Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

VỌNG ĐỘNG NƠI CỬA THIỀN !



Đến chùa lễ Phật nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất thì phải.

Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn.

Chiếc áo thun bó sát thân trên, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai trần. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia.

Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phản ứng hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.

Một anh Huynh Trưởng Gia đình Phật tử bước lại bên cô gái, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt nhìn anh Huynh Trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu.
Anh Huynh Trưởng đưa chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu.
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh Huynh Trưởng không còn tự chủ được, hơi lớn tiếng:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái Tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh Huynh Trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc …và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh Huynh Trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh Huynh Trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô kê!
Anh Huynh Trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: “Ai? Cần gì?”. Anh Huynh Trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, Huynh Trưởng Gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh Huynh Trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh Huynh Trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Thí chủ cứ hỏi. Tôi nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái Tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị Tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thật ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay!
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- …
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tĩnh động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
- …
- Trút bỏ hết đi!
Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái. Sư lại quát:
- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
… Anh Huynh Trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh Huynh Trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh Huynh Trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng.
Rồi anh chấp tay xá ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương!
Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
st

#mrzackenglish #buddha

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

VÔ THƯỜNG

Mình vừa đọc được câu chuyện về 1 cây cầu "vô dụng" nhất thế giới: Đó là cây cầu Puente Sol Naciente (Cầu mặt trời mọc), ở Choluteca, Honduras. Nó không có đường đến, cũng không có đường đi, nó nằm ở kế bên con sông mà mình cần bắc qua. KẾ BÊN! (như hình)

Không hề có một lỗi kĩ thuật nào của kỹ sư cả, tất cả đều hoàn hảo. Nó từng là cây cầu hiện đại nhất, lớn nhất, tự hào nhất, được người Nhật xây dựng ở Mỹ Latin năm 1996. 

Nhưng, chỉ vài tháng sau khi cây cầu được khánh thành năm 1998, thì cơn bão Mitch lịch sử ập đến. Mưa liên tiếp, dồn dập trong 4 ngày đêm, lượng nước mưa lên đến 1905mm, giông bão gió giật cấp, cướp đi sinh mạng của 7000 người, cuốn trôi nhà cửa, của cải, làng mạc, đường đi. 

Một thứ duy nhất còn nguyên vẹn: cây cầu.

Nhưng vấn đề cũng nằm ở đó. Khi đường xá đều bị phá hủy, thì lấy gì để đi đến cây cầu đây? 
Chưa dừng lại ở đó, cơn bão còn làm thay đổi cả dòng chảy của con sông, làm nó chảy chệch sang một hướng khác, kế bên cây cầu. Từ đó cây cầu bị cô lập, không có đường đến, cũng không có đường đi, không bắc qua được con sông cần bắc, cây cầu không đi đến đâu cả. Hiện đại và kiên cố quá, cũng trớ trêu…

Mọi thứ thật vô thường. 
Ta tập trung quá nhiều vào giải pháp hoàn hảo cho vấn đề, mà quên rằng chính vấn đề cũng sẽ thay đổi. Năm Covid này, có ai nhận ra những tính toán chắc nịch của mình bất ngờ trở nên vô nghĩa?

Hôm nhìn bức hình này trên mạng, mình đã muốn khóc. Đâu có gì là mãi mãi. Vô thường là bình thường. Mình miên man nghĩ tới tình yêu. Có những điều mình đã nỗ lực biết bao, mà khi nhìn lại thì hóa ra đề bài đã thay đổi rồi! 
Miên man nghĩ tới nuôi dạy con, có khi nào những điều mà bây giờ mình đang thấy vô cùng quan trọng, những điều mà mình vật vã vì nó, sống chết vì nó, đắm đuối vì nó, chiến đấu và hi sinh vì nó...  bỗng trở nên vô nghĩa hay ko? 

Ví dụ như chúng ta kỳ công dạy trẻ viết đẹp, đúng ô ly, dạy làm toán, dạy ghi nhớ, dạy nghe lời, dạy giải đúng đáp án, dạy trả lời đúng câu hỏi... rồi chắc gì 20 năm nữa những câu hỏi đó, bằng cấp đó, kỹ năng đó, còn quan trọng, với con? Liệu có giúp con cạnh tranh được với robot, với trí tuệ nhân tạo, với big data, với sự biến đổi bất ngờ của tương lai ko? 

Thế giới thay đổi, thời thế thay đổi, và chúng ta cũng phải thay đổi thôi.

Fb Trần Thu Hà

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2021

VẬN MỆNH

Diêm Vương đối thoại cùng kẻ nghèo ?!
câu chuyện để suy ngẫm ?!
 ‐-------‐----------

Tận mắt thấy người chạy nạn ngày một nhiều, Vương Lão Lục cũng vác trên lưng tất cả tài sản của mình là một túi khoai lang, gia nhập vào dòng người chạy nạn.

Đi đến nửa đường, lão Lục gặp hai cha con đang đói lả, trên lưng người cha cũng cõng một cái túi rất nặng.

Người này thấy lão Lục cõng nhiều khoai lang trên lưng như vậy, liền hỏi xin lão một củ cho con ăn nhưng lão Lục không chịu.

Người này bèn nói: “Vậy ông bán cho tôi được không?”, vừa nói vừa đẩy toàn bộ túi bạc trên lưng mình xuống đất.

Lão Lục nhìn không chớp mắt vì cả đời lão ta nằm mơ cũng chưa bao giờ thấy nhiều bạc như vậy.

Lão liền vứt túi khoai lang xuống, cõng ngay túi bạc lên lưng vội vã lên đường vì sợ hai cha con người này đổi ý.

Vài ngày sau, rốt cục lão không đi được nữa vì quá đói, trên đường đi lão không tìm được bất kể thứ gì để mua ăn.

Hai cha con người đã mua khoai lang, rất nhanh đã vượt qua lão.

Lão nhìn túi khoai trên lưng của người kia thì bắt đầu hối hận, bèn bước lên phía trước hỏi mua lại số khoai lang trên, thế nhưng vô luận như thế nào người đó cũng không chịu bán.

Lão Lục thất vọng ngồi rạp xuống đất, ôm túi bạc trong người, đói khát mà chết.

Lão Lục đi gặp Diêm Vương.

Diêm Vương nói: “Ta vốn định cho ngươi một cơ hội phát tài, không muốn lấy mạng của ngươi. Thế nhưng, người thật sự là vì tiền mà chết, chim vì thức ăn mà vong mạng!”

Lão Lục nói: “Kiếp trước tôi nghèo kiết xác, kiếp này tôi không muốn lại làm người nghèo nữa”.

Diêm Vương nói: “Kỳ thực, kiếp trước của ngươi cũng không phải nghèo, bởi chỉ cần ngươi bán một nửa khoai lang và lấy nửa túi bạc kia. Ai bảo ngươi bán toàn bộ số khoai đó? Vậy thôi, nói chuyện kiếp này vậy, ta hỏi người, kiếp này ngươi có hai lựa chọn, một là vạn người nuôi sống một mình ngươi, hai là một mình ngươi nuôi sống vạn người, ngươi muốn cái nào?”

Lão Lục nghe xong, không lưỡng lự đáp: “Nhất định là người được vạn người nuôi sống!”. Sau đó, lão vui vẻ nghìn lần cảm tạ thiên ân mà rời đi.

30 năm sau, lão Lục lại trở lại trước mặt Diêm Vương, ca thán rằng Diêm Vương lừa gạt lão.

Diêm Vương cười nói: “Sao lại nói ta lừa gạt ngươi?”

Lão Lục nói: “Nghe lời của ngài, tôi cả đời là tên ăn mày”.

Diêm Vương nói: “Vậy là đúng rồi! Vạn người nuôi sống một người chẳng là ăn mày thì còn là gì! Ngươi không thể trách ta, chỉ có thể trách ngươi quá tham lam”.

Lão Lục nghe xong, liền cầu xin Diêm Vương: “Diêm Vương lão gia, đời kế tiếp của tôi, cầu xin ngài nhất định cho tôi những ngày tháng tốt lành!”

Diêm Vương nói: “Vậy nhé! Hiện nay ngươi có hai con đường: Một là trông coi một núi vàng, hai là trông coi một mảnh đất, ngươi muốn cái nào?”

Lão Lục lúc này cẩn thận chọn lựa, nghĩ ngợi, cảm thấy trông coi núi vàng vẫn là tốt hơn.

Diêm Vương nhìn bóng dáng lão Lục đã đi xa, bèn nói: “Con người này đúng là mệnh nghèo mà!”

Chúng tiểu quỷ hỏi tại sao? Diêm Vương liền nói: “Trông coi mảnh đất, trên thực tế là làm một vị quan lớn; mà trông coi núi vàng kia, lại chỉ là làm một con chuột, ngồi mà coi kho thóc thôi!”

***

Cuộc đời bạn do chính chính bạn mà ra. Trên cùng một con đường, có người đi chậm, có người chạy băng băng, có người thì đi xe,… Phương thức khác nhau, kết quả sẽ khác nhau. Vận mệnh giống nhau, có người cười mà chống chọi, có người lại khóc cầu xin, có người im lặng chấp nhận,… đều là thái độ khác nhau, kết quả sẽ khác nhau. Không ai có thể quy định cách sống của bạn, hết thảy đều là do bạn lựa chọn cho chính mình. Con người với tính cách khác nhau, lựa chọn sẽ khác nhau, lựa chọn khác nhau thì vận mệnh cũng sẽ theo đó mà khác nhau.

Fb Thanh Ly Hoàng chia sẻ

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

Lời nói thực tế của một nhóm người già

Mình nhận được bài viết do 1 người bạn gởi, mà tác giả là ai mình không biết . Bài viết hay , nên mình đăng chia sẻ cùng các bạn .

Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi.


Lời nói thực tế của một nhóm người già


Chúng ta đã già rồi! Nhưng mà hiện tại sức khoẻ vẫn còn tốt, đầu óc hãy còn minh mẫn, già rồi trông cậy vào ai! Phải phân chia ra nhiều giai đoạn mà nói.

Giai đoạn thứ nhứt

Sau khi đã về hưu, tuổi từ 60 đến 70, sức khoẻ cũng như điều kiện hãy còn tốt. Thích ăn gì thì ăn, thích mặc gì thì cứ mặc, thích chơi đùa gì thì cứ chơi đùa, chẳng nên tự bạc đãi mình, vì những ngày giờ này sẽ không còn là bao lâu nữa, cần phải nắm lấy (cơ hội). Nắm giữ một ít tiền, giữ lại căn nhà, biết tự an bài tốt cho con đường sau cùng của mình.

Tình trạng kính tế của con cái được tốt là của chính chúng, con cái hiếu thuận là phẩm hạnh tốt của chúng. Chúng ta chẳng nên cự tuyệt sự giúp đỡ của con cái, không nên cự tuyệt sự hiếu kính của chúng. Nhưng quan trọng nhứt là phải biết tự nương tựa vào chính mình, tự an bài tốt cho sinh hoạt của chính chúng ta.

Giai đoạn thứ hai

Qua hết đoạn tuổi bảy mươi (tức ở vào tuổi bát tuần) mà không có bệnh hoạn gì, cuộc sống hãy còn được tự do, đó là không có những vấn đề gì lớn xảy ra, nhưng phải nên nhớ rằng mình đúng là đã già rồi, thể lực và tinh lực sẽ không còn tốt nữa, các phản ứng tự nhiên của mình cũng sẽ từ từ xấu đi.

