Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

TỰ SÁT TẬP THỂ


Lemming là sinh vật họ hàng rất gần với chuột và sóc sống ở vùng địa cực. Tuy sống gần địa cực nhưng chúng không thèm ngụy trang bằng bộ lông màu trắng để tiệp mầu với tuyết. Chúng hiên ngang với bộ lông màu nâu đậm và cũng không ngủ giấc đông miên như một số giống thú khác sống ở xứ lạnh.
Theo một vài truyền thuyết thì khoảng mỗi bốn hay năm năm, cả vài ngàn con lemming lại kéo nhau đến một nơi ở Na Uy để tự tử bằng cách nhảy từ một bờ đất cao ngó xuống biển.
Sau khi không tìm thấy những bức thư tuyệt mạng chúng để lại mặc dầu đã mất nhiều công tìm kiếm, và tìm hiểu thêm thì các nhà sinh vật học tin là chuyện tự sát tập thể của những con lemming là không có thật.
Lý do chúng kéo nhau nhảy xuống biển rồi chết là vì chúng tìm cách đi kiếm những vùng đất khác để sống khi thấy nơi chúng đang ở đã quá đông đúc (vì sinh sản quá nhiều).
Nhưng huyền thoại về những chuyến đi tự tử của chúng thì vẫn còn, và nhiều người vẫn tin là chúng kéo nhau đi tự tử hàng loạt.
Thực ra không thể có chuyện cả ngàn con lemming đều thất tình, chán đời đến độ phải kéo nhau đi tìm cái chết như thế. Con thú nào cũng lận trong mình cái bản năng sinh tồn của ông Trời cho sẵn nên không loài thú nào tự đi tìm cái chết cả.
Chuyện tự tử chỉ có nơi con người mà thôi. Người ta tự kết liễu đời sống vì nhiều lý do khác nhau.
Có dân tộc tự tử nhiều, có dân tộc ít tự tử. Nhưng tự tử hàng loạt thì rất ít. Có thể nói là gần như không hề có hiện tượng đó, hiện tượng tự sát, tự tử, tự kết liễu đời sống cùng với nhau như huyền thoại về những con lemming ở Na Uy.
Như vậy, chỉ có loài người là biết tự tử.
Người Nhật hay tự tử nhất.
Tự tử để bảo toàn danh dự, vì thua trận, vì muốn lật ngược thế cờ như các phi công Kamikaze hồi đệ nhị thế chiến, vì không chu toàn được trách nhiệm như các samurai, vì những sai sót trong đời sống...
Người già tự tử vì cô đơn như nhà văn Yasunari Kawabata tác giả của Ngàn Cánh Hạc.
Người trẻ vì thất bại trong đời sống. Trẻ em Nhật cũng tự tử đến nỗi các cao ốc phải dựng lên những rào cản bằng lưới để ngăn chặn trẻ em nhẩy lầu trong mùa thi vì không thi đỗ vào lớp mẫu giáo...
Nhưng tự sát tập thể thì ngay cả ở Nhật cũng không có ngoại trừ một số kết liễu đời mình ngay trước hoàng cung khi Nhật hoàng loan báo nước Nhật thua trận và đầu hàng Đồng Minh.
Vậy mà ở Việt Nam thì có.
Người dân Việt Nam, cả nước đang cùng nhau tự sát tập thể.
Lý do không phải là vì chán đời, muốn đi theo bác Hồ hay bác chó gì hết.
Nhưng người Việt vẫn đang tự sát tập thể. Không phải một hai, vài ba trăm hay mấy ngàn người mà dân tộc Việt Nam đang rất can đảm tự tử hàng loạt, tự tử cả nước.
Và tự tử rất vui vẻ, anh hùng tự kết liễu đời mình, và luôn cả đời con cháu của mình, và giúp cho cả các thế hệ mai hậu tự giết mình.
Những cái chết do chính mình mang lại đó đang diễn ra hàng ngày một cách rất bình thản.
Người tự tử chấp nhận những cái chết một cách tự nguyện rất anh dũng, không một nỗ lực nào để né tránh.
Không bằng cách hara kiri tự mổ bụng như các hiệp sĩ Nhật, không lái máy bay lao vào chiến hạm Hoa kỳ như phi công Thần Phong Kamikaze, không ôm bom tự sát như khủng bố Hồi giáo. Người Việt Nam tự sát một cách bình thản và có phần vui vẻ là khác và được các đồng bào của mình sốt sắng giúp đỡ, một hình thức cũng có ở Mỹ nhưng rất hiếm hoi:
assisted suicide
(tự tử được sự trợ giúp) mà nhiều tiểu bang vẫn còn cấm ngặt và trừng phạt rất nặng như trường hợp của Bác Sĩ Jack Kevorkian (1928-2011).
Một cuộc nghiên cứu cho thấy là bệnh ung thư đang đóng góp rất nhiều vào việc giúp người Việt tự