thể là cứu cánh của cuộc đời . Mục đích của cuộc đời phải tìm ở những giá trị tinh thần. Và họ vật vã đi tìm…
Ai coi “Câu chuyện của Dòng sông” là Đạo, là Con Đường Giải Thoát đều là lầm tưởng cả.
Mà ai coi Kinh Phật là Đạo, là Con Đường Giải Thoát cũng là lầm nốt vậy .
Phật đã nói: “Tất cả kinh sách đều là ngón tay chỉ mặt trăng". Sở dĩ có luận điểm ấy bởi tất cả các tông phái đều đắm chìm trong việc luận bàn kinh sách siêu hình viễn vông mà xa lìa tâm điểm là kinh nghiệm giải thoát của đức Phật.
Kinh nghiệm ấy là quan trọng nhất và tất cả những kinh sách chỉ là ngón tay để chỉ vào những kinh nghiệm ấy. Phản ứng của thiền tông là chặt bỏ ngón tay ấy mà đi thẳng vào tinh tuý của sự Giác- Ngộ.
Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ (2/2)
TÀI DANH TÂN NHẠC CỦA
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ
(bài 2 tiếp theo và hết)
Một thời để nhớ có sự tái ngộ của diễn viên hài Xuân Phát, một “quái kiệt” trong làng hài kịch tại Sài Gòn trước năm 1975. Anh có lối chọc cười tưng tửng nhưng rất duyên dáng, ý nhị.
Xuân Phát cùng Mai Lệ Huyền góp vui trong một nhạc cảnh hát nhép theo đĩa ghi âm trước có tên là Bún bò giò heo Mụ Rớt. Đây là loại kịch lipsing, ngày nay gọi là hát nhép, đã được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ áp dụng trên sân khấu đại nhạc hội hoặc phòng trà ca nhạc từ trước khi Sài Gòn đổi chủ.
Xuân Phát tâm sự với khán giả, đây cũng là thời điểm cần giã từ sân khấu sau bao năm chọc cười thiên hạ. Giờ cũng là lúc anh dành thì giờ cho gia đình nhiều hơn bên người vợ là diễn viên múa Mỹ Lệ của Sài Gòn gần 40 năm về trước. Có điều ít người biết là con trai anh ngày nay cũng đang hoạt động trong lãnh vực điện ảnh Hollywood mà khán giả Việt Nam được biết đến trong phim hành động Dòng máu anh hùng qua tên Dustin Nguyễn.
Lần đầu tiên gia đình Xuân Phát sẽ xuất hiện trong phim Lửa Phật (Monk on Fire) do Dustin Nguyễn biên kịch và đạo diễn, phim ra mắt khán giả trong năm 2013.
Cùng thực hiện có sự hợp tác của Jimmy Phạm Nghiêm (nhà sản xuất phim Dòng máu anh hùng), hãng phim Chánh Phương và tài tử Johnny Trí Nguyễn.
Một giọng hát nam, khỏe ở tuổi gần 70, xuất hiện sau vở kịch không mấy thành công của Xuân Phát – Mai Lệ Huyền. Đó là người ca sĩ xưa khi vẫn hằng ái mộ Elvis Presley, vua nhạc rock-n-roll, đến độ ngay từ khi vào nghề đã lấy tên thần tượng để mang tên Elvis Phương cho đến ngày nay.
Elvis Phương có một cuộc đời ca hát khá thành công bên cạnh Kiều Nga, em của anh và cũng là ca sĩ nổi danh một thời tại Việt Nam và sau này tại hải ngoại. Cuộc đời tình ái của Phương lại không thuận lợi như sự nghiệp.
Elvis Phương kết hôn với một cô gái gốc từ Đà Lạt nhưng người vợ đầu tiên lại vắn số, qua đời sau một tai nạn giao thông năm 1970. Ngày đó Phương đã để trên mộ vợ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi một câu khá tình tứ :
“Ngọc chết rồi Phương chơi với ai ?”.