Nên ăn cơm chậm lại để đề phòng mắc nghẹn; đi đứng cần chậm lại để đề phòng bị té ngã.

Chẳng nên tranh hơn người, cần biết tự chăm sóc cho chính bản thân mình!

Đừng nên đi "quán xuyến" việc này việc kia, lo lắng sinh hoạt của con cái. Có người còn đi giữ cháu nội cháu ngoại nữa.

Cần phải biết "ích kỷ" một chút để, tự chăm sóc, trông coi chính mình.

Mọi việc phải biết để cho nó hoà theo tự nhiên, phải làm tí công việc quét dọn rác, phải biết cố gắng giữ gìn cho cái trạng thái sức khoẻ của mình được lâu dài hơn.

Để cho cái năng lực tự chủ về cuộc sống của mình có thể kéo dài thêm, không phải nhờ vào sự chăm sóc của người khác, thì có phải là tốt hơn không?

Giai đoạn thứ ba

Sức khoẻ đã suy yếu rồi, phải cần đến người giúp chăm sóc cho mình, việc này nhất định phải được chuẩn bị từ trước, tuyệt đại đa số con người ít ai tránh khỏi được cái cửa ải này.

Phải biết điều chỉnh tốt cho lòng mình, phải biết thích ứng với hoàn cảnh, sinh lão bịnh tử, với cái Tử là cái việc thường tình của đời người.

Ta cứ thản nhiên mà đối diện với nó, vì đó là cái đoạn cuối của đời người, chẳng có gì mà phải sợ nó, đã có chuẩn bị trước rồi, thì chẳng có chi mà cảm thấy phải khó chịu.

Hoặc là vào viện dưỡng lão, hoặc là mướn người đến nhà trông coi chăm sóc cho mình, lượng sức lượng tình mà làm, nhất định là phải có biện pháp.

Nguyên tắc là chẳng nên "làm khổ" con cái của mình, đừng để con cái mang nặng cái tâm lý không tốt, làm thêm nhiều công việc nhà, gánh nặng thêm sự tốn hao tài chánh hạn hẹp của gia đình.

Tự mình phải biết khắc phục thêm một chút, cái cuộc đời nầy của mình, cái gì khổ, cái gì khó khăn cũng đã qua rồi, hãy tin tưởng rằng cái đoạn đường nhân sinh cuối cùng cũng sẽ dễ dàng mà bước qua.

Giai đoạn thứ tư

Đầu óc ta minh mẫn, bệnh tật đeo mang không cách nào thoát khỏi, lúc mà cái phẩm chất của sinh mạng đến điểm tệ hại nhất, phải biết dám đối diện với cái chết, cương quyết không để người nhà phải lao khổ tái cứu sinh, không để bà con thân hữu phải chịu hứng chịu những hao tốn vô ích.

"Già rồi" trông cậy vào ai? Chính mình, chính mình, lại vẫn là chính mình.

Già rồi thì phải làm sao?

Tại sao lại có cái ý nghĩ nầy, đó là do bởi tôi luôn nhận thấy, người già trên 80, không cần phải hạn chế đồ ăn của họ phải thanh đạm, cũng không cần phải giảm cân, ăn được là quan trọng nhứt

Muốn ăn gì thì cứ ăn, có thể cho là ăn được những món ngon của thế gian nầy, để cho cuộc sống càng thêm vui sướng và thích thú. Hạn chế người già không được làm cái nầy, ăn cái kia là đi ngược lại cái nhân tính của con người, mà lại cũng chẳng có gì gọi là căn cứ khoa học cả.

Trên thực tế, càng ngày càng có nhiều hiển thị chứng cứ của khoa học là, người già cần ăn ngon thêm một chút, cần mập thêm một tí, để cho cơ thể họ có thêm năng lực để đối kháng bệnh tật, đối kháng tính trầm cảm.

Tôi mong ước là, các cụ lão niên đều có thể hưởng thụ được sự tốt đẹp của đoạn cuối con đường nhân sinh của chính mình, mà không phải lưu lại bất cứ một điều gì hối tiếc.

Có thể cũng đừng kỳ vọng chờ đợi để lại cho thế hệ kế tiếp.

Lời kết luận:

Câu nói đúng của tục ngữ: "biết lo về tài chánh thì không nghèo, có kế hoạch thì không rối rắm, có chuẩn bị thì không bận rộn". Chúng ta với tư cách là lão niên "dự bị quân" đã có ý tốt chuẩn bị hay chưa?

Chỉ cần sự việc chưa xảy ra, phải có chuẩn bị cho tốt, sau nầy sẽ khỏi phải lo lắng cho cuộc sống ở tuổi xế chiều.

Thứ nhất: Lão Kiện

Sự chuẩn bị trước tiên là cái khả năng làm cho sức khỏe tốt ở tuổi già, ngày thường cần chú ý đến "tam dưỡng":

1-ăn uống dinh dưỡng,
2-chú trọng bảo dưỡng,
3-phải biết tu dưỡng.

Thứ hai: Lão Cư

a/- Đối với sự việc cùng con cháu ở chung, phải rán nhẫn nhịn bằng cách im hơi lặng tiếng trong cuộc sống, chi bằng

b/- Vui sống hưởng thụ với cuộc sống đơn lẻ độc thân, bất luận là trong thành phố hay khu ngoại ô, những nơi thích hợp cho chính bản thân mình, đồng thời là nơi có những quán ăn gần nhà mà mình ưa thích nhứt...

Thứ ba: Lão Bổn

- Đã nuôi dưỡng được con cái, mà không thể có cách nào để dưỡng già. Là cha mẹ của người ta thì phải nhớ biết tự lập tự cường, chưa vào trong quan tài thì đừng bao giờ chia gia sản.

Thứ tư: Lão Hữu

- Có được một người bạn tốt, người hảo hữu cùng ăn chung và người bạn đời đều quan trọng như nhau, bình thường cần phải biết kết rộng thiện duyên, nhận thức nhiều về các loại bằng hữu, là để hưởng thụ được cái bí quyết của nhân sinh.

Nói tóm lại, dù bạn là một trường thọ lão ông hay lão phụ, cuối cùng, bạn cũng chỉ là một con người.

Cái câu nói nầy thật không bi thiết chút nào, lại cũng không có gì phải lo sợ, hoàn toàn do bạn tự an bài cách sống như thế nào, để coi bạn có hay không có cái tâm lý thành thục, có yêu thích cái gì đó thì rất đáng để bạn trực tiếp đi làm.

Có được cái sức khoẻ tốt hay hạnh phúc, cũng đừng hy vọng để lại cho con cái.

Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi.

Xin đừng có "nhân tại thiên đàng, tiền tại ngân hàng", cái gọi là "một mình rất buồn tẻ", "già rồi mà chẳng có ai phục dịch", những tín hiệu phiến diện v.v và v.v... đã là những câu nói lỗi thời từ lâu rồi.

Hãy nhận thức cách rõ ràng là: tiền tài, giàu sang chỉ là những số tự mà thôi, danh lợi cũng chỉ là một đoản kỳ tạm hư vinh, cuộc sống mới đúng là cái toàn diện của đời người,

Hãy là cái người "vui sống hưởng thụ cái cảnh già độc thân", thì cuộc đời mình sẽ có những mùa Xuân rực rỡ trở lại, với chính mình, điều kiện là: thân thể cường tráng, có tiền, có thì giờ, có bạn bè, lại cũng có cái không gian chuyên thuộc của riêng mình.

fb HIỆP TÔN THẤT chia sẻ


Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

CHA - CON TRAI

Người cha ngoài 40 tuổi sống tại Việt Nam, có cậu con trai 16 tuổi đang ở Mỹ. Con anh sang Mỹ năm 2008, đi cùng người mẹ theo diện kết hôn, tuy nhiên, hai cha con vẫn nói chuyện với nhau mỗi ngày qua các phương tiện liên lạc cá nhân. Anh chứng kiến mỗi ngày con lớn và vừa mừng vừa lo khi biết con trai anh tự lập một cách ngoài sức tưởng tượng của anh. Cậu bé làm tất cả mọi việc cá nhân, tự chọn điều mình thích, tự chịu trách nhiệm với cái mình chọn.

Nhiều lần anh tâm sự với bạn bè, việc con đi cùng mẹ đến một quốc gia mới là điều may mắn lớn nhất đời anh. Bởi anh chứng kiến ở Việt Nam, chưa biết đứa trẻ đã phải chịu những va đập của xã hội đến đâu, nhưng cha mẹ chúng là những người tổn thương trước. Từ môi trường sống bị ô nhiễm, đến môi trường giáo dục chứa đựng nhiều thứ phản giáo dục, đến môi trường đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng mang đến những thói quen tệ hại dễ tiêm nhiễm vào đứa trẻ... Dĩ nhiên, nói như vậy không có nghĩa nước Mỹ là thiên đường nhưng ít ra nơi đó, đứa trẻ còn được bảo vệ và tôn trọng như một con người đúng nghĩa.

Và việc của anh, từ trong ý thức là làm ra tài sản, để lại cho con anh thừa hưởng.

Kỷ niệm 10 năm hai cha con sống xa nhau, anh xin con một cuộc nói chuyện thật dài để cả 2 nói hết điều mình nghĩ. Ừ, thì 10 năm, một đứa trẻ 6 tuổi thành một cậu bé 16 tuổi, sống ở một môi trường khác sẽ có một cách nghĩ khác.
Và một người đàn ông ngoài 30 tuổi năm ấy, giờ đã hơn 40 tuổi, cũng có nhiều tâm sự chất chứa muốn chia sẻ với con mình. Câu chuyện hôm đó, anh dành cho con nói trước.
Tuy nhiên, người con nói: "Bố, 10 năm qua bố dạy con hãy giữ nề nếp người Việt, kính trọng cha mẹ và những người lớn tuổi hơn, nên con sẽ nhường bố nói câu chuyện của mình trước. Sau đó, con sẽ nói những điều con nghĩ từ câu chuyện của bố"

Ông bố tâm sự: "Đến lúc này bố biết mình bắt đầu già. Sức khoẻ của bố cũng dần đi xuống và bố không biết được bố sẽ đồng hành với con đến lúc nào. Thì dù có thế nào, con cũng phải sống cho tốt. Bố sẽ luôn nghĩ về con cho đến phút cuối"

"16 năm qua từ ngày có con, với bất cứ một quyết định nào trong cuộc đời của bố, bố cũng đều nghĩ cho con và vì con. Bố nghĩ đó là việc bố phải làm. Kể cả đến lúc này, bố lao động để làm ra của cải vật chất, tích góp lại để con có một khối tài sản ổn định về sau. Trên đường đời, nhỡ con gặp điều gì không may mắn thì con cũng có những chỗ dựa để không phải chông chênh".

"Con hãy hiểu và tôn trọng tinh thần Việt, bố muốn con sau này quay trở về Việt Nam, tiếp nối bố để tiếp tục xây dựng những cơ ngơi mà bố đã để lại đây. Nếu sau này bố qua đời, con nhớ hỏa táng bố, rải hết tro cốt xuống biển và không làm giỗ, không để lại bất cứ điều gì liên quan đến bố trong cõi đời. Để bố được thanh thản".

