Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Vua nước Chiêm Thành là Chế Mân, người anh hùng chiến thắng cả được quân Nguyên Mông, thế mà lại phải đầu hàng trước nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Huyền Trân Công chúa. Ông liền dâng cả miền đất của Châu Ô, Châu Rí cho Việt Nam để làm quà sính lễ xin cưới Huyền Trân về làm vợ.

Nàng hy sinh, giúp mở được con đường Nam Tiến. Vua Trần đổi tên hai châu thành Thuận Châu và Hóa Châu, gọi tắt là Thuận Hóa. Chữ 'Hóa' dần dần đọc trại đi thành "Huế."

Câu chuyện lãng mạn ấy đi đôi với cái phong cảnh nhẹ nhàng, quyến rũ của miền đất này. Lăng tẩm, Thành nội, Thành ngoại, đầm sen tỏa hương thơm ngát. Rồi những buổi chiều tím, những đêm trăng mờ, những con đò nho nhỏ.

Nếu ta dừng lại ở vài bậc chót khi lên Chùa Thiên Mụ mà ngắm cảnh hoàng hôn rực rỡ trên dòng Sông Hương thì sẽ thấy lòng mình lắng xuống, rồi như bị cuốn vào với tiếng chuông chùa, ngân vang vào không trung: ai đi xa Huế làm sao quên được Sông Hương?

Cái cảnh nửa đi nửa ở không phải chỉ ám ảnh người lữ khách khi phải lìa xa nơi Cố đô, nhưng nó còn làm cho các nhà quân sự trăn trở không ít khi phải vĩnh biệt chốn Kinh Kỳ vào cuối tháng Ba năm ấy. Lúc thì cố thủ, lúc thì rút quân, rút xong lại muốn quay về giữ Huế, cứ dùng dằng mãi.

Nguyễn Thái Sơn 

————————————————————————-

                            “Quốc hiệu Việt Nam”

Đây là tên nước 'ước mơ' của Hoàng đế Gia Long nhưng không được Thanh triều công nhận.

Tên nước Đại Nam do Vua Minh Mạng đặt đã bị Pháp xóa để lập ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trong Liên bang Đông Dương.

Sau khi Nhật Bản trao trả 'độc lập', vua Bảo Đại và chính phủ mới Trần Trọng Kim đã nhanh chóng tuyên bố quốc hiệu là Việt Nam.

Đây cũng là cái tên mà Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu đặt cho các đảng phục quốc, cách mạng.

Quốc hiệu Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố với thế giới sau đã thành tên nước cho cả Nam và Bắc đến 1975 và ngày nay.

Đế quốc Việt Nam năm Bảo Đại 20 chọn cờ vàng ba sọc đỏ với một sọc đứt quãng theo quẻ Ly của Kinh Dịch làm quốc kỳ.

Nhà Nho học Trần Trọng Kim dẫn sử để nói đó là màu cờ vàng của Triệu Thị Trinh khi khởi nghĩa chống quân Ngô.

Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục
Dù có một số nỗ lực dùng tiếng Nhật thời Nhật Bản chiếm Đông Dương, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Việt và một số văn bản Hán ngữ đến năm 1945.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, đóng vai trò chính trong việc ra quyết định dùng tiếng Việt hệ quốc ngữ thay tiếng Pháp.
Ông soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt và đưa bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Đây là cơ sở cho chương trình trung học trên toàn Việt Nam ở cả hai miền dưới hai chế độ đối nghịch.
Các sách giáo khoa chịu ảnh hưởng của giai đoạn Hoàng Xuân Hãn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu từ 1936 đến 1947.

Đó là thời gian ông xuất bản tiểu sử Lý Thường Kiệt và La Sơn phu tử, soạn từ vựng danh từ khoa học Toán Lý Hóa cho người Việt Nam.

Đòi lại miền Nam để thống nhất lãnh thổ

Theo sử gia Lê Mạnh Hùng, ngày 16/06, Vua Bảo Đại ra tuyên bố thống nhất tương lai của ba kỳ về một.

Chính phủ Trần Trọng Kim cũng ngay lập tức đàm phán với Nhật để đòi lại ba thành phố trực trị của người Pháp trước đó là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.

Cuộc gặp của Trần Trọng Kim với gặp Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật tại Đông Dương trong tháng 7 đã đem lại kết quả quan trọng.

Tân chính phủ Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo ba đô thị lớn: Trần Văn Lai làm Thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh làm Thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm Thị trưởng Tourane (Đà Nẵng).
Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai đã cho đổi tên phố từ tên Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc Việt Nam.

Sang tháng 8/1945, Nhật Bản đồng ý trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim và ông Nguyễn Văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ.
Không có quân đội riêng, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ dựa vào tình thế và quyết tâm của các trí thức để đàm phán với Nhật Bản.

Nhưng về mặt chính trị, tâm lý dân tộc và hành chính, nhận lại Nam Kỳ là thành tựu có tính biểu tượng quan trọng.

Hành động này không chỉ xóa nỗi nhục bại trận - cuộc chiến mất nước của Đại Nam bắt đầu từ Nam Kỳ - mà còn duy trì giấc mơ thống nhất ba miền các bậc tiền bối nuôi dưỡng.

Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập

Dù không có thực quyền và không được các đại cường công nhận - bởi là chính quyền có quan hệ mật thiết với Đế quốc Nhật - Trần Trọng Kim, đã lập ra Hội đồng dự thảo Hiến pháp.

Hội đồng gồm các trí thức, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.

Hiến pháp công nhận tự do lập nghiệp đoàn, các hội nghề nghiệp.

Tổng hội Công chức ra đời để làm lực lượng chính trị ủng hộ cho tân chính phủ.

Các hội đoàn thanh niên sau là cơ sở cho các phong trào vũ trang chống Pháp của cả phe cộng sản và cộng hòa.

Trong Tuyên chiếu 03/05/1945, vua Bảo Đại đã viết:
"Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp.

Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân."

Đặc biệt, theo lời nhà vua, "Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả."

Tuy nhiên, hoạt động lập pháp này đã không hoàn tất được vì các công việc cấp bách hơn như cứu đói cho miền Bắc.

Theo sử gia Trần Gia Phụng, chính phủ Trần Trọng Kim tuy được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, đã hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.

Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng

Các hạn chế của chính phủ Trần Trọng Kim đã được nói đến nhiều, gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản.

Nội các này đã tan rã trong làn sóng cách mạng nổi lên và mục tiêu giành giật vùng ảnh hưởng của các đại cường.

Ý thức được những vấn đề đó, các trí thức trong chính phủ này đã chọn con đường trao lại quyền lực không đổ máu cho một chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.

Được biết vua Bảo Đại đã [ không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08].

Tại Hà Nội, tuần hành của Tổng hội Công chức ngày 19/08  biến thành biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo.
Dù vậy, Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh bắn vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp.

Là chính phủ chuyên viên đầu tiên của Việt Nam thời hiện đại, nội các Trần Trọng Kim đã rút lui trong hòa bình để trao quyền lại cho thế hệ các chính khách và nhà làm cách mạng chuyên nghiệp.

Về thể chế, Đế quốc Việt Nam rút lui đã khép lại thời kỳ quân chủ.

Tổng hợp tài liệu trên Internet

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

BÚN BÒ HUẾ


        ( Share từ trang FB Rosine Nguyễn)

Cái nồi Thạch Sanh của bún bò Huế 
Bún bò là từ Huế mà ra,nhưng ngày nay trường phái bún bò Huế Sài Gòn lại hùng cường nhứt vì phù hợp với cái miệng ẩm thực của phần đông đại chúng 
Vậy bún bò Huế kiểu Huế khác gì bún bò Huế kiểu Sài Gòn? 
Trước hết là cọng bún,bún bò Huế ở Huế xài cọng bún nhỏ,nhuyễn như cọng bún riêu,bún cá, có khi lớn hơn cọng bún riêu một chút,còn bún bò Huế Sài Gòn xài cọng bún dầy như canh bún 
Bên trong tô bún bò Huế ở Huế lúc nào cũng có chả cua và huyết ăn kèm,đậm mùi sả và ruốt Huế ,đỏ của ớt bột,ăn với thịt bò tái xắt rất mỏng 
Bên trong tô bún bò Huế Sài Gòn thì dùng chả lụa,không huyết,ăn với thịt bò nạm xắt rất dầy,nước lèo hầm từ xương, thơm mùi đường phèn,mùi sả dịu,đỏ của màu hột điều
Về rau thì tô bún bò Huế của xứ Huế  ăn kèm xà lách, giá, quế, đôi khi có thêm bắp chuối bào và rau diếp cá .Còn ở Sài Gòn  kèm rau muống bào hoặc xà lách,bắp chuối 
Cái khác biệt nữa là bún bò ở Huế nấu bằng cái nồi Thạch Sanh tròn húm có cái vành thắt eo rất đặc biệt.Vô quán nhìn cái nồi là biết bún bò theo trường phái Huế rặc
"Giữ chút gì rất Huế đi em
Nét duyên là trời đất giao hòa
Dẫu xa, một mai anh gặp lại
Vẫn được nhìn em say lá hoa"
Quán bún bò chánh Huế thường bắt đầu tên quán bằng chữ "O" ,thí dụ quán O Huệ,O Thanh.Vừa ngồi ăn vừa nghe chủ quán nói chuyện với con cháu kiểu “chi, mô, răng, rứa”vui hết biết 
Tiếng Huế kêu "O" nghĩa là cô như người Miền Nam,mẹ thì kêu là "Mạ",Ông Bà thì gọi là "Ôn Mệ",có Ôn nội, Mệ nội, Ôn ngoại, Mệ ngoại
Ngoài ra người Huế xưng hô Dì,Cậu,Mợ,Thím ,Bác đều như người Miền Nam 
Người Huế và người Nam Kỳ có bà con đặc kẹo vì nhà Nguyễn trung hưng ở Miền Nam,nhờ nhân lực Nam Kỳ mà thành.Phần đông các bà hoàng hậu ở Huế đều là dân Nam Kỳ 
Cái giọng nói,tiếng nói được coi là quý tộc ở kinh thành Huế thời đó không phải là giọng Huế rặc đâu. Các bà mệnh phụ phu nhơn toàn nói giọng Nam Kỳ 
Ngôn ngữ cung đình Huế dưới thời các vua Nguyễn là một hiện tượng đặc biệt .Vua Minh Mạng sanh đẻ trong Nam và  lớn lên trong Nam nên giọng vua là giọng Nam Kỳ 
Và do  các bà quyền thế nhứt trong nội cung ở Huế bấy giờ đều nói giọng Nam Kỳ. Các cung phi thị nữ được tuyển vào cung cũng phải học tiếng Nam Kỳ 
Ngôn ngữ ,tiếng nói Nam Kỳ trở thành biệt ngữ cung đình nhà Nguyễn .Dần dà lan ra dân gian,dân Huế kinh thành bắt chước giọng quý lơ lớ nửa Nam nửa Huế đó nên dần dà thành  tiếng pha. 
Thành ra ngôn ngữ Huế có nhiều từ ngữ mà các vùng Trung Kỳ khác không hề có.Và người Huế đi vô Sài Gòn chuyển giọng một cái rột từ tê,răng ,rứa qua giọng Nam rất dễ dàng ,nói chuyện cứ như dân Miền Nam,điều mà dân Quảng Trị,Quảng Ngãi,Quảng Nam,Bình Định…..không làm được
Bún bò Huế là một món rất ngon 
Thiệt ngạc nhiên hết sức khi biết dù  Huế và Nam Kỳ gắn bó với nhau dữ dằn "Rồng chầu ngoài Huế-Ngựa tế Đồng Nai" nhưng bún bó Huế ở trong Nam Kỳ thời Pháp không hề có
Lạ lùng ở chổ bò beefsteak thịnh hành trong Sài Gòn là 
vậy,cũng là thịt bò,nhưng bún bò Huế không có hơi hám gì ở Sài Gòn xưa 
Hủ tíu là món vô địch ở Nam Kỳ ta,từ thời Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, Mạc Cửu,Lê Quang Định đã vô địch rồi,hủ tíu Nam Kỳ nhiều và hoàng tráng hơn cả hủ tíu bên Tàu 
Vào những năm 1960, chỉ có một tiệm bán bún bò Huế ở Sài Gòn, trong một hẻm ở đường Lê Văn Duyệt
Ai dè những năm 1973 trổ về sau  phổ biến 
Chính  Sài Gòn đã nâng bún bò Huế  sau khi gia giảm gia vị cho phù hợp dân Nam Kỳ đã khuếch trương bún bò Huế lên cao
Sanh bún bò là Huế,nhưng làm cho nó huy hoàng,chế biến và gia giảm nó ngon là người Sài Gòn
Sài Gòn là kinh đô ẩm thực,bún bò Huế Sài Gòn mới là nữ hoàng kiêu sa  trong các món Huế ,nó át luôn bún bò Huế ở ngoài Huế  vì độ rộng khắp và sức mạnh của nó 
Tuy nhiên người Nam Kỳ vẫn kêu là "Bún bò Huế" ,không đổi tên từ thủa ban đầu.
(Nguyễn Gia Việt)