Nhiều năm sau, khi định cư ở Hoa Kỳ, anh mới trả lời được câu hỏi ngày nào và tìm được người “chơi” chung:
Phan Lệ Hoa.
Trả lời một cuộc phỏng vấn của VnExpress về cuộc hôn nhân của mình, Elvis Phương tâm sự :
“Bạn có tin không, vợ chồng tôi suốt mấy chục năm nay chưa từng rời xa nhau. Chúng tôi nguyện được có nhau trọn đời.
Vợ tôi không quản ngại khó khăn cùng chồng đi lưu diễn khắp nơi.
Ngày trước Lệ Hoa là một doanh nhân nổi tiếng, chấp nhận gác bỏ công việc vì không muốn hai vợ chồng cách xa nhau quá lâu.
Nhờ vậy mà gia đình hạnh phúc, cuộc sống bình yên và tinh thần yên ổn. Đó là những xúc cảm để tôi có thể hát mãi cho người và cho đời”.
Phạm Ngọc Phương sinh năm 1945 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Anh học trường Tây nên thường hát những bản nhạc rock nước ngoài theo phong cách Elvis Presley.
Elvis Phương lần đầu xuất hiện trước khán giả năm 1962 tại trường dòng Regina Pacis với nhạc phẩn hoàn toàn Việt Nam:
Nửa đêm ngoài phố của nhạc sĩ Trúc Phương.
Phương tham gia nhiều ban như Rockin’ Stars, Les Vampires… và là một trong những ca sĩ tiên phong trong phong trào nhạc trẻ cùng ban Phượng Hoàng với Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Khi tuổi đã lớn, anh chuyển sang nhạc tình, nhạc quê hương.
Elvis Phương có rất nhiều các bài hát nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của anh. Người yêu nhạc nhớ đến anh qua Vết thù trên lưng ngựa hoang (trong đó có màn biểu diễn huýt sáo tuyệt vời), Mười năm tình cũ, Bài thánh ca buồn, Trả lại em yêu…
Nổi bật nhất phải kể đến những ca khúc của riêng nhóm Phượng Hoàng như Còn yêu em mãi, Yêu em, Tôi muốn… sáng tác bởi Nguyễn Trung Cang & Lê Hựu Hà luôn luôn được Elvis Phương trình diễn ra mắt lần đầu tiên trên sân khấu.
Trong cả hai phần 1 và 2 của live show Một thời để nhớ Elvis Phương đã chinh phục khán giả Melbourne với các nhạc phẩm Mười năm tình cũ, Đàn bà… xen lẫn nhạc ngoại quốc một thời được ưa thích như My Way, Si L’amour Existe Encore…
Anh còn làm phần trình diễn sống động hơn khi bước xuống giao lưu ở hàng ghế khán giả khiến các nhân viên bảo vệ phải hoạt động cật lực. Elvis Phương đã chiếm trọn cảm tình của khán giả, những người nghe nhạc muốn tìm lại… một thời để nhớ.
Một trong những ca sĩ được mong đợi nhất trong đêm Một thời để nhớ là Thanh Thúy.
Cô là người nữ ca sĩ miền sông Hương, núi Ngự có giọng hát một thời được giáo sư triết Nguyễn Văn Trung mệnh danh là “Tiếng hát Liêu trai” trong bài viết Ảo ảnh Thanh Thúy .
Đối với nhà văn Mai Thảo, người được mệnh danh là “Ông vua phòng trà” thời đó, Thanh Thúy là “Tiếng hát lúc 0 giờ” và nhạc sĩ Tuấn Huy lại gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.
Thanh Thúy bắt đầu đi hát từ năm 1959 khi mới tròn 16 tuổi. Giọng hát Thanh Thúy trầm ấm, hơi khàn và cô có lối phát âm nhả chữ rất đặc biệt. Tiếng hát Thanh Thúy có lúc nghẹn ngào, đôi khi lại như nức nở. Ngoại hình Thanh Thúy mảnh mai đến độ gầy guộc với mái tóc dài buông xõa trên đôi vai gầy. Thanh Thúy lúc nào cũng xuất hiện trên sân khấu với tà áo dài truyền thống giản dị màu trắng hoặc màu lam nhạt.