Và đây là suy nghĩ của người con:

"Con cảm ơn bố đã sống cả cuộc đời vì con và cho con. Nhưng ngày hôm nay, con cũng sẽ nói với bố rằng bố sống cho con và vì con như vậy đã đủ rồi. Bố hãy yên tâm một điều con đã là bạn của bố, đang là bạn của bố và mãi mãi là bạn của bố. Con yêu bố như một người bạn thân nhất trong cuộc đời con và con nghĩ con phải cư xử đúng với tình yêu ấy"

"Con nói cho bố một điều là bố đã vì quá yêu con đến mức tình yêu đó biến thành sở hữu. Ở Mỹ, những đứa trẻ như con rất sợ điều đó. Nhiều ông bố bà mẹ châu Á đã phải đi tù chỉ vì thương con quá mức cần thiết và muốn sở hữu con. Bố ạ, con thì khác, con là người Việt, nên dù có thế nào con cũng không làm tổn thương bố. Chỉ có điều, bố nên tôn trọng điều con nghĩ và điều con muốn"

"Đơn giản thôi, bố hãy để con tự quyết định cuộc đời mình. Con sẽ tự lớn lên, tự kiếm việc để làm, tự trưởng thành và bố chỉ cần tin con không làm việc xấu là được. Bố có con thì bố hãy vui mà sống. Bố có nhà thì bố cứ ở trong căn nhà bố. Bố lao động thì bố cứ lao động, có tài sản nếu xã hội cần, bố cứ tặng cho những người bất hạnh. Không sao cả, con chấp nhận và vui vì điều đó hơn là vì con mà bố cứ phải è cổ ra làm việc chỉ mong để lại tài sản cho con"

"Tại sao bố không sống vì bố mà bố cứ phải vì con? Lúc này đây bố hãy vì bố đi. Bố làm việc ít lại, đi du lịch nhiều hơn. Đi kiểm tra sức khoẻ và hãy nghĩ rằng, nếu vì con thì bố phải khỏe để làm bạn với con được nhiều hơn thay vì không lo cho mình và cứ phải chết vì lý do hy sinh cho con. Bố làm vậy con đâu có vui được?"

"Những gì của bố là của bố. Những gì của con ở phía trước, con không ngoảnh lại để trông chờ sở hữu cả cuộc đời của bố để lại đó cho con hưởng thụ. Nếu bố xem con là tài sản lớn nhất thì bố cứ vui sống với tài sản đó thay vì bố cứ phải vất vả khổ sở vì cái tài sản đó. Bố thì khổ, con thì buồn. Đâu nhất thiết. Không lẽ giờ con sẽ nói với bố là con sẽ không muốn thừa kế bất cứ điều gì từ bố mặc dù con biết con sẽ phải nói điều này. Không phải vì con hay vì bố mà vì chúng ta cần được vui vẻ để sống cùng nhau"

"Cuối cùng con chỉ nói với bố, việc về hay ở tùy thuộc vào tương lai. Có thể con về, cũng có thể con ở lại miễn là sống ở đâu con thấy vui. Đừng vì ngày đó để tiếp tục bố lại phải quên bản thân bố vì con. Tại sao bố cứ lấy lý do sống vì con để làm phương châm cho cuộc sống của bố vậy? Bố con mình từng tranh cãi câu chuyện cái mặt nạ trên máy bay, rằng khi nó rơi xuống thì người cha hay người mẹ phải đeo vào cho mình trước cơ mà? Bố phải vui phải khỏe thì mới sống lâu với con được chứ? Con muốn vui sống với bố được lâu dài và chúng ta sẽ nói những câu chuyện vui ở những ngày tiếp theo".

Người cha không nghĩ rằng con mình có thể nói những điều như thế và cũng không nghĩ rằng, mọi thứ hoàn toàn không theo lập trình của ông cho cuộc sống của mình và cho tương lai con theo cách mà ông nghĩ.

Chỉ biết rằng sau đó, người đàn ông trung niên bắt đầu làm việc ít lại, tập thể dục nhiều hơn, đi du lịch nhiều hơn, cũng như ông rời xa những bon chen công việc mà ông sẽ phải thắng bằng mọi cách như trước kia.
(St)

Chia sẻ từ fb Le Yuen và Dang Danh chia sẻ




Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

NGHỊCH LÝ VIỆT NAM

fb Nguyen Hoang Dung

Cái gì thì không dám nói chứ nghịch lý ở đất nước này thì vô thiên lủng, nhiều quá đếm không xuể. Chẳng phải vậy mà nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh đã có một bài để đời đăng trên tờ Tuổi Trẻ năm 1988 với tựa đề: “Việt Nam Xứ Sở Của Nghịch Lý”(1). Tuy nhiên, những nghịch lý anh Chênh nêu vào thời gian đó vẫn chưa thấm tháp gì với nghịch lý mà tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu nêu ra cho những người có trách nhiệm năm 2017: “TẠI SAO CHÚNG TA HỐT LẠI NHỮNG THỨ MÀ DÂN TỘC KHÁC ĐỔ ĐI?”(2), khi mà cho tới tận năm 2018, chúng ta vẫn quyết tâm kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin vốn đã bị cả người Đức lẫn người Nga vứt vào sọt rác lịch sử.

Khuôn khổ hạn hẹp của bài viết chỉ cho phép tác giả đề cập thêm đôi chút nghịch lý nữa trong đất nước Việt Nam hiện nay, hầu mong góp một giọt dầu loang, loang tới những chỗ cần loang, hoặc đơn giản chỉ là góp chút xíu gió bằng cái đập cánh của một con bướm nhỏ, để rồi cùng với hàng triệu con bướm khác đang ngày đêm vỗ cánh trong “Hiệu Ứng Cánh Bướm” nhiệm mầu, tạo nên một cơn bão đủ lớn quét sập những gì lẽ ra phải sập từ rất lâu rồi. Đó là những nghịch lý “Tù Nhân-Lương Dân”, nghịch lý “Đảng Cử-Dân Bầu”, và Nghịch Lý “Bạn Bè-Thù Địch”

Trong khi giới luật sư Nhật Bản đang đối diện với viễn cảnh thất nghiệp ngay trên đất nước mình vì người dân xứ sở “mặt trời mọc” có xu hướng tự hoà giải những mâu thuẫn với nhau mà không qua kiện cáo để đáo tụng đình(3), và các nhà tù của Hà Lan có thể sẽ phải đóng cửa trong nay mai vì không có đủ tù nhân để giam giữ do ý thức chấp hành pháp luật của người dân xứ này quá cao(4), thì Việt Nam lại đang xảy ra quá trình ngược: lạm phát "tù nhân"!

Chữ "tù nhân" được để trong ngoặc kép nhằm nêu lên một thực trạng là có rất nhiều lương dân, lẽ ra phải được ca ngợi, tôn vinh vì sự dấn thân cho tổ quốc và lòng yêu nước thương nòi, thì bỗng dưng lại bị trù dập, vu cáo và bỏ tù tại đất nước Việt Nam này với tội danh là "phản động", vốn phải được hiểu là "phản đảng" hay "chống đảng". Biểu tình chống Trung Quốc, chống luật đặc khu, phản đối Formosa xả thải trái phép, tham gia hội họp câu lạc bộ cắt đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông No-U, hay viết blog, status trên facebook phản đối ôn hòa đường lối quá thân Trung của chính phủ cũng đều có khả năng bị quy kết là "phản động" hết vì quyết sách của đảng là “thân Trung”.

Tuy nhiên, tên gọi chính xác hơn cho những "tù nhân" như thế này phải là “lương dân” hay "tù nhân lương tâm" vì họ nói thay tiếng nói lương tri của mấy chục triệu người dân Việt, nếu không muốn nói là gồm hết thảy dân tộc này. Nhiều người trong số họ là "hiền tài", là "nguyên khí" quốc gia. Mỉa mai thay khi "nguyên khí" vừa bị nhốt trong "lồng cơ chế" vừa bị cảnh tù đày. Thật là một ách hai tròng! Nói gì thì nói, việc có quá nhiều nhà tù hiện hữu và nạn bắt bớ liên miên không thể nào là dấu chỉ của một xã hội ổn định văn minh, bàn chi tới hành động tự sướng là "thời đại rực rỡ nhất” (5) hoặc “có bao giờ được thế này chăng?” và “chưa bao giờ được như bây giờ”(6). Lẽ nào họ lại không phân biệt nổi đối nghĩa giữa “được” và “bị”?

Cứ nhìn thêm một khía cạnh nghịch lý nữa, khía cạnh chính danh của chính quyền trong cụm từ “Đảng Cử-Dân Bầu”. Không nói đâu xa, chỉ nói đến sự kiện Quốc Hội bầu chức danh Chủ Tịch Nước hôm 23/10/2018 vừa rồi thôi. Đảng đã “cử”mấy ứng viên để “bầu”? Chỉ mỗi 1 người cho 1 vị trí. Thật quá vô lý! Nếu cứ tiếp tục “bầu” kiểu như thế này thì người lớn phải biết giải thích ra sao cho những đứa trẻ về phép so sánh bằng, so sánh hơn hoặc so sánh nhất? Có phép so sánh nào mà không hàm chứa số nhiều từ 2 trở lên không? Ngay cả khi ta so sánh ta với chính ta theo biến số thời gian, thì số lượng nhân ảnh đương nhiên cũng là 2, vì vũ trụ vạn vật biến dịch, vô thường theo từng sát-na. Ta một sát-na trước và ta một sát-na sau là không giống nhau. Nhưng đây đang nói tới sự lựa chọn 1 người thích hợp nhất cho 1 chức vụ. Mà hễ “lựa chọn” thì dứt khoát phải là 2 trở lên, không thể khác được. Đó mới đích thực là bầu chứ! “Cử” có một người mà “bầu” thì phải nói là “cưỡng từ” mất rồi.

Hơn nữa, xét cho tận cùng, nếu đảng đã “cử” rồi, dù “cử” bao nhiêu người đi nữa thì dân có cơ hội nào mà “bầu”? Vì dân có thực sự cầm phiếu mà bầu lên một đại biểu quốc hội nào đâu? Đại biểu quốc hội toàn là đảng viên và vài người đảng chọn. Thử hỏi có người nào được phép tự ứng cử quốc hội chưa nếu như đảng không gật đầu trước? Chưa nói đến trúng cử làm gì cho xa vời. Vậy phải nên trung thực mà sửa cụm từ quá mị dân kia thành “Đảng Cử-Đảng Bầu” cho đúng với thực tế. Vì nếu cứ khăng khăng “Đảng Cử-Dân Bầu” thì đích thị là “đoạt ý” rồi còn gì. Cương lĩnh đảng còn đứng trên hiến pháp như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu (7) thì cớ gì không dám huỵch tẹt “Đảng Cử-Đảng Bầu”? Bệnh gì đảng phải cử ta?