TRỊNH CÔNG SƠN…



Trịnh Công Sơn thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ 3 trong dòng tân nhạc Việt Nam 5 thế hệ. Tôi đã từng say mê, xúc động, và chìm đắm trong các ca khúc của ông trong những năm tháng sống ở Huế. Đến nay, dù không mấy khi nghe nữa, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nhạc Trịnh là không hay. 

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài hoa, những ca khúc của ông có sức sống vượt thời gian, bao giờ cũng có thể “gọi hồn ngất ngây”. Ví trí của Trịnh Công Sơn trong lịch sử âm nhạc Việt Nam là không thể phủ nhận, không thể thay thế. Ông đã lại một di sản vô giá cho nghệ thuật nước nhà nói chung.

Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn không hẳn người đứng ở đỉnh của biểu đồ chóp nón âm nhạc Việt Nam. Suốt gần 100 năm qua, đã có hàng chục, thậm chí cả trăm nhạc sĩ mà nếu so sánh thì có nhiều người không thua kém ông, có cả những người được đánh giá cao hơn ông. 

Vậy cái gì làm cho TCS “chiếm sóng”? Có nhiều lý do, như âm nhạc của ông giản dị, “bình dân” dễ đi vào lòng người; như sự phù hợp với tâm hồn Việt, như âm nhạc phản chiến ứng hợp đúng thời điểm nên được thế giới – nhất là người Mỹ lúc đang phản đối chiến tranh Việt Nam – đề cao và vô tình PR, như sự ưu ái của chính quyền cộng sản sau 1975 – điều mà hầu hết các nhạc sĩ khác không có được…

Văn Cao nhận xét “Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc phương Tây”, Phạm Duy viết “Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại”*. Tuy thế, trước khi trở thành một nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn đã là một thi sĩ. Lời trong nhiều bài hát của ông thật sự là những áng thơ tuyệt bút, không thua kém một nhà thơ chuyên nghiệp nào. Đó cũng là một trong những lý do làm cho âm nhạc của ông lan xa.

Khoảng mươi năm nay, tôi hầu như rất ít khi nghe nhạc Trịnh nữa, nhưng bất cứ khi nào, hễ vô tình bắt gặp một giai điệu, một câu hát của ông thì đều không thể không xúc cảm. Âm nhạc của người nhạc sĩ này có một sức ám ảnh và gây men lạ kỳ, khó lòng mà dửng dưng. Chỉ có điều, không thể sống quá lâu trong những xúc cảm ấy. Nỗi buồn nhạc Trịnh sẽ gây nên một cơn ngầy ngậy kéo dài, làm tinh thần như bị sa xuống vực sâu.

Đánh giá về Trịnh Công Sơn không phải là điều đơn giản. Mang quan điểm chính trị ra để định giá gia tài âm nhạc của ông cũng là một việc làm thiếu tính khoa học. Tôi vẫn nhất quán một quan điểm: không lẫn lộn đời sống cá nhân với sự nghiệp nghệ thuật của một con người.

Đến bây giờ TCS vẫn là một nhân vật gây tranh cãi. Người thì cho rằng ông là một kẻ cơ hội chính trị, kẻ thì nói ông ngây thơ chính trị, Bửu Chỉ nói “Trịnh Công Sơn không có lập trường chính trị rõ ràng”; một số người khác thì cho rằng TCS là một nghệ sĩ, ông chỉ hành động theo trái tim bồng bột; có những người thì cho rằng TCS là người “giỏi thích nghi”… Vấn đề nằm ở thông tin và khả năng tổng hợp thông tin cùng với năng lực đánh giá. Tuy nhiên, riêng với tôi, trước sau TCS vẫn là một nghệ sĩ nhiều hơn là một con người chính trị.

Đánh giá TCS thì phải nhìn vào gia tài âm nhạc của ông. Gia tài vô giá ấy, bên cạnh những gia tài vô giá của những người khác (vốn bị chế độ mới bạc đãi) đã làm nên một di sản lớn cho nền tân nhạc nước nhà.

Người nghệ sĩ chết đi, vật đổi sao dời, triều đại hưng vọng như đốm lửa trong đêm dài vô tận vũ trụ, nhưng nghệ thuật đích thực thì bền lâu. Chế độ VNCH đã cáo biệt, nhạc Trịnh Công Sơn vẫn còn. Tôi tin rằng nếu có một ngày, chế độ hiện hành cũng không còn nữa thì người Việt vẫn hát nhạc Trịnh. Những âm giai ấy, hòa vào một dàn đồng ca của những nghệ sĩ lớn khác, sẽ có một đời sống mới – cân bằng, thảnh thơi, và từ ái, bao dung…

* Một số trích dẫn trong bài rút từ chương trình "70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam" trên đài SBS - Úc châu, do Hoài Nam Phụ trách. Nhân tiện, đây là một chương trình tuyệt vời, phát dài kỳ trong suốt 10 năm, tất cả gồm 94 phần, lần lượt giới thiệu các nhạc sĩ và những ca khúc nhạc tình nổi tiếng, rất nên nghe. Cũng trong chương trình này, Hoài Nam nhận định: Trịnh Công Sơn có thể đã trở thành một thiên tài nếu như ông đừng làm những việc đáng ra không nên làm.

THÁI HẠO
Chia sẻ từ trang 8 Saigon

Khánh Ly


Fb Jimmy Nguyen Nguyen 

Cô về VN hát. Cũng như bao nghệ sĩ khác. Dĩ nhiên cũng nhận bao nhiêu lời khen chê. Khen ít mà chê nhiều. Không chỉ với những người chính trị đối kháng với cộng sản mà ngay cả với những người cs. Họ mỉa mai " về kiếm tiền "!

Cái cảm giác của phe ta ( tỵ nạn ) thì đau đớn. Sao mà mình luôn luôn bị phản bội. 

Thật sự nghệ sĩ trong đó  có các ca nhạc sĩ , đơn thuần chỉ là mang niềm vui đến cho khán giả. Sau đó là phổ biến một nét văn hoá. Cuối cùng mới là một thần tượng, trong đó có chút chính trị.

Tui nhớ Hùng Cường những năm 63,64. Khi hát anh luôn mặc quân phục người lính nhảy dù với chiếc mũ đỏ nhét vào cầu vai. Hát bài  em ơi 100% , không ai hay hơn được. Anh không thể hát bài ấy mà mặc... veston. Trường Vũ hay Đan Nguyên...v...v.... cũng vậy thôi. Chỉ là cách thể hiện bản nhạc, không phải là thể hiện suy nghĩ chính trị như phe ta thần tượng. Do đó mới có cảm giác bị phản bội. Ở Úc, nghệ sĩ nào đã về VN trình diễn thì sẽ không được mời hát ở bên này. Và các ca sĩ từ VN sang trình diễn, thường hay bị phản đối. Không bàn chuyện đúng sai ở đây. Tui chỉ nghĩ sao thời này làm nghệ sĩ khó đến vậy.

Năm 2006, tui về VN chỉ để nghe Duy Quang hát. Những bài Em hiền như...., hay Hai năm tình lận đận..... Nghe băng nhão luôn rồi. Cả đời mới có thể được nghe anh hát live. Ở Úc thì chờ biết bao giờ ảnh mới ghé?  Về VN là có thể. Và như vậy anh hát ở VN, chớ thực sự hát cho mọi người nghe ở khắp nơi. Từ Nhật, từ Đài Loan hay từ một nước bên Đông Âu. Có tiền đó, nhưng để thấy và nghe thần tượng của mình hát một lần trong đời. Họ phải về VN. Năm đó, vé có chỗ ngồi là 50 đô ( một triệu ). Có bạn nói giọng bắc rặc. Than rằng mua vé khứ hồi Hà Nội, Saigon. Chiều đi từ Hà Nội, nghe hát xong,sáng ra sân bay TSN về sớm cho kịp giờ đi làm. Tiền nhằm nhò gì ở đây. Xin đừng coi thường người Việt. Lần đó tui tỉnh ngộ nhiều điều. Đâu đó vẫn còn có người thèm khát văn hoá. Để hưởng thụ hoặc để phê bình hoặc để biết xem nhạc " nguỵ " nó ra sao. Tất cả điều ấy đều làm con người ta xích lại gần nhau hơn. Tạm thời quên đi những khó khăn trong cuộc sống hay những mâu thuẫn đối nghịch cuộc đời. Anh chị không rung cảm, không yêu thương ai được thì.... lỗ. Lỗ chắc luôn. Dù yêu là khổ. Những văn nghệ sĩ trẻ lâu là vậy. Họ luôn có tình yêu. Anh bắc kỳ mua vé hát kèm vé máy bay để nghe " cô Bắc Kỳ nho nhỏ" . Cái bài hát mà cả một nửa nước VN chưa từng được thấy cái đẹp xa xưa ấy. Bắc kỳ mà tóc demi garcon.... Tui nghĩ ảnh sẽ trẻ mãi....

Những năm ấy. Chế Linh và Hương Lan đang hát ngoài bắc. Mỗi lần diễn là cả tháng ,vẫn không hết người xem. Khán giả lặn lội từ Thanh Hoá hay tận Thái Nguyên. Sau đêm diễn thì vạ vật ở đường phố để mai về tiếp tục cày cuốc. Có thể những người giàu có , có điều kiện thì thích nhạc cổ điển mà lúc ấy Đặng Thái Sơn đang trình diễn gần đó. Tuy nhiên những nông dân chân lấm tay bùn, họ chỉ rung cảm được khi nghe " chuyện tình Lan và Điệp ". Làm sao cấm người ta rung động với những gì gần gũi.

Nửa thế kỷ trôi qua. Những bản nhạc bị cấm ở VN , đến nay dường như... cấm không nổi. Nó được hát khắp nơi. Cũng bị sửa lời đôi chút. Tuy vậy vẫn không mất sự hấp dẫn. Người ta vẫn thích nghe original ca sĩ một lần. Chớ nghe cover thì đầy rẫy. Khánh Ly nói nhiều người hát nhạc TCS còn hay hơn cổ. Nhưng để được nghe và thấy cô hát chỉ một bài trong hàng trăm bài của cố nhạc sĩ, cũng là hạnh phúc rất lớn cho nhiều người. Còn rất nhiều người cùng thế hệ. Đã từng là sv VK hay đã từng ngửi lựu đạn cay từ cảnh sát dã chiến đóng quân ngay bên tường rào trường đại học. Giờ họ đã mất hoặc còn sống. Cũng phải cho họ một lần nghe " giọng hát KL" dù biết rằng "Saigon ơi, ta đã mất người trong cuộc đời...."

(Xin đừng comments chính trị ở đây dù tui " dư " trả lời . Lâu lâu cho thật lòng chút. Cám ơn)

Jimmy Nguyen 
( trích trong Salut Saigon) 

Nguồn ảnh Dautu online

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022

VỤ THAM NHŨNG VIỆT Á, KẺ NÀO LÀ TRÙM CUỐI ?


(Nguyễn Thanh An)

Khi Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh bị bắt, bên cạnh sự hả giận, dư luận xã hội vẫn tiếp tục đặt câu hỏi: Hai bị can nầy vẫn chưa phải là “trùm cuối”, vậy “trùm cuối” là ai?

Xin bắt đầu câu chuyện từ đoạn video clip mô tả sự việc tàn nhẫn xảy ra vào ngày 28-9- 2021 tại phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương: Một đám nhân viên công vụ cạy cửa, tông vào nhà bắt chị Hoàng Phương Lan, xốc nách lôi đi như bắt khẩn cấp một tội phạm nguy hiểm. Sau đó họ kéo chị ra sân, đè xuống ghế, bẻ ngoặt hai cánh tay chị ra sau lưng và một người kéo khẩu trang xuống cho nhân viên y tế ngoáy mũi để test COVID.

Đó là thời điểm mà Sài Gòn và các tỉnh phía Nam tập trung xét nghiệm COVID một cách rầm rộ, đại trà. Xét nghiệm tập trung, xét nghiệm từng nhà, mỗi người bị bắt buộc phải xét nghiệm ba lần trong tuần với cái giá cắt cổ. 
Dư luận xã hội vừa bất bình, vừa nghi ngờ có điều gì mờ ám trong cách phòng chống dịch không giống bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong trận đại dịch nầy. Nhiều chuyên gia y tế ở Sài Gòn đã tỏ ra bức xúc, phản đối thẳng thắn trên Facebook, nhưng chính quyền các tỉnh vẫn bất chấp, vẫn tập trung xét nghiệm “thần tốc” theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ y tế thông qua những công điện khẩn.
Khi Phan Quốc Việt bị bắt, các tướng tá ở Học viện Quân y bị bắt, nhiều giám đốc CDC các tỉnh bị bắt… thì cái kịch bản kit test mới lòi ra, một đường dây kền kền kiếm ăn trên xác chết đồng loại mới được phơi bày. 

Đến đây thì người ta thừa hiểu rằng, với hơn 10 mét vuông nhà xưởng, vài cái tủ cấp đông và cái mặt ngơ ngơ, lơ láo như bệnh down của Phan Quốc Việt thì làm gì hắn có đủ bản lĩnh để thao túng cả một hệ thống chính trị, khoa học và y tế từ trung ương đến địa phương. Chẳng qua hắn chỉ là con rối được bọn quan chức dựng lên để kiếm ăn, mà tác tệ hơn, bẩn thỉu hơn là kiếm ăn trên nỗi khổ đau, chết chóc của đồng bào.
Sau khi hoàn tất kịch bản “Nghiên cứu và sản xuất”, chúng bắt đầu xây dựng kịch bản tiêu thụ kit test một cách “thần tốc”. Lần giở từng văn bản, chúng ta sẽ thấy:

- Ngày 22-8-2021, Phạm Minh Chính ký công điện hỏa tốc số 1099 gởi bí thư thành ủy, tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban TP.HCM và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An cùng các bộ, ngành trực thuộc về việc "tăng cường giãn cách xã hội và các biện pháp phòng chống dịch COVID", trong đó nhấn mạnh: 
“Thần tốc xét nghiệm diện rộng (Riêng Sài Gòn xét nghiệm toàn thành phố trong thời gian giãn cách xã hội) để phát hiện sớm nhất các trường hợp F0, kịp thời ngăn chặn lây lan…”

- Ngay ngày hôm sau, 23-8, Chính tiếp tục gởi công điện hỏa tốc số 1102, lần nầy không chỉ trong phạm vi hẹp bốn tỉnh thành, mà là chỉ đạo cho bí thư tỉnh ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân tất cả các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương về việc tăng cường các biện pháp phòng chống dịch COVID, lại nhấn mạnh: 
“Thần tốc xét nghiệm trên diện rộng là then chốt để phát hiện sớm, cách ly nhanh, phân loại kịp thời và điều trị phù hợp, hiệu quả người nhiễm COVID theo quy định của Bộ Y tế…”

Ngay sau đó, hàng loạt tờ báo đưa tin với những dòng tít tương tự nhau: “Thủ tướng yêu cầu thần tốc xét nghiệm trên diện rộng…”

Như một kịch bản đã soạn sẵn, kẻ tung người hứng rất nhịp nhàng, ngày 2 Tháng Chín 2021, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long ký công điện số 1305 về việc tăng cường công tác xét nghiệm phòng chống dịch COVID, gởi chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, yêu cầu họ thực hiện nghiêm túc các nội dung công điện số 1099 và 1102 của ông Chính, nhằm “Đẩy mạnh hơn nữa công tác xét nghiệm trên diện rộng… Thực hiện xét nghiệm ba ngày một lần đối với nhân viên, người lao động tại các khu khám chữa bệnh, các cơ sở sản xuất kinh doanh, người trực tiếp cung cấp dịch vụ thiết yếu…”

Một tuần sau, tức ngày 8-9- 2021, Nguyễn Thanh Long ký tiếp công điện số 1346 “Về việc thần tốc xét nghiệm phòng chống dịch”. Lần nầy mạnh bạo hơn, Nguyễn Thanh Long đề nghị các tỉnh thành phải 
“Thần tốc xét nghiệm cho toàn bộ người dân để phát hiện sớm nguồn lây nhằm cách ly, khoanh vùng… Huy động tối đa các lực lượng tham gia lấy mẫu, tổ chức nhiều đội lấy mẫu lưu động và không giới hạn thời gian lấy mẫu…”

Tiếp theo đó là gì? Đương nhiên là những kiện kit test từ Việt Á thần tốc chuyển đi. 
Nhưng cùng lúc ấy, Cục Anh ninh tiền tệ của Bộ Công an phát hiện những dòng tiền từ Việt Á cũng thần tốc chuyển vào tài khoản cá nhân của những giám đốc CDC các tỉnh với số lượng kinh khủng. Chính những dòng tiền bất thường ấy là đầu mối của vụ án được phanh phui đến hôm nay.

Hàng vạn đồng bào tử vong, hơn 60 con kền kền rồi sẽ nhận bản án của pháp luật. Và vụ án rồi sẽ kết thúc. Nhưng suy cho cùng, điều đó cũng không lớn. Bởi, có một điều lớn hơn, đó chính là bản án của dư luận xã hội dành cho một thể chế, một hệ thống chính trị đã mục rữa, đã thối tha đến không còn ngửi được mà vẫn còn tồn tại trên đầu trên cổ nhân dân.

Vấn đề lớn nhất bây giờ là “trùm cuối” là ai? Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long và Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Chu Ngọc Anh là đầu sỏ trong vụ tham nhũng tàn bạo này hay đằng sau Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh còn một hay vài tên “trùm cuối” nữa?
 
Và rằng vụ việc này là một vụ đốt lò của “tay đốt lò lịch sử” Nguyễn Phú Trọng để làm trong sạch hóa bộ máy chính quyền nhếch nhác, hay đơn giản cũng chỉ là một màn chặt chém nội bộ để che đậy những kẻ chóp bu đích thực là trùm cuối?

Và cần để ý chi tiết rằng, công điện 1099/CĐ-TTg ngày 22-8-2021 của ông Chính “về việc tăng cường giãn cách xã hội và các biện pháp phòng chống dịch COVID-19” đã bị xóa khỏi website của Cơ quan Phòng chống dịch Việt Nam (CDC).
Truy cập website này, theo đường dẫn (http://vncdc.gov.vn/cong-dien-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve...) vào ngày 8 Tháng Sáu 2022 đã không cho ra kết quả hiển thị thông tin. 
Tại sao?

(Nguyễn Thanh An).

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

LẠM BÀN CHÚT THÔI

 ( bài viết cũ 2018)

Trên FB có nhiều loại văn chương, biết chọn loại nào để đọc đây?

      Tui thích đọc nhất là loại giải nhiệt tâm hồn, đọc cười sảng khoái, có stt của Lê Vịnh, Sỹ Liêm, Bùi Thanh Xuân và Trần Sang , Trần Phong Vũ . Họ viết những chuyện đời thường không đâu vào đâu mà có duyên lúm đồng tiền. Cười đã, cười chí tử, có hồi cười ra nước mắt luôn! Họ phát hiện trong đời sống những tréo ngoe đến ngây ngô, khập khiểng mà bàn dân thiên hạ cứ hay làm, rồi đem lên stt mổ và xẻ sao cho thiên hạ bật ra tiếng cười. Nghệ thuật châm đó đâu phải ai làm cũng được? Phải có khiếu hài hước đã ăn vào trong máu rồi kia. Gần đây, xuất hiện thêm cây hài nữ Hoàng Lệ Thu, cũng đa tài không kém! Bởi hài nên chị lúc nào cũng cười, ít khi buồn. Hình ảnh chị chỉ buồn khi đang làm mẫu ảnh cho một stylist nào đó đang đi lùng cảnh đẹp. Mời bà con đọc là biết tài quý vị tui vừa nêu trên. Đây không phải bài bình nên dẫn chứng còn ẩn núp. Đây chỉ là lời giới thiệu.
    
       Loại thứ hai thường phân tích các sự kiện hậu trường chính trị rát ràn rạt , đọc xong mình vỡ ra nhiều thứ, ngộ hơn bản chất những thứ màu mè sơn phết lên sân khấu cuộc đời. Tôi không dám nêu tên, e họ bị chiếu tướng. Đọc văn họ viết gảy gọn, chắt lọc và tài hoa, ta thấy mấy chân tướng chính trị lộ dần với nhiều thủ đoạn lừa mị người dân phơi ra trơ trẽn. Họ viết mạnh bạo đến mức như điếc không sợ súng luôn. Chắc cũng có thế lực chống lưng? Đọc như thế, hả dạ lắm trong cái thời nhiễu nhương có nhiều thâm cung bí sử này! Ngòi bút bén ngọt mà dung dị, không khoa trương trau chuốt gì! Đọc để biết hơn là để thưởng ngoạn!
      
       Còn có những loại thơ tìm đường vót chữ , chữ có đẹp nhưng ý thì cứ lặp đi lặp lại, không thấy gì mới , chủ đề hẹp, đề tài nghèo , chủ yếu bày tỏ tâm trạng cái tôi của mình hơn là bày tỏ nỗi niềm tha nhân. Tôi cho đây là loại văn chương trang sức. Ngọc lưu ly nhìn hoài cũng chán! Bên văn xuôi cũng có, có để che lấp đi một lối sống thời thượng học đòi, nửa nạc nửa mở trong một xã hội Á đông còn nghèo nàn, lạc hậu . Họ quên đi rằng xã hội này đang nhốn nháo, đang cần chỉnh đốn nề nếp để khỏi loạn, khỏi mất trật tự, khỏi đồi bại và phi luân. Họ đang đi tìm những giá trị ngoại lai như chủ nghĩa hiện sinh, siêu thực , hậu hiện đại mà hòa nhập để tạo ra nhiều tác phẩm bệnh hoạn - con hoang , coi thường độc giả , coi thường dư luận . Họ đang bị trả giá . Gạch đá ném vào họ lia chia, có che đỡ mấy cũng u đầu sứt trán.  Thơ như rác ,dung tục, khó ngửi . Rác bỏ giữa nơi công cộng, nhiều người thiếu ý thức bỏ theo, ùn ùn như sóng, hôi thúi ai mà chịu nổi. Phải rút thôi!  À mà có tỉnh ra thì mới còn like chứ, mới có bạn tử tế chứ! Tiên trách kỷ, hậu tách bỉ, đừng ta thán sao bạn lơ mình , phụ mình!

       Tôi đang nói về văn chương trong nước. Còn ở hải ngoại tôi không dám lạm bàn , e mạo phạm! Bởi ngoài ấy cây đa, cây đề nhiều, họ luống tuổi, thận trọng và đắn đo nhiều! Còn giới trẻ hải ngoại, đọc văn chương của họ, tôi cảm thấy mình thực sự xa lạ. Họ phồn thực quá đà! 

      Tôi viết mấy cảm nhận này theo góc nhìn của bà nội trợ : thấy sao nói vậy người ơi. Đừng chấp nê tôi nhé, FB thân thương! Dẫu thế nào, văn chương tuy có nhiều lối đi riêng nhưng vẫn nhằm mục đích chung là làm đẹp cuộc đời, làm đẹp con người , phải không? Đẹp nhanh hay chậm, tùy bút lực người cầm bút! Đôi khi mì ăn liền cũng có sức thu hút người xem, nếu nó dí dỏm , nói sát sự thật! Văn chương giản dị lời, không gợi điều dung tục,  phản ảnh đúng thần thái sự kiện , theo tôi là văn chương đẹp !

Lê Thị Quỳnh Dung

NGÀY TRỞ VỀ



   (Bài viết này dành cho những ai chống đối nhạc sĩ Phạm Duy và không thích “Chòi văn” Trần Hữu Ngư. Tôi chỉ dám nhận mình là “Chòi văn”, chớ “Nhà văn” thì biết bao giờ mới được?) 

  Tôi nhớ ngày Phạm Duy còn sống, có một Công Ty đã mua bài “Tình Ca” của anh giá 100 triệu?
   Thấy vậy, tôi năn nỉ anh mua 25 chữ trong câu: 
   “… Mẹ lần mò ra trước ao
   Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
   Tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa
   Vì quá đợi chờ…”
   Với giá 1 tỷ, nhưng chờ em trúng số em sẽ trả!
   Anh cười nhìn tôi… 

   Nhạc sĩ Phạm Duy, một thiên tài âm nhạc, ông viết nhiều thể loại, để lại cho hôm nay và mai sau những ca khúc khó quên. Nghe nhạc Phạm Duy, tôi để ý đến một điều: Anh hay dùng từ “Lũ”. Chữ “Lũ” nghe thật dễ thương! Một “hình dung từ” mà chỉ có nhạc sĩ Phạm Duy hay dùng.

   “… Hoa chẳng yêu “lũ bướm” lả lơi” (Nhạc phẩm Hoa Xuân)
   “… Có “lũ kỷ niệm” trước sau” (Nhạc phẩm Nghìn trùng xa xách)
   “… Đàn trẻ đùa bên “lũ trâu” (Nhạc phẩm Ngày trở về)
   
   Và Thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ “Phương xa” cũng đã cho chúng ta chữ “Lũ” thật đau nhói:
   
   “… Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa
   Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh…
   Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ
   Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
   Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị”…
   (…)
   (Tiếc quá, không có nhạc sĩ nào trước 75 phổ nhạc bài thơ này?)
   
    Bài viết “Ngày trở về” này tôi có gởi cho báo, nhân ngày 27.7.2000 “Ngày thương binh liệt sĩ” nhưng báo X không đăng vì lý do nhạc sĩ Phạm Duy “nhạy cảm”! 
   Tôi nghĩ, nhạc trước 1975, nếu xét về tác giả, (không riêng gì Phạm Duy) thì không có tác phẩm nào được hát! Vì có đến 95% nhạc sĩ miền Nam đều… “nhạy cảm”. Và chữ “nhạy cảm” này, cho đến hôm nay tôi chưa hiểu cho tường tận. Từ “Nhạy cảm” là gì? 
   “Ngày trở về”, một bài hát sinh ra trong thời kháng chiến chống Pháp, đã làm hàng triệu con tim thổn thức. Một bức tranh vẽ bằng âm nhạc, mà khó có tác phẩm nào thay thế được.
   Dù cho chiến tranh chống Pháp, hay chống Mỹ… Cho dù chết bên này hay bên kia, cũng là người Việt Nam chết vì chiến tranh. Hát “Ngày trở về” để nhớ  thương binh, ngày kháng chiến chống Pháp  được không?
   -Được… Thì hát.
   -Không… Thì tại sao?

NGÀY TRỞ VỀ:

   “… Ngày trở về anh bước lê 
   Trên quãng đường đê đến bên lũy tre 
   Nắng vàng hoe vườn rau trước hè 
   Chờ đón người về…” (Ngày trở về - Phạm Duy).

   Chiến tranh đã đi qua lâu rồi, tất cả những đau thương mất mát cũng đã qua rồi, nhưng chỉ có những bài ca đi qua  trong chiến tranh còn ở lại.
   Tôi sinh ra là đã có chiến tranh, rồi tôi lớn lên trong chiến tranh, rồi tôi bước vào cuộc mưu sinh cũng trong chiến tranh!
   Thời kháng chiến cho đến khi đất nước chia cắt, nhạc của Phạm Duy, là những bài ca dẫn tôi đi vào con đường âm nhạc, và từ dạo con sông Bến Hải “hai màu” cho đến ngày “Ta tiến về Saigon” âm nhạc không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của tôi.
   
   Kháng chiến chín năm tôi hát nhạc Phạm Duy, Phan Huỳnh Điểu, Tô Hải, Trần Hoàn, Lê Thương, Hoàng Nguyên, Lê Mộng Nguyên… Đặc biệt ca khúc  “Ngày trở về” của Phạm Duy, một bài hát làm rơi nước mắt hàng triệu người mẹ vì mỏi mòn chờ đợi con. Chỉ cần hai-mươi-lăm-chữ (25) trong nhạc phẩm “Ngày trở về”, dù trở về trên đôi nạng gỗ,  mọi người xúc động mỗi khi nghe lại ca khúc này.
   Hai-mươi-lăm-chữ, từ lúc:
  
    “… Mẹ lần mò ra trước ao
   Nắm áo người xưa
   Ngỡ trong giấc mơ
   Tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa
   Vì quá đợi chờ…”
  
    Không gian, thời gian, chỉ là những giây phút ngắn ngủi, nhưng đó là hình ảnh bất tận trong cuộc trùng phùng giữa mẹ và con khi cuộc chiến chưa hẹn ngày kết thúc. (Nhạc thì có “Ngày trở về”, ảnh thì có bức ảnh “Mẹ con ôm nhau rơi lệ” của nhiếp ảnh gia Lâm Hồng Long- người ở Bình Tuy tập kết ra Bắc)
   
   Cuộc đời có đôi khi là những chuỗi ngày chờ đợi, nhiều lúc không biết mình chờ đợi cái gì, tiền tài, danh vọng, tình yêu?... Đợi chờ trong nỗi hân hoan, chờ đợi trong niềm tuyệt vọng và ngay cả trong đợi chờ những điều mà mình biết sẽ không bao giờ có được!
   
   Trong “Ngày trở về”, người mẹ chờ đợi con… chờ đợi đến nỗi đôi mắt mẹ đã lòa, thì trên đời này không có sự chờ đợi nào vĩ đại hơn! Tôi không có tham vọng lý giải, phê bình, mà chỉ cảm nhận ở góc độ một người yêu mến âm nhạc, một người đã đi qua nghèo đói, dốt nát, mất mát, lâm trận trong  chiến tranh, và mẹ tôi cũng đã từng chờ đợi, cùng với những bà mẹ cũng đã từng níu tay những đứa con, đứa cháu, khi chúng bước vào cuộc chiến tranh mà chẳng hy vọng có ngày về.
   
   Nghiệt ngã và bất hạnh, từ khi những đứa con tuột khỏi tay mẹ, biền biệt nơi chiến trường, người mẹ không tính ngày, tính tháng, mà tính năm chồng lên năm… Lâu quá, đứa con đã trở thành “Người xưa”, còn người mẹ không còn là mẹ nữa, mà là “Ta”. Tôi nghĩ, không có cuộc chia ly nào lâu đến thế, không có ngày trở về nào lại xót xa đến thế và không có sự đau đớn nào hơn. “Ta” và “Người xưa” gần gũi mà muôn trùng cách biệt. “Ta” là mẹ, “Con” là người xưa, một sự xưng hô nghe nhói lòng, và có cuộc trùng phùng nào đớn đau hơn không? (Trong tình ca Ngày trở về)
   
   Những bài ca đi qua tôi trong chiến tranh vẫn còn đó. Nhạc phẩm “Ngày trở về” vẫn còn đó, thời gian đã xa chúng ta quá lâu, nhưng đó là bài ca hoài niệm, bài hát chứng tích chiến tranh, một áng văn bất hủ của chia ly và đoàn tụ trong chiến tranh. Ngày trở về của anh thương binh không có huy chương, và sự đãi ngộ dành cho anh là đám ruộng cùng con trâu và cây cày:
  
    “… Ngày trở về có anh thương binh
    Chống nạng cày bừa
    Vì thương yêu anh
    Nên ngày trở về
   Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ”… (Phạm Duy dùng chữ “con trâu xanh” hay quá).
   
   Nghe “Ngày trở về”, tôi chợt nhớ hai nhạc phẩm “Trở về” của Châu Kỳ và “Ngày về” của Hoàng Giác:
  
    “… Về đây nhìn mây nước bơ vơ
    Về đây nhìn cây lá xác xơ”… (Trở về - Châu Kỳ)
  
    “… Tung cánh chim tìm về tổ ấm
    Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm”… (Ngày về - Hoàng Giác)
   
   Tất cả đều là sự trở về, nhưng “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy lại mang nhiều vết thương lòng đã làm nhói đau hàng triệu trái tim của những người mẹ của một thời chia ly có khi là ly biệt.

   “Ngày trở về”…, ai cũng có một nơi chốn để trở về: Một mái ấm gia đình, hay một quê hương. Trở về sau chiến thắng, trở về sau thất bại, trở về từ một nơi xa xôi nào đó khi thấy cuộc sống bị đe dọa, bất ổn, hoặc trở về khi đã “tàn cuộc chơi”…
   Những người từ bỏ quê hương vì một lý do nào đó, đến cuối đời có đôi khi lại  mong muốn trở về  chính nơi mình được sinh và lớn lên. Nhưng cái nơi tưởng chừng đơn giản ấy lại không phải ai cũng toại nguyện. Chiến tranh vùi dập trong những tháng năm tưởng chừng như không thể nào dứt, chờ đợi hòa bình như vô vọng, vậy mà có hòa bình rồi sao có người lại sống chết tha phương?
   
   Tôi yêu mến nhạc Phạm Duy. Năm 2000 từ Mỹ anh đã viết thư khuyên tôi: “Hãy nghe nhạc Phạm Duy”. Và cũng trong năm 2000 này tôi đã gặp Phạm Duy tại Saigon. Vâng, tôi đã nghe, đã đọc về Phạm Duy, và lần này, xin phép anh, tôi viết về một chút suy nghĩ nông cạn của mình về ca khúc: 
  
    -NGÀY TRỞ VỀ

     TRANHUUNGU