Ngày nay tại Việt Nam có những ca sĩ cũng mang tên Thanh Thúy nhưng đối với những người lớn tuổi thì chỉ có một Thanh Thúy của những thập niên 60-70 và một Thanh Thúy sau năm 1975 tại hải ngoại.
Người ta còn nhớ thời Thanh Thúy của phòng trà Đức Quỳnh, Anh Vũ rồi vũ trường Queen Bee, International với những bài hát trữ tình như Nửa Đêm Ngoài Phố, Kiếp Nghèo, Người Em Sầu Mộng, Ngăn Cách, Tàu Đêm Năm Cũ, Giọt Mưa Thu, Tiếng Còi Trong Sương Đêm…
Cũng không thể nào quên được tiếng hát Thanh Thúy qua làn sóng điện, đài truyền hình hoặc trên các sân khấu đại nhạc hội…
Thanh Thúy là “người yêu trong mộng” của rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, đó là chưa kể đến số đông những người “vô danh tiểu tốt”.
Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi để dành tặng Thanh Thúy, nhạc sĩ Tôn Thất Lập có Tiếng hát về khuya cũng vì Thanh Thúy còn thi sĩ Hoàng Trúc Ly ca tụng Thanh Thúy qua những vần thơ:
“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô.”
Năm 1961 khán giả Sài Gòn được xem phim Thúy đã đi rồi của tài tử điện ảnh kiêm đạo diễn Nguyễn Long, ca sĩ Minh Hiếu thủ vai Thanh Thúy.
Trong phim khán giả còn được nghe bản nhạc cùng tên của Y Vân qua tiếng hát Hùng Cường.
Y Vũ, em ruột của nhạc sỹ Y Vân, kể lại:
“…Anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh Nguyễn Long, còn gọi là Long Đất. Vào đầu thập niên 60, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy… Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình.
Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.”
(bởi thời gian này Thanh Thúy vừa lên xe hoa với Ôn Văn Tài trung tá binh chủng không quân của Quân lực VNCH – admin)
Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy.
Hát thì cứ hát nhưng con tim chẳng chút lay động vì đã yêu Trung tá Ôn Văn Tài thuộc binh chủng Không quân vào giữa thập niên 1960, họ có một cậu con trai.
Trong lần hội ngộ ở Melbourne, khán giả đã tặng Thanh Thúy bó hoa tươi nhất, đẹp nhất để thể hiện lòng ngưỡng mộ một người ca sĩ tuy đã bước vào tuổi 70 nhưng vẫn còn giữ một chỗ đứng trong lòng người yêu nhạc.
Rất nhiều giấy của khán giả yêu cầu Thanh Thúy hát những bài hát mà họ ưa thích nhưng vì chương trình có hạn nên MC Nam Lộc phải lên tiếng cáo lỗi và hẹn vào một dịp khác.
Một sự tình cờ, người bước ra sân khấu tiếp theo Thanh Thúy lại là một ca sĩ tên cũng bắt đầu bằng chữ Thanh. Phải nói cô là người đã thành công trên cả 3 lãnh vực: âm nhạc, điện ảnh và kịch nghệ.
Về âm nhạc, cô nổi tiếng với những bản nhạc tiếng Pháp, về điện ảnh cô đã xuất hiện trong rất nhiều bộ phim và về kịch nghệ cô là diễn viên trong ban kịch Vũ Đức Duy.
Người nghệ sĩ đa tài đó là Thanh Lan.
Phạm Thái Thanh Lan có khiếu văn nghệ từ khi còn là nữ sinh Marie Curie và hát trên đài phát thanh Sài Gòn trong ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức.
Thanh Lan còn tham gia ban văn nghệ sinh viên học sinh Nguồn Sống và xuất hiện trên truyền hình khi Sài Gòn bắt đầu có TV vào năm 1967.
Thanh Lan bắt đầu trở thành một ca sĩ nổi tiếng khi cô học năm thứ nhất Đại học Văn khoa. Sở trường của cô là những ca khúc lời Pháp như La Plus Belle Pour Aller Danser (Phạm Duy chuyển sang lời Việt Em đẹp nhất đêm nay, bản nhạc này nổi tiếng một thời tại Pháp qua giọng ca Sylvie Vartan), Bang Bang (nguyên thủy Sheila hát, bài này cũng được Phạm Duy chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Khi xưa ta bé), Come back to Sorrento (Trở về mái nhà xưa) và Mon amie la Rose do chính Thanh Lan soạn lời Việt với tựa đề Nụ Hồng Mong Manh.
Thanh Lan còn hát chung với Nhật Trường qua những tình khúc của Trần Thiện Thanh, họ là một trong những cặp song ca ăn khách nhất thời đó. Hai người còn đóng chung với nhau hai bộ phim truyền hình Trên đỉnh mùa đông và Mộng Thường do Nhật Trường viết kịch bản và đạo diễn, phát sóng trên đài truyền hình Sài Gòn.
Sự nghiệp điện ảnh của Thanh Lan bắt đầu vào năm 1970, khi cô đóng vai chính trong bộ phim Tiếng hát học trò của đạo diễn Thái Thúc Nha do hãng phim Alpha sản xuất.
Với vai diễn này, Thanh Lan đã đoạt giải nữ diễn viên nhiều triển vọng nhất của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật.
Cuối năm 1974, tại phòng khánh tiết khách sạn Continental, Thanh Lan đã nhận giải diễn viên đẹp nhất miền Nam Việt Nam do đạo diễn Lê Dân trao tặng.
Khi Sài Gòn “đứt phim”, thỉnh thoảng Thanh Lan cũng xuất hiện với các bài như Cô đi nuôi dạy trẻ, Đi qua vùng cỏ non, Phượng hồng, Em đi chùa Hương, Triệu đóa hoa hồng, Trưng Vương khung cửa mùa thu…
Đến cuối năm 1993 thì cơ hội tới qua lần đến Mỹ tham dự buổi ra mắt cuốn phim Tình người do đạo diễn gốc Việt quay cảnh tại Việt Nam và cô thủ vai chính, Thanh Lan đã xin tỵ nạn.
Thoạt đầu, phát ngôn của Thanh Lan bị cộng đồng người Việt tại hải ngoại phản đối nhưng rồi với thời gian … dư luận nguôi ngoai, Thanh Lan chiếm dần lại cảm tình của khán thính giả để tiếp tục sự nghiệp.
Ở hải ngoại, Thanh Lan diễn kịch nhiều hơn đóng phim. Cô đóng vai chính trong các vở kịch như Lá sầu riêng, Lôi vũ, Lồng đèn đỏ, Đoạn tuyệt, Sân khấu về khuya, Phù dung tự…
Những vở kịch này đã được lần lượt trình diễn tại các sân khấu Quận Cam, San Jose, Houston, Atlantic…
“Cô Bắc Kỳ nho nhỏ có nốt ruồi duyên trên môi” nay đã 65 tuổi nhưng vẫn còn trẻ trung trên sân khấu Melbourne trong đêm Một thời để nhớ. Cô hát với chất giọng như ngày nào cộng thêm với kinh nghiệm của một diễn viên từng trải khiến sân khấu sống động.
Vẫn những bài xưa:
La Plus Belle Pour Aller Danser, Bang Bang rồi Bảy ngày đợi mong…
nhưng phần trình diễn của Thanh Lan rất sống động. Để hát bài Bảy ngày đợi mong của Trần Thiện Thanh cô mời một khán giả tình nguyện lên làm… người yêu.
“Anh hẹn em cuối tuần. Chờ anh nơi cuối phố. Biết anh thích màu trời. Em đã bồi hồi chọn màu áo…” thay vì màu áo xanh như lời bài hát, Thanh Lan đã chỉ tay vào áo dài của mình rồi sửa lời… chọn màu áo… bông!!! Khán giả được dịp cười ồ vì tài ứng biến của một diễn viên kịch.
Ca sĩ cuối cùng trong đêm Một thời để nhớ và cũng là người lớn tuổi nhất xuất hiện trong chương trình. Sân khấu bỗng tối đèn và khán giả chỉ nghe tiếng hát cất lên…
“Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông, đôi cánh chim bâng khuâng rã rời, cùng mây xám về ngang lưng trời… .”
Sau đoạn đầu bài hát Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, khán giả nhận ra ngay bản nhạc đã một thời đưa tên tuổi của Bạch Yến đến với những người yêu nhạc.
Bạch Yến sinh năm 1942, mới 10 tuổi đã giành huy chương vàng cuộc thi tuyển lựa những giọng ca nhi đồng do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức,
Năm 15 tuổi, chị bắt đầu được khán giả chú ý với ca khúc Đêm đông.
Năm 21 tuổi, Bạch Yến được mời qua Mỹ biểu diễn và trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình truyền hình Mỹ vào đầu năm 1965.
Chị là người đại diện cho Việt Nam tham gia Environment Show và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc nổi tiếng như Beatles, Bob Hoge, Bing Crosby, Pat Boone, Rolling Stones…
Ngoài tiếng Việt, Bạch Yến có thể hát tốt các bản nhạc tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý và Do Thái.
Năm 1978, chị kết hôn với nhạc sĩ Trần Quang Hải, con trai của Giáo sư Trần Văn Khê.
Cùng với chồng, trong 30 năm qua, chị đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam.
Trần Quang Hải lúc đó đã ly dị vợ, sống cùng con gái 5 tuổi, còn Bạch Yến ở cái tuổi 36, đang đứng trên đỉnh vinh quang của nghề hát, có nhiều người đàn ông ngưỡng mộ nhưng…vẫn cô đơn.
Bạch Yến kể về mối tình của mình trên VnExpress:
“Gặp nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris, chưa đầy 24 giờ anh đã ngỏ lời cầu hôn tôi và sau đó gửi 400 thiệp cưới đến mọi người khiến tôi vừa xúc động, ngỡ ngàng, vừa buồn cười.
Lúc đó, tôi còn một hợp đồng biểu diễn ở Mỹ, phải 3 tháng sau mới hết hạn, nhưng anh bảo tôi không đi nữa. Và thế là tôi theo chồng”.
Trong giờ nghỉ giải lao, Bạch Yến được khán giả hâm mộ của Melbourne vây quanh. Họ là những người tuổi đời được thể hiện qua mái tóc, qua vóc dáng về chiều nhưng vẫn còn in rõ nét đam mê ca nhạc của một thời để nhớ và cũng là một thời vĩnh viễn không bao giờ trở lại.
Thời của tuổi trẻ ngày nào.
Duyên may đã đến với tôi qua lời mời đi dự Một thời để nhớ của Nguyễn Lương Năng, người bạn cùng dạy tại trường Sinh ngữ Quân đội ngày xưa.
Duyên may cũng đến với tôi để có dịp sống lại suốt 5 tiếng rưỡi ngồi nghe những tiếng hát mà mình một thời hâm mộ tại một sân khấu không phải là Việt Nam.
Và còn một duyên may cuối cùng : tấm hình trên đã được gửi đến các bạn cựu đồng sự tại trường Sinh ngữ Quân đội.
Một trong số những người đó, anh Nguyễn Phan Thanh, đã có nhã ý ghép hình 2 đứa chúng tôi vào tờ chương trình live show Một thời để nhớ.
Thành ra chương trình có tới 16 nghệ sĩ, trong đó có 2 nghệ sĩ “dzỏm”. Đó là chuyện khó quên trong đêm Một thời để nhớ.
-
Nguyễn Ngọc Chính