Từ những việc tưởng chừng như là chuyện đương nhiên theo thông lệ quốc tế như minh bạch hoá quy trình “bầu” và “cử” mà chúng ta còn thực hiện chưa được, thì bao giờ chúng ta mới thật sự hội nhập vào dòng chảy văn minh thế giới đây? Chính vì vậy mà hàng triệu người Việt mới dán mắt vào màn hình máy tính, laptop, smartphone...suốt ngày hôm qua (6/11/2018) nhằm theo dõi cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, đâu phải họ chỉ quan tâm tới Tổng Thống Donald Trump và Đảng Cộng Hoà vốn có khuynh hướng “đánh” Trung Quốc, mà nó còn bày tỏ khát vọng truy tầm chân lý, và nỗi khát khao sự thật của người Việt. Không thật sao được khi bên kia lá phiếu của từng cử tri Mỹ thực sự quyết định ai thắng ai thua ở từng bang, đảng nào chiếm đa số ở Thượng Viện và Hạ Viện, rồi nó gay cấn và kịch tính đến phút cuối, hơn thua nhau sít sao từng phiếu một. Không giả sao được khi nhân dân bị tiếm danh, bị gạt ra bên rìa cuộc bầu cử để rồi kết quả là ai đó đã “trúng cử” trên 99% cả trước khi quá trình bầu cử diễn ra. Hình ảnh người dân Việt Nam chú tâm tới cuộc bầu cử giữa kỷ ở Mỹ còn là một sự bỉ bôi cay độc đối với hệ thống bầu cử diễn kịch nước nhà.

Thế nhưng, nghịch lý lớn nhất vẫn là quan niệm lẫn lộn lú lẫn “Bạn Bè-Thù Địch” của đảng và nhà nước Việt Nam đối với Trung Quốc, địch thủ ngàn năm phương Bắc. Trung Quốc là hiểm họa ngoại xâm lớn nhất và duy nhất của Việt Nam. Lịch sử đã chỉ rõ không cần thiết phải nhắc lại. Vấn đề cần bàn chỉ là nên giao hảo với chúng ra sao và đề phòng chúng như thế nào thôi. Ấy vậy mà lãnh đạo đảng chúng ta qua các thời kỳ cứ xem Trung Quốc là anh em, còn hơn bạn bè, theo kiểu “Huynh Đệ Chi Đảng”. Không chỉ ngây thơ ôm ấp cái “Đại Cục” tẩm đầy thuốc độc (8), tự trói mình với sợi đây “Bốn Tốt” (9) và đội lên đầu vòng kim cô “Mười Sáu Vàng”(10), lãnh đạo chúng ta còn quá ngây ngô khi cho bơm máu bẩn “Nhân Dân Tệ” vào cơ thể kinh tế èo uột của mình (11), mở toang cửa khẩu cho hàng hoá và người Trung Quốc tự tung chạy xe vào (12), và tệ hơn mới đây còn công khai ủng hộ chương trình “Sáng Kiến Vành Đai-Con Đường” của Trung Quốc.(13)

Do không thể hoặc không muốn xác định Trung Quốc là địch nhân cho nên đảng ta đã không đủ khôn ngoan lựa chọn bạn bè và đồng minh thích hợp mà kết giao nhằm đối trọng với kẻ láng giềng tham tàn này. Chỉ cần biết đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết thì theo logic bình thường, đương nhiên đảng, nhà nước Việt Nam sẽ bắt tay làm bạn với Mỹ, Châu Âu, Anh, Nhật, Úc, Ấn, Hàn...chứ không thể nào lại đi ôm vai bá cổ Trung Quốc, kẻ luôn có dã tâm cướp đất cướp biển của ta cho được. Phải nói tất cả các hệ lụy lớn nhỏ xuất phát từ Trung Quốc đều có nguyên nhân xâu xa từ việc xác định sai “coi thù thành bạn” này. Hậu quả là chúng ta mất dần biển đảo từ Hoàng Sa tới Trường Sa, mất luôn hàng ngàn km2 đất biên giới nên Ải Nam Quan xưa giờ trở thành “Hận Nam Quan” nay, “Ải Chi Lăng” và “Thác Bản Giốc” giờ lùi xa vào trong lãnh thổ Trung Quốc, chưa kể tàu ngư dân bám biển của ta bị chúng đâm húc như cơm bữa, và rồi cũng đâu phải hèn hạ gọi chúng là “tàu lạ”, “nước lạ”, “máy bay lạ”, “cá mập lạ”..?

Trong bối cảnh đó, phát biểu của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc trong Hội Chợ Thượng Hải ngày 4/11/2018 “Hoan Nghênh Sáng Kiến Vành Đai-Con Đường Của Trung Quốc” chỉ có thể được thông cảm phần nào nếu đây là câu ngoại giao cửa miệng. Thế giới đang lên án chương trình này của Trung Quốc vì tính gài bẫy bá đạo của nó. Xu thế chủ đạo trong khu vực bây giờ là “thoát Trung” như Malaysia, Indonesia và cả Philippines đang thực hiện. Xa ra hơn một chút là cả Bắc Hàn, Mông Cổ và các nước Trung Á...cũng ngày càng rời xa quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc nhờ vào sự rắn tay triệt hạ chính quyền Tập Cận Bình của Tổng Thống Donald Trump. Cho dù kết quả bầu cử giữa kỳ của Mỹ có như thế nào đi nữa, chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ vẫn không thay đổi. Vậy hà cớ gì Việt Nam ta không tận dụng thời cơ này để thoát Tàu, mà lại đi xích gần hơn với nó? Có nghịch lý không? Hỏi là đã trả lời.

Ủng hộ “Sáng Kiến Vành Đai-Con Đường” nghĩa là mặc nhiên phải cho thông qua Luật Đặc Khu 99 năm đầy nguy hại vì Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc nằm trên trục đường của sáng kiến này. Đây còn là cái bẫy “nhượng địa” mà Trung Quốc đã áp dụng thành công ở nhiều nước như Sri-Lanka, Pakistan, Etiopia, Lào, Campuchia...Điều này cũng có nghĩa là Luật An Ninh Mạng sẽ được áp dụng để trấn áp dư luận, hỗ trợ cho Luật Đặc Khu. Phải nhìn như thế này mới thấu rõ sự nguy hại của 2 bộ luật nêu trên: Luật Đặc Khu vô hình trung tiếp tay cho “Sáng Kiến Vành Đai-Con Đường” thâu tóm đất đai cảng biển núi đảo của Việt Nam cho Tàu, còn Luật An Ninh Mạng thực chất là một phần cấu thành của “Hiểm Họa Toàn Cầu Từ Nền Chuyên Chế Kỹ Thuật Số Của Trung Quốc” được xuất khẩu sang Việt Nam (14). Nguy hiểm và thâm độc là ở chỗ này.

Dù hết sức bi quan trước thái độ lụy Tàu của nhiều thế hệ lãnh đạo, cũng như vô cùng thất vọng trước mức độ tâm và tầm rất thấp của nhiều vị bộ trưởng đương nhiệm, nhất là ở các bộ Giáo Dục, Y Tế, Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch, với bao nỗi đau buồn qua các sự cố cướp đất trắng trợn ở như ở Thủ Thiêm và các tỉnh thành khác, cùng nhiều cuộc bắt bớ cấp tập gần đây, nhưng người dân Việt lại tràn trề hy vọng vì rằng đất nước đang cận kề vận hội đổi thay triệt để theo nguyên lý phổ quát của vũ trụ trong Kinh Dịch: "Cùng Biến Thông Cửu": “Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu". Sự vật khi đi tới thái cực của nó (tận cùng phát triển, tận cùng hư hoại...) ắt sẽ đổi thay. Đổi thay để hanh thông. Hanh thông để trường cửu, nhất là khi yếu tố “Thiên Thời” đang đến rất rõ từ Mỹ, miễn là phải có sự đoàn kết và hòa hợp dân tộc thật sự, có khi phải là nghĩa cử "tắm" cho nhau như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã làm cho Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải ngày xưa

Hy vọng lắm thay!

1. http://huynhngocchenh.blogspot.com/…/viet-nam-xu-so-cua-ngh…

2. https://www.facebook.com/100003703170197/posts/1193405307459564/

3. http://m.tinhhoa.net/luat-su-nhat-ngay-cang-ngheo-kho-vi-ti…

4. https://m.baomoi.com/quoc-gia-phai-dong-cua-…/c/26604450.epi

5. http://baoquangnam.vn/…/thoi-dai-ho-chi-minh-la-t…/index.htm

6a. http://m.vietnamnet.vn/…/nhin-tong-quat-dat-nuoc-co-bao-gio…

6b. http://m.plo.vn/…/giao-duc-cua-chung-ta-chua-bao-gio-duoc-n…

7. https://www.google.com.vn/…/tong-bi-thu-de-phong-the-luc-mu…

8. http://m.trandaiquang.org/dai-cuc-cua-trung-quoc-va-lua-cho…

9 & 10. http://toquoc.vn/khong-mo-ho-16-chu-vang-va-4-tot-99124137.…

11. https://m.dantri.com.vn/…/cho-phep-thanh-toan-nhan-dan-te-o…

12. https://news.zing.vn/hoa-qua-trung-quoc-sap-vao-viet-nam-vo…

http://m.baodatviet.vn/…/nhieu-hang-nhap-trung-quoc-thue-0…/

https://nld.com.vn/…/nguoi-trung-quoc-duoc-lai-xe-vao-viet-…

13. https://m.trithucvn.net/…/thu-tuong-hoan-nghenh-sang-kien-v…

14. https://www.google.com.vn/…/46d6d99c-dd40-11e8-b3f0-6260728…


fb Nguyen Hoang Dung

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

ĐÀN BÀ

Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được.
Anh có thể thiếu rượu,
thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đàn bà.
Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn.

Bận rộn như hoàng đế Napoleon, xông pha trận mạc khắp các chiến trường châu Âu mà vẫn không thể thiếu đàn bà.

Chiến tranh quyết liệt,
căng thẳng như ở lòng chảo Điện Biên năm 1954 mà tướng De Castries vẫn cần một cô nhà báo xinh đẹp làm thư ký riêng.
“Giai nhân tự cổ như danh tướng”.
Người Trung Quốc xưa đã nói như vậy.

Đàn bà là một nửa cuộc đời của đàn ông.
Đàn ông càng làm việc nhiều, càng kiếm tiền giỏi càng cần có đàn bà, nếu không họ sẽ bị stress.

Người Nhật Bản nói:
“Vắng đàn bà nhà hóa mồ côi”.

Đàn bà là thiên thần hay quỷ dữ?

Thưa rằng trong mỗi người đàn bà có cả hai thứ đó, họ vừa là thiên thần, lại vừa là quỷ dữ.

Đàn bà còn đẹp hơn tất cả các loài hoa.
Lực hấp dẫn của đàn bà rất mạnh mẽ.
Phái đẹp là thỏi nam châm mà giới mày râu là đám mạt sắt nhỏ nhoi.
Hễ người đẹp xuất hiện là những đôi mắt của cánh đàn ông sáng bừng lên, ham muốn, thèm khát và chỉ cần một cái vẫy tay,
một cái liếc mắt là đàn ông có thể đổ ngay.
Tất cả các hoàng đế mạnh nhất từ xưa tới nay đều thử sức với đàn bà và đều đã thất bại.
Chính đàn ông làm cho đàn bà thành thiên thần, cũng chính đàn ông khiến đàn bà thành quỷ dữ.

Nguy hiểm nhất cũng là đàn bà.

Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì mỹ nhân kế là hiểm nhất. Đổng Trác hùng mạnh thế mà phải chết vì Điêu Thuyền,

Từ Hải anh hùng thế mà phải chết đứng vì Thúy Kiều,

Phù Sai quyền lực thế mà phải chết vì Tây Thi…

Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông.

Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông.

Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.

Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được.
Anh có thể thiếu rượu,
thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đàn bà.

Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn.

Đại văn hào Victo Hugo đã viết rằng:
“Ai cũng có thể tin, cái gì cũng có thể tin, trừ đàn bà”.

Khi đàn bà là thiên thần thì họ là người tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất.
Nhưng khi đàn bà là quỷ dữ thì họ trở nên nguy hiểm nhất.

Song cũng vì tính chất hai mặt này của đàn bà mà họ trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn đối với đàn ông, vì đàn ông ham chơi mà trò chơi nếu thiếu tính mạo hiểm thì không hấp dẫn.
Đàn bà ma lực như thương trường,
bất trắc như thương trường, nhiều rủi ro như thương trường.
Vì tôn thờ tình yêu nên cuối đời đàn bà không biết ai yêu mình.

Vì chạy theo đàn bà nên cuối đời người đàn ông không biết mình yêu ai.

Đàn bà là gì? Đàn bà là ai?

Những câu hỏi đó suốt đời đàn ông không thể trả lời được một cách trọn vẹn.

Song cũng vì thế mà suốt đời đàn ông cứ si mê đàn bà.
Nếu đàn bà như chiếc bánh,
bóc lá ra là thấy được hết cả nhân lẫn bột thì đàn ông sẽ chán ngay và sự nhàm chán là kẻ tử thù của tình yêu còn sự bí ẩn là chất xúc tác của tình yêu.

Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông.
Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông.

Phạm Xen

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

CẢM NHẬN

1. Đó là một buổi tối rất bình yên, cả nhà tôi đang cùng xem bộ phim truyền hình yêu thích thì chuông điện thoại reo. Mẹ nhấc máy. Chăm chú lắng nghe, nói “Vậy à, vậy à, ừ…”. Rồi đặt máy. Tôi thoáng thấy mẹ làm một việc rất lạ nữa rút “giắc” cắm điện thoại. Rồi mẹ lại cùng bố con tôi xem phim. Đó là đêm cháy chợ Đồng Xuân. Bạn hàng hốt hoảng báo cho mẹ biết là lửa đã cháy đến sạp vải của nhà chúng tôi. Sau đó là những năm vay mượn, đầu tắt mặt tối, gây dựng lại từ đầu. Có lần tôi hỏi mẹ về tối hôm đó, mẹ trả lời êm ả: “Mẹ không muốn bố cuống lên rồi lao đến đó, nhỡ có làm sao…”. Cả cơ nghiệp lao đao, nhưng trong giây phút đó, mẹ chỉ nghĩ đến bố tôi.

2. Chị tôi dành dụm vốn liếng định mua một mảnh đất ở ngoại thành. Hẹn được với người ta mang tiền đến đặt cọc, chị vội vã gọi taxi. Dọc đường, chị bắt gặp một đoàn nam phụ lão ấu hớt hơ hớt hải bồng một cô bé bị trâu húc vẫy xe xin đi nhờ lên Hà Nội cấp cứu. Chị tôi lập tức bảo anh lái xe quay xe, đưa cô bé con, người mẹ, và cả chị thẳng về Hà Nội. Mẹ cô bé tê liệt vì sợ hãi, chỉ biết ôm con khóc ròng. Một mình chị lo toan cho cô bé vào phòng cấp cứu, nhập viện, thậm chí đóng luôn cả tiền viện phí khi biết người mẹ không có nổi 100 nghìn trong túi… Khi chắc chắn là cô bé an toàn, chị mới trở về nhà. Không bao giờ nhắc đến chuyến xe ấy tốn kém bao nhiêu, tiền viện phí thế nào, hay buồn vì mảnh đất ưng ý kia không kịp đặt cọc đã qua tay người khác. Và cứ đến Tết, nhà chị lại có thêm những người khách từ quê ra.

3. Cha tôi là một người thành đạt, cha rất yêu công việc, đi sớm về khuya, mất ăn mất ngủ. Còn mẹ tôi, trong mắt mọi người, là một phụ nữ thật bình thường với những lo toan giản dị. Nhưng có lần cha nói với tôi rằng dù cha rất yêu thích công việc nhưng cha không cần nó, cũng như cha cũng chẳng cần lắm nhà cửa, tiền bạc. Tất cả những gì cha cần là mẹ, có mẹ là cha có tất cả, kể cả những thứ rất quý giá, như là… chúng tôi.

Đôi khi bạn phải ngạc nhiên về những người mà bạn yêu quý. Sự an nhiên nơi tâm hồn họ. Những quyết định đơn giản mà quyết liệt. Sự bình thản của họ trước những thứ tưởng chừng rất quan trọng, nhưng lại không thật sự quan trọng. Cái cách mà họ tha thiết với con người giản đơn, nhưng mãnh liệt. Nhưng hiểu được họ, bạn sẽ hiểu được niềm vui của thuỷ thủ đoàn khi nhìn thấy đất liền, của khách lữ hành khi nhìn thấy làng mạc, của nhà du hành vũ trụ qua khung cửa tàu nhìn thấy Trái Đất, của Robinson khi có được Thứ Sáu,nụ cười âu yếm của bất kỳ ai khi thấy một em bé sơ sinh. Cả việc tại sao, con người cứ mải mê tìm kiếm những nền văn minh ngoài Trái Đất… Và nỗi đau đớn khôn nguôi trào ra thành nước mắt và tiếng thét khi con người vì thiên tai, vì chiến tranh, vì bệnh tật, mà phải mất nhau trong cõi nhân gian…

Liệu bạn có nhận thấy, điều mà con người cần nhất trên thế gian này không phải danh vọng, không phải tiền bạc, không phải nhà cửa, không phải đất đai…

Bạn có nhận ra không, điều mà Con Người cần nhất chính là “Con Người”…

Nguồn: ST
FB Phạm Hương chia sẻ



Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

QUÊ HƯƠNG...CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM?!

Tôi tìm gì ở ngoài kia, nơi mà mọi người vẫn dùng những mỹ từ tuyệt nhất để gọi? Quê hương.

Quê hương có gì lạ không em?

Trong số hàng trăm email tôi nhận mỗi tuần, một câu hỏi nhẹ nhàng chợt làm tôi liên tưởng đến chuyện ngày xưa của mình:
“Em có nên về quê hương?”. Người viết là một sinh viên Việt Nam sắp tốt nghiệp MBA vào tháng 6 tới, có cơ hội để ở lại Mỹ, nhưng phân vân vì nghĩ là quê hương đang cần bàn tay khối óc của mình. Anh cũng nhận xét là cơ hội để tỏa sáng ở một ao hồ như Việt Nam cao và hấp dẫn hơn là làm một nhân viên trung bình tại biển lớn như xứ Mỹ.

Cuối năm 1967, giữa khi đất nước đang còn chiến tranh mù mịt, tôi lửng thửng từ Mỹ quay về Sài Gòn.
Gia đình, bạn bè đều ngạc nhiên và khuyên tôi lên bệnh viện Biên Hòa khám tâm thần. Nhưng thời thế đẩy đưa, họ lại còn ngạc nhiên hơn nữa, khi vài năm sau, tôi làm chủ 5 xí nghiệp với hơn 12 ngàn công nhân. Dù sự thành công phần lớn là do may mắn, nhưng quyết định về Việt Nam của tôi đã đem cho tôi những trải nghiệm tuyệt vời, kỳ thú, dù cũng lắm lúc đầy đau thương cay đắng.

Sự quyến luyến với quê hương cũng là những cảm xúc không thể lý giải rõ ràng. Tôi rời quê nhà lúc 18 tuổi, khi trái tim vừa biết mật ngọt của tình yêu, khi giao cảm với cuộc sống còn đượm màu thiên nhiên của cây xanh hoa trái trong mưa nắng hai mùa. Tiềm thức vẫn còn in đậm nét của những kỹ niệm, dù có buồn có vui nhưng nhìn lại thì lúc nào cũng đẹp, nên quyết định quay về có lẽ vẫn là một lực đẩy tiềm ẩn trong tâm hồn, bén rễ sâu hơn lý trí.

Nhưng khi trả lời email cho người bạn trẻ của tôi, tôi phải làm một phân tích theo góc nhìn của một người thứ ba, khách quan và trung thực.
Với một người trẻ vừa ra khỏi trường đại học, nói tổng quan, xứ Mỹ là một thiên đường của cơ hội, một sân chơi bằng phẵng và một lò huấn luyện cho các doanh nhân những kỹ năng chuyên sâu và hợp thời nhất.
Mỗi thành công là một bước tiến kỳ diệu, mỗi thất bại là một bài học vô giá cho sự nghiệp về sau. Thêm vào đó, khắp thế giới, không có một thị trường nào lớn, năng động và đồng nhất như Mỹ. Về những ngành nghề đòi hỏi công nghệ cao như IT, tài chánh, y khoa, giải trí, quốc phòng…, các quốc gia mới nỗi như Trung Quốc, Brasil…hay già cỗi như Âu Châu Nhật Bản, còn cần đến nhiều thập niên mới bắt kịp. Thu nhập trung bình hàng năm của một chuyên gia trong các ngành nghề sáng tạo này khoảng $137,000 USD vẫn cao hơn lợi nhuận của rất nhiều doanh nghiệp cỡ trung ở Việt Nam. Do đó, nếu chỉ nghĩ đến tương lai sự nghiệp lâu dài và bền vững, thì các bạn trẻ mới tốt nghiệp đại học sẽ khó tìm một nơi nào “ngon lành” hơn nước Mỹ.

Tuy nhiên, tôi cũng hiểu là đời sống thường nhật của một người Mỹ thường chịu nhiều áp lực về công việc, gia đình, nợ nần (do sự vay mượn quá dễ dàng) và thói quen tiêu xài. Những áp lực về lâu về dài sẽ gây ra những căn bệnh như tim mạch, ung thư…

Sự chăm chú vào sự nghiệp làm xao lãng những liên hệ gia đình và bạn bè, nên rất nhiều người Mỹ phải than phiền về sự cô đơn trong cuộc sống.

Tóm lại, cái giá phải trả cho một sự nghiệp tốt và bền vững có thể là hạnh phúc của cá nhân và gia đình.

So sánh với Mỹ, thì cơ hội để tìm một việc làm thích hợp và hứng thú tại Việt Nam cho một sinh viên vừa tốt nghiệp không có nhiều. Những kỹ năng gì mà trường đại học Mỹ đã đào tạo cho các bạn trẻ sẽ chóng bị lãng quên vì môi trường làm việc và sự thăng tiến của sự nghiệp không đặt trên căn bản “tài năng” hay “sáng tạo”.

Sau nhiều năm làm việc ở Việt Nam, một chuyên gia có thể bị tụt hậu rất xa về thu nhập cũng như về kinh nghiệm so với các đồng nghiệp tại Âu Mỹ.

Tuy nhiên, đời sống ở Việt Nam tương đối thư giãn và nhẹ nhàng. Người Việt Nam được xếp hạng là dân xài sang nhất Á Châu (từ tiêu dùng đến giải trí) nói rõ hiện tượng vui hưởng tận cùng, không cần biết đến ngày mai. Gia đình và bạn bè lúc nào cũng bao quanh, chia sẻ cho nhau những tiếng cười lẫn nước mắt, những giúp đỡ lẫn đòi hỏi. Mặc cho một môi trường tệ hại về khói bụi và ô nhiễm, căn bệnh thường thấy ở nước ta là bệnh về gan, mật (vì nhậu quá nhiều) và phổi, ung thư cổ họng (vì hút thuốc, không phải bụi khói).

Riêng về kinh doanh, đúng như bạn sinh viên MBA đã nói, khả năng thành công ở một sân chơi nhỏ như VN sẽ dễ dàng hơn, nhất là nếu may mắn sinh ra trong một gia đình có nhiều quan hệ với các “nhân vật” của xã hội. Tuy vậy, sự thành công này thường giới hạn ở lãnh thổ nước ta: tôi chưa thấy một doanh nghiệp Việt Nam nào thành công rực rỡ khi ra biển lớn. Trong khi đó, không thiếu những doanh nhân Việt kiều tại Mỹ, Âu Châu và Úc đã đạt những thành tích làm mọi người chúng ta hãnh diện.

Do đó, nếu có một lời khuyên cho các bạn trẻ đang bước vào đời từ đại học, tôi sẽ phải nói là nên tìm cách ở lại Âu Mỹ để tìm thêm kinh nghiệm, kiếm thêm ít tiền tiết kiệm, và tạo thêm những mối quan hệ cần thiết tại xứ người. Sau đó, nếu thực sự muốn về quê hương đóng góp trí tuệ và tâm sức, thì nước ta vẫn còn đây và nhu cầu về nhân lực cấp cao vẫn sẽ rất nhiều, trong 5 hay 10 năm tới. Lúc đó, bạn đã có một số vốn khá tốt về kỹ năng, kinh nghiệm cũng như khả năng giao tiếp với quốc tế.
Như bố tôi vẫn thường nói khi sinh tiền:
“Con muốn giúp một người nghèo, thì đừng bao giờ làm một người nghèo. Thế giới này hơi dư người nghèo rồi”

Nói theo lý trí thì vậy, nhưng trong lòng tôi vẫn còn những gắn bó không sao lý giải với quê hương. Gần đây, tôi thường về lại Sài Gòn ngay trong những ngày đang bận rộn công việc.

Tôi về đây không phải để kinh doanh:
Trong một hội thảo của doanh nhân người Việt ở San Jose tháng rồi, tôi nói là các bạn muốn làm ăn thành công ở Việt Nam phải thay đổi và làm theo cái tư duy của người Việt Nam.

Giống như lái xe trên các đường phố ở Hà Nội hay Saigon bạn sẽ gây ra không biết bao nhiêu tai nạn nếu bạn khăng khăng giữ cái tư duy của người Mỹ về luật lệ hay phản ứng của các tài xế xe khác.

Tôi cũng không về để ăn chơi:
Tôi không thích ăn nhậu vì sức khỏe không cho phép; và ở tuổi 66, với bệnh đãng trí, tôi thường quên không biết phải làm gì khi đối diện với một cô gái đẹp.

Tôi cũng không mơ mộng để mà tưởng tượng “quê hương là chùm khế ngọt”. Tôi không ăn khế và luôn nghĩ là rau quả ở Thái Lan ngon ngọt và tươi mát hơn.

Còn đi tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì thực sự dòng đời dâu biển và văn hóa mới đã cuốn trôi theo chiều gió những dấu vết của quá khứ. Những con đường lá me đầy bóng mát khu đại học đã bị chặt trụi và hè đường là một bãi đậu xe mênh mông, chen lẫn những quán cóc dơ dáy, đầy rác rưởi. Những tà áo tím e ấp bên dòng sông Hương đã đi về đâu, chỉ còn những bộ âu phục lỗi thời, quê mùa và lạc giọng.

Những mẫu chuyện cười nhỏ bé dễ thương của tuổi trẻ trong quán café đã được thay thế bằng những lời chào mua bán dự án hay các khẩu hiệu khó khăn rỗng tuếch.

Vậy tại sao tôi vẫn hay về đây? Tôi tìm gì ở ngoài kia, nơi mà mọi người vẫn dùng những mỹ từ tuyệt nhất để gọi? “Quê hương”.

Cái âu yếm êm đềm khi thả hồn vào những đêm thao thức?
Hay cái hoang tưởng thơ mộng về những con người hiền hòa bên ruộng lúa tre xanh?

Cho đến khi tôi đọc lại bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan về những nghịch lý của cuộc đời, tôi mới thấu hiểu là mỗi người trong chúng ta đều có những tâm hồn tơi tả như những chiếc áo rách vai của anh lính trẻ, luôn đi tìm một nơi hay một người để khâu vá lại.

Sau cùng, tôi muốn nói với người bạn trẻ vừa quen qua Email:

“Hãy quên đi những phân tích, lý luận, biện giải về quê hương. Em cứ nhìn vào tận đáy thẳm của tâm hồn và tự hỏi mình, trong những buổi chiều mưa xa xứ, có lúc nào em như người lính trẻ, nhớ về một hình bóng nào đó, và muốn hát trong màu hoa tím của ngày xưa:
“Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớm. mẹ già chưa khâu

Alan Phan

FB Phạm Xen chia sẻ 5/3/2017

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

CHUYẾN TÀU ĐÊM (1).

Chuyến tàu đêm cuối năm con gà đưa tôi từ vùng đất văn chương nghệ thuật bay bướm nhưng hết sức lè phè của Paris trở về với nước Đức triết học kỷ luật chặt chẽ lý luận thâm sâu. Văn chương bay bướm hay triết học khô khan vốn từ lâu không thích hợp với những người Sài Gòn xuề xòa đơn giản thích ca vọng cổ: Thương em chẳng biết để đâu, để trong khẩu súng lâu lâu anh bóp cò.

Tàu chạy êm ru nhưng không thể ngủ được vì còn nhớ cảnh bạn bè cũ kỷ già chát chia tay lưu luyến run rẩy vì lạnh giá trên sân Gare de l’Est. Không thể ngủ được cũng vì khách đang ngồi tại băng ghế phía đối diện là hai anh chàng “rệp” mà xem ra dáng vẻ cũng chẳng được đàng hoàng. Mắt họ cứ láo liên nhìn lén tôi. Nhớ hôm còn ở Paris một người trong đoàn khi đi chơi phố một mình đã bị lấy mất chiếc điện thoại tại một trạm metro, người này kể lại có mấy người da màu làm bộ chen lấn lên tàu rồi ra tay móc túi. Cũng may không mất hộ chiếu, người này tự an ủi mà mặt buồn xo.

Một con mắt của tôi lim dim nhớ về những ngày xưa cũ, một con mắt lim dim để ý tới hai con “rệp” ngồi đối diện. Tôi rơi vào trạng thái triết học “song nhãn, nhị trùng”.

Nhìn mặt người mà bắt hình dong rồi suy ra tâm địa con người là không nên, nhưng biết làm sao bây giờ. Mấy người nhập cư da màu lúc này tung hoành làm ăn dữ lắm từ Pháp sang Đức. Tiếng Pháp của bọn chúng tôi khá lơ mơ, tiếng Đức thì mù tịt, còn tiếng Anh đủ để nghe và nói chớ viết thì hơi mệt. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì mà phải trình báo với cảnh sát bằng văn bản tiếng Anh thì sẽ rất lôi thôi vì có khi làm cho cảnh sát hiểu nhầm: Mình bị móc túi mà cảnh sát tưởng mình là thằng móc túi.

Nhìn hai con “rệp” rồi nhớ lại hồi nhỏ còn đi học ở Sài Gòn tôi cũng không được bạn bè tôn trọng lắm do cái dáng vẻ bên ngoài không hay. Thuở ấu thơ nghịch ngợm bị té nên lưng tôi gù. Tự an ủi: Coi lù đù vậy chớ lớn lên thường vác lu chạy tới chạy lui.

Năm lớp tám lớp chín bạn bè đọc được cuốn tiểu thuyết Pháp dịch ra tiếng Việt của nhà văn Victor Hugo nên trêu chọc tôi là “thằng gù ở nhà thờ Đức Bà Paris”. Mấy chục năm sau tình cờ có dịp gặp lại họ vẫn đùa như vậy nhưng tôi chẳng hề buồn, lại thấy nó hay hay. Dễ gì giống được một nhân vật trong tiểu thuyết Pháp suốt mấy chục năm dài như vậy?

Lên lớp 12 được học môn triết tôi có thêm cái tên khác là “Kant”. Kant một triết gia người Đức. Không phải tôi học giỏi môn triết như ông Kant, chẳng qua họ thấy hình dáng lúc đang tuổi dậy thì của tôi giống con Căng-gu-ru bên xứ Úc Châu, nên gọi tắt là Kant. Tôi cũng chẳng biết giận hờn, cũng chẳng thèm buồn. Ai muốn gọi tôi là “Thằng gù” cũng được mà gọi “Kant” cũng được.

Chương trình lớp 12 trung học ở Sài Gòn trước năm 1975 có dạy môn triết học (tư sản), đến sau năm 1975 thì chính quyền mới đã loại bỏ các môn học đó. Tùy theo từng ban A (sinh hóa), B (toán lý), C (văn chương), D (cổ ngữ)… mà số giờ triết học được dạy nhiều hay ít. Triết học hồi đó được phân ra các môn: đạo đức học, lý luận học, tâm lý học, siêu hình học. Hai thầy dạy triết năm 1974- 1975 tại trường VTT là thầy Nguyễn Phúc Lộc dạy lý luận và đạo đức, thầy Nguyễn Đình Sinh dạy tâm lý.

Môn siêu hình học chỉ dành cho học sinh lớp 12 ban C và ban D nhưng trường VTT vào niên khóa 1974- 1975 không đào tạo ban D, chỉ còn một lớp ban C rất ít học trò (khoảng mười lăm người). Mỗi lần tới giờ siêu hình học thì trường VTT gởi học trò ban C sang trường Petrus Ký (trường Lê Hồng Phong bây giờ) học nhờ vì tại trường VTT không có thầy dạy môn này.

Thú thực hồi trước 1975 học triết thì học cho sang vậy chớ chẳng học trò nào cùng lớp với tôi hiểu được gì. Hình như chương trình triết học lớp 12 là rập khuôn theo đúng chương trình của người Pháp để lại sau năm 1954 nên thuật ngữ triết học bằng tiếng Việt không được quen thuộc dễ nghe lắm với học trò trung học người Việt, nó lai giữa Tàu và Pháp. Học trò Pháp có tư tưởng triết học từ lâu, còn học trò Việt như bọn tôi hồi đó chắc chưa có.

Các thuật ngữ như: Bản ngã, tha nhân, nguyên nhân đệ nhất, hiện sinh, nhị trùng, siêu hình, phản đề, chính đề, tam đoạn luận… được đưa vào các đoạn văn dài lê thê rất khó nuốt. Nhà in in sai cũng nhiều chắc do thợ sắp chữ cũng không quen với mấy chữ lạ này.

Nếu để dành mớ sách vở triết học in trước năm 1975 cho tới tuổi bốn mươi chăm chú đọc lại thì may ra có thể hiểu được chút chút. Nhưng mà sau năm 1975 sách vở triết học in ở Sài Gòn bị coi như bất hợp pháp nên chắc chẳng học trò Sài Gòn nào dám giữ lại. Mà giữ lại chắc cũng chẳng ích lợi gì, chẳng thể hiểu thêm gì. Nhất là với hoàn cảnh cơm áo gạo tiền khó khăn sau năm 1975 thì việc đọc sách quả là xa xỉ.

Niên khóa 1974- 1975 trong chương trình lớp 12 còn có thêm được hai giờ Việt văn, trong khi ở các niên khóa trước thì lớp 12 chưa được học Việt văn. Thầy dạy môn Việt văn năm đó là thầy Lý Đức Cửu. Việt văn lớp 12 của niên khóa 1974- 1975 khác với các lớp dưới, có thể tạm gọi là “văn-triết”, tức pha giữa văn chương và triết học. Khổ nỗi, văn chương Việt vốn nghèo nàn còn triết học Việt thì coi như chưa bao giờ có, nên chương trình “văn-triết” là cái chi chi thì không trò nào hiểu được, mà chắc các thầy cũng bối rối chẳng biết phải dạy cái chi. Nhưng học trò phải ráng mà học gạo, vì cuối năm lớp 12 phải đi thi Tú tài, mà trước năm 1975 hễ thi cử thì phải thi đủ các môn chớ không phải chỉ thi ba hay bốn môn chính như thời bây giờ.

Ba thầy Lộc, Sinh, Cửu đều là người Bắc di cư đã tốt nghiệp trường Đại học Văn khoa và trường Đại học sư phạm tại Sài Gòn. Họ ăn nói rất lưu loát (người Bắc nhiều lý luận mà), trình độ sư phạm khá cao nhưng nói chung không thể nhét các thuật ngữ triết học hay văn triết lạ hoắc nửa Tàu nửa Tây vào đầu học trò được.

Sau năm 1975 tôi thấy chương trình triết học Mác-Lê và các chương trình lịch sử, kinh tế chính trị được dạy trong các trường đại học cũng vấp phải các khó khăn tương tự, do nguyên nhân và kết quả khá giống nhau: Cả thầy lẫn trò chắc chẳng ai hiểu được con mẹ gì hết để mà dạy và học!

Với lại... tại các nước khác như bên Nga hay bên các nước Đông Âu người ta đã từ bỏ hết, đoạn tuyệt hết với các môn học cà chớn kiểu đó lâu rồi, chỉ có nước mình là thích làm chuyện khác người ráng mà giữ lại. Nhiều người nói do đã mấy chục năm đào tạo ra quá nhiều giáo viên dạy mấy môn đó, nay bỏ đi thì số người dư dôi này biết nhét vô đâu?

Hồi học đại học sau năm 1975 mỗi lần thi các môn triết Mác-Lê hay lịch sử mới, kinh tế chính trị… bọn sinh viên chỉ mong được năm điểm, thầy giáo thường coi mặt mà bắt hình dong chấm điểm, thằng nào vào lớp chăm chỉ và tính tình dễ thương thì cho ngay năm điểm. Có thầy còn chấm điểm chữ đẹp và viết sạch nữa. Việc quay cóp viết bài thi y như trong sách cũng khá bình thường, các thầy biết hết nhưng làm lơ. Có thầy còn nói: Phải viết cho giống trong sách, đứa nào tự sáng tác mà sai quan điểm là coi chừng!

Bốn chục năm qua đường đời trắc trở, bọn học trò VTT niên khóa 1974- 1975 chỉ còn một ít ở lại Sài Gòn, số nhiều đã tìm cách qua Mỹ và Châu Âu sống. Cả thầy lẫn trò cũng có người hát “Ok, mình chia tay” với trần thế từ lâu lắm rồi, nhất là chết chìm ngoài biển trong thời gian có phong trào vượt biên. Thầy Lộc mất sớm vì ung thư, thầy Sinh và thầy Cửu hình như còn tiếp tục đi dạy nhưng xuống làm giáo viên cấp hai. Tôi cũng không gặp lại các thầy ấy sau năm 1975 vì phải bỏ Sài Gòn đi lao động kiếm cơm ở vùng xa khá sớm.

Học triết suốt một năm lớp 12 mà tới giờ tôi chỉ nhớ được một hai câu dễ nhớ. Đó là: “Triết học là môn học để đi tìm nguyên nhân đệ nhất” và “Chẳng ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”. Năm 1985 bắt đầu làm nghề sông nước, ngày nào cũng chuổng cời tắm sông, có khi tôi tắm trên cùng một dòng sông tới mấy chục lần, nên chẳng hiểu tại sao người xưa dạy học trò cái câu chi mà lạ vậy?

Câu hỏi “nguyên nhân đệ nhất” hay những câu hỏi “tại sao” đeo bám cuộc đời của mỗi người học trò cho tới chết: Mình là ai? Là người hay là con Căng-gu-ru? Tại sao trên cuộc đời này lại hiện hữu cái mặt mốc xấu quéc của mình? Mình có thể thay đổi số phận và nhan sắc được không? Khi chết đi thì mình sẽ thành cái con gì? Trí thức có linh hồn thiêng liêng cao quí hay nói như Mao: Trí thức là cục cứt?

Năm nay đã sáu mươi rồi, những câu hỏi đó mình không thể tự trả lời mà cũng chẳng ai trả lời giùm, nên cứ thắc mắc và chắc chắn là thắc mắc cho tới chết. Lim dim nhìn hai con “rệp” lại tự hỏi: Ta sao ta với mi rất khác nhau? Tại sao ta nghi ngờ mi sẽ móc túi ta trong khi ta với mi cũng cùng là con người?

Những câu hỏi đó quả thực là những câu hỏi triết học, nó cùng với những câu hỏi đời thường chẳng ai giải thích được hay đã từng được giải thích nhiều lần rồi mà chẳng ai đồng ý với ai.

28/02/2018.
Momentatary

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

FACEBOOK VÀ TIỀN NHÂN

Các Đức/Đấng/Vĩ nhân xưa nếu vào Facebook sẽ nói gì?

.

Khổng Tử hỏi: "Thế nào là người TRÍ, thế nào là người NHÂN ?"
.
Tử Cống trả lời: "Người TRÍ là người làm người khác SHARE mình, người NHÂN là người làm người khác LIKE mình"
.
Tử Lộ đáp: "Người TRÍ là người SHARE người khác, người NHÂN là người LIKE người khác"
.
Nhan Hồi thưa: "Người TRÍ là người tự SHARE mình, người NHÂN là người tự LIKE mình"
.
Khổng Tử lại dạy: "Điều mình không LIKE thì đừng mang câu LIKE người khác" (Thị lai huyễn ngã vật thi ư nhân)
.
Shakespear thì viết stt: "Likes Lie Like Night Light" (Những cái like dối trá giống như ánh sáng màn đêm, hơi ngọng l n)
.
Marx viết trong Câu Like Luận: "Đối với bọn ngàn like thì để có like sẽ bỏ qua thuần phong mỹ tục, like tăng gấp đôi sẽ bất chấp cả luật pháp, còn tăng gấp ba thì bị treo cổ vẫn sẽ làm"
.
Một thiền sư trên đường giác ngộ góp ý: "Lai Như Không Lai, Không Lai Như Lai"
.
Đức Phật dạy: "Câu view câu like là nguồn gốc vô minh". Người còn răn: "Đừng cầu like vì nhiều like thì tâm sinh ngạo mạn"
.
Còn Chúa Jesus lại phán rằng: "Phúc cho những kẻ không thích mà like"
.
Haizz… !!!!

Bạn ta Tửu Hậu Trà Dư sưu tầm
Bạn ta Cong Le góp ý :

Vừa Share,vừa Like=xuống hố cả nút...

VŨ CA

5/1/2017

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG

CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG ( SIDDHARTHA)
Hermann Hesse
Quyển "Câu Chuyện Dòng Sông" dịch từ truyện " Siddhartha" trong tập Weg Nach Innen ( Đường về nội tâm) của Hermann Hesse .
Hermann Hesse là một văn hào của văn học Đức thế kỷ XX, sống cùng thế hệ Thomas Mann, Werfel, Wassermann, & E.V. Salomon.
Hermann Hesse  sinh năm 1877, được thưởng giải Nobel năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904) Demian (1919) Der Steppeppwolf (1927) Narziss und Goldmund (1930) Das Glaserlenspiel(1943).
Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt:
"Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này’’
Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển Câu chuyện dòng sông.
Đọc Câu chuyện dòng sông, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. Câu chuyện dòng sông là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta: đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tận.
"Câu Chuyện Dòng Sông "của Hermann Hesse là chuyện về chàng Tất Đạt  người đi tìm phương cách cởi bỏ nỗi khổ trần gian hướng tới một thế giới tâm linh giải thoát. Ban đầu chàng tu khổ hạnh, rồi sau bỏ theo đức Phật nghe thuyết pháp. Rồi vẫn không thỏa lòng, giống như các thiền giả trải nghiệm một công án, chàng dấn thân vào đời thực, thử sống như một con buôn kinh qua chuyện kinh doanh buôn bán, rồi lại hưởng thụ thú vui nhục thể với một người đẹp. Tâm linh, trí tuệ, nhục cảm, đó là những mặt khác nhau của thế giới mà Tất Đạt trải nghiệm trước khi tìm ra con đường thật mà mình phải đi.
Tất Đạt khởi từ những thắc mắc về cha mình,  tu sĩ Bà la môn:
“Ông sống một đời sống tốt đẹp, lời nói thì khôn ngoan, tư tưởng thì thanh cao, tế nhị -- nhưng cả đến ông, người biết nhiều như thế, ông sống có hạnh phúc chăng? Có được bình an chăng? Ông lại không là người không ngớt tìm kiếm đó sao? Ông lại không liên tục tìm đến nguồn với cơn khát không bao giờ được thoả mãn đó sao?”…
Và:
“Thế thì linh hồn không có ở trong cha hay sao? Nguồn suối không có sẵn trong chính tâm ông sao?”
“Người ta phải tìm thấy nguồn ở ngay trong tự thân mình, phải chiếm hữu nó. Mọi việc làm khác đều là mò mẫm sai lầm.”
Đây đâu phải là ý nghĩ của riêng Tất đạt, nó là ý nghĩ của tất cả chúng ta, cái tuổi của những bất mãn về cuộc đời.
“Chàng nhìn những thương gia buôn bán, các ông hoàng đi săn, những người tang chế khóc người chết, những người kỹ nữ bán thân, các bác sĩ săn sóc bệnh, những tình nhân đang tình tự, những người mẹ đang vỗ về con. Và tất cả không đáng một cái nhìn thoáng qua, tất cả đều lừa dối: hạnh phúc và sắc đẹp đều là ảo ảnh của giác quan -- tất cả đều đưa về huỷ diệt. Thế gian đượm vị đắng cay. Cuộc đời là nỗi đau khổ.”
Tất Đạt chỉ có một mục đích duy nhất là trở thành trầm tĩnh. Không khao khát, không ham muốn, không mộng mị, không vui và không buồn. Để cho cái ngã tiêu diệt – không còn ngã nữa, chứng nghiệm được sự bình an của một tâm hồn tịch mịch, chứng nghiệm tâm linh thuần tuý”.
Chàng sống khổ hạnh, khắc kỷ như rất nhiều thanh niên đã thử trải nghiệm, dưới một hình thức nào đó…
“Chàng phiêu du qua các đoạn đường diệt ngã bằng khổ đau, qua sự đau khổ tự nguyện và chiến thắng khổ đau, qua đói khát và mệt nhọc. Chàng phiêu lưu qua những con đường diệt ngã bằng trầm tư, bằng gạn lọc khỏi tư tưởng sạch hết mọi hình ảnh. Chàng đã học trải qua những con đường này và những con đường khác. Chàng diệt ngã được một nghìn lần và có những ngày chàng đã sống trong phi ngã.”
“Những con đường đưa chàng ra khỏi ngã, cuối cùng chúng luôn luôn đưa chàng trở lại ngã. Mặc dầu Tất Đạt rời bỏ ngã một ngàn lần, sống bằng phi ngã trong con vật hay đá, đất, sự trở lại vẫn không thể tránh”.
Chàng chứng nghiệm về tu khổ hạnh, như nhiều chàng tuổi trẻ trong chúng ta đã chứng nghiệm, bằng cách này hay cách khác.
“Thiền quán là gì? Bỏ quên tự thân là gì? Nhịn đói là gì? Điều hoà hơi thở là gì? Đó là sự vượt ra ngoài Tự ngã, đó là sự vượt ra ngoài dày vò của Tự ngã trong nhất thời, những viên thuốc tạm bợ chống lại đau khổ và điên đảo cuộc đời: người đánh xe bò cũng dùng lối thoát đó, phương thuốc nhất thời đó khi ông ta uống ít chén rượu nếp trong quán; ông ta không còn cảm thấy có mình nữa, không còn cảm thấy khổ đau của cuộc đời, và như thế, ông chứng nghiệm sự thoát ly trong chốc lát. Gục trên chén rượu nếp, ông ta biết được cái mà Tất Đạt và Thiện Hữu tìm thấy khi chúng ta thoát khỏi tự thân bằng những tập luyện dài và sống trong vô ngã.”
Rồi chàng gặp đức Phật, thấy ở người vị thày thánh thiện mà mình tìm kiếm, nhưng cũng đồng thời thấy rằng phải tự mình tìm ra con đường cho chính mình. Không theo đức phật như bạn chàng là Thiện Hữu, chàng quyết định từ giã ra đi…
Chàng gia nhập cuộc đời trần thế.
Chương “Giữa Xã Hội” đầy những tư tưởng minh triết một cách lạ lùng về cuộc sống của loài người. Tất Đạt tìm hiểu và sống giữa trần thế với phong cách ung dung như một sa môn giữa chúng sinh.
Nhưng rồi chàng bắt đầu chán ghét cuôc sống đó, nó đã biến đổi con người chàng thanh tầm thường dung tục, và chàng cảm nghiệm được điều đó. Một lần nữa chàng muốn thoát ra…
Chàng sẽ tiếp tục tìm kiếm chính từ tâm tưởng mình qua một đối tác là dòng sông. Nói chuyện với dòng sông cũng là nói chuyện với chính mình.
Tất Đạt rồi cũng tìm được điều mình đã tìm
Tất Đạt về với dòng sông.
Chỉ còn người đọc là lan man phương trời miên viển
Đoạn cuối “Câu chuyện của Dòng Sông” Hesse viết khá dài, đào sâu vào tâm tưởng Tất Đạt, ông khiến người đọc tưởng như cứ nghiền ngẫm Câu chuyện của Tất Đạt với Dòng sông là có thể tìm ra Con Đường, và đọc giả có thể cứ theo đó mà đi. Quên rằng mỗi người phải tự tìm lấy dòng sông của mình, con đường của mình.
Tuyệt kỹ của Tất Đạt  là “nhịn đói” và qua tuyệt kỹ đó ta càng thấy rằng chàng đúng là một “kỳ nhân”.
Nói rộng hơn nữa, con người ta mà thoát được cái say mê tiền bạc vật chất thì là tiến thêm một bước vào sự giải thoát.
Nhân vật của Hesse cho ta thấy rằng cuộc sống vật chất là hoàn toàn không đủ, không thể là cứu cánh của cuộc đời . Mục đích của cuộc đời phải tìm ở những giá trị tinh thần. Và họ vật vã đi tìm…
Ai coi “Câu chuyện của Dòng sông” là Đạo, là Con Đường Giải Thoát đều là lầm tưởng cả.
Mà ai coi Kinh Phật là Đạo, là Con Đường Giải Thoát cũng là lầm nốt vậy .
Phật đã nói: “Tất cả kinh sách đều là ngón tay chỉ mặt trăng". Sở dĩ có luận điểm ấy bởi tất cả các tông phái đều đắm chìm trong việc luận bàn kinh sách siêu hình viễn vông mà xa lìa tâm điểm là kinh nghiệm giải thoát của đức Phật.
Kinh nghiệm ấy là quan trọng nhất và tất cả những kinh sách chỉ là ngón tay để chỉ vào những kinh nghiệm ấy. Phản ứng của thiền tông là chặt bỏ ngón tay ấy mà đi thẳng vào tinh tuý của sự Giác- Ngộ.
Đọc "Câu Chuyện Dòng Sông" là lên đường đi đến đời sống tâm linh huyền bí nhất của cả một đời người. "Câu Chuyện Dòng Sông" nói lên niềm thao thức triền miên của một thanh niên trên đường đi tìm ý nghĩa đời sống. " Câu Chuyện Dòng Sông" của Hess đáng là quyển THÁNH KINH của thanh niên giửa cơn khủng hoảng phủ phàng của thời đại.
TuanPolo Vo

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

KHÔNG CHA

For : single mom

Giấy khai sinh tôi mang họ mẹ, trống tên bố suốt 27 năm qua . Chẳng sao , tôi đi học vẫn là con ngoan trò giỏi . Bạn bè trong lớp tuyệt đối không ai dám trêu chọc tôi câu gì. Vì tôi chỉ thiếu một cái tên trong tờ giấy kia thôi , còn lại tất cả đều đầy đủ.

Mẹ tôi hạnh phúc vì sinh tôi ra không khiếm khuyết điểm gì. Đi học tôi đủ điểm số , ra đời tôi đủ nhân cách . Tôi sống rất bình thường , hình như chẳng tồn tại sự mặc cảm.

Chỉ duy nhất đợt vừa rồi, tôi làm hộ chiếu. Cần xác nhận giấy tờ, anh công an phường mới móc máy làm khó tôi. Ah không có bố thì không có dấu. Ok , ghẹp tờ 100k vào giấy khai sinh , xong ! ( chả lẽ lại bảo anh cần bố này chứ bố nào đâu ) .

Rồi bạn sẽ thấy , sự bản lĩnh và túi tiền của mình sẽ giúp mình giải quyết khó khăn tốt hơn một người đàn ông vô trách nhiệm .

Kể cả khi tôi yêu một ai đó, về ra mắt tôi vẫn bảo mình ở với mẹ thôi. Nếu có chê bai gì , tôi sẵn sàng bày tỏ :
" cháu thiếu bố chứ không thiếu đức hạnh "  Và cứ thế mà sống để chứng minh điều đó . Tôi nghĩ một người yêu thương tôi , sẽ yêu những gì tôi có và cả những gì tôi thiếu xót. Nếu chỉ vì tôi không có bố mà thấy giá trị của tôi thấp đi. Thì xin lỗi , tôi cũng chẳng cần vui vẻ với những con người có suy nghĩ thiển cận như vậy.

Tôi không phải là single mom . Nhưng người đẻ ra tôi là một single mom. Một người đàn bà nghèo khó và thương tật. Âm thầm nuôi con dù cha nó sống cách đó có vài bước chân.

Nhưng mẹ tôi không cần xin một cái tên vào giấy khai sinh . Hay một bát gạo cho con dư bữa cháo.

Đàn bà lãi đứa con là đủ !

Tôi lớn lên trên sự bội bạc và trưởng thành trong sự hy sinh. Đến giờ vẫn chẳng ai nhận ai , định nghĩa " cha" trong tôi không tồn tại. Có thể người ngoài sẽ nghĩ tôi thiệt thòi , sẽ thương xót vì tôi thiếu điểm tựa.

Nhưng tôi nói tôi ổn, và tôi sống để chứng minh sự thất bại của mẹ tôi trong hôn nhân . Không có nghĩa bà sẽ thất bại trong việc giáo dục con cái , hay bản thân nó sẽ thất bại khi bước vào đời .

Trải nghiệm không cha 27 năm. Tôi muốn chia sẻ những cảm nhận chân thật này cho các bạn , cảm nhận từ một người con . Để các bạn có thể hiểu thêm đôi chút về con đường mình sẽ đi sắp tới.

Đừng quá lo sợ , vì con người được sinh ra trong hoàn cảnh nào rồi họ cũng sẽ thích nghi được cả. Quan trọng là định hướng và giáo dục . Là môi trường học tập và sinh sống . Nó sẽ tạo lên tính cách , tương lai của những đứa trẻ . Một cuộc đời không cha có thể sẽ gai góc hơn , cay đắng hơn . Bù lại sẽ độc lập và bản lĩnh hơn.

Nếu đứa bé không có một người cha tốt . Vậy hãy cố gắng trở thành một người mẹ tốt và nuôi dạy con mình thật tốt.

Rồi khó khăn nào cũng sẽ đi qua , không bằng cách này thì cách khác , hạnh phúc bình yên sẽ quay trở lại !

Nguồn zalo(st)

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

BA GIÒNG NƯỚC MẮT



https://youtu.be/XMlDNlhIcPM
Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy.
Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

***
Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần "inh". Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng "con gái cầm roi đi quyền" đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá.
Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn.
Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính.
Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn "chúng mình ba đứa" nữa.
Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.
Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình được lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.
Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch.
Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần "anh về với em rồi anh lại đi". Có lẽ nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.
Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.
Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi nhà phía trước "thăm dân cho biết sự tình", không ngờ "hồn lỡ sa vào đôi mắt em", đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.
Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế.
Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị. Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.
Chỉ có thằng Bình là "số đẻ bọc điều". Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo "tán", sau các buổi tan trường.
Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập.
Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu : cháo trắng ăn với hột vịt muối.
Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao "đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng" như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán.
Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.
Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.
Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi "xác thân đã nhuốm mùi trần tục", một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.
Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói "lắm mối tối nằm không", đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.
Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà.
Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình.
Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học.
Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.
Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.
Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục.
Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..
Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.
Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.
Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện "học tập cải tạo" bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh "nước mất nhà tan" này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.
Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.
Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng.
Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.
Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.
Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ.
Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế "ứng chiến" để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình.
Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.
Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão.
Và vẫn còn hàng ria mép.
Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.
- Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.
- Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình. Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.
Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.
- Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.
Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự :
- Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao.
Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết.
Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.
Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.
- Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác ?
- Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi "mu" qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.
- Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác ?
- Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ.
Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.
Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về.
Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.
Người ra mở cửa là Mỵ Khê.
Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.
Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.
Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm. Tôi chưa biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.
- Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng.
Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống
- Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao ?
- Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.
- Bây giờ mày tính sao ? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày ?
- Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.
- Còn mày thì sao ?
- Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Nauy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.
Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời.
Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má.
Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.
Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.
Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định :
- Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.
Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình :
- Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về.
Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật.
Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.
Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà :
- Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối. Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào :
- Hello, Ninh ! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.
Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ.
Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.
phạmtínanninh

fb Pham xem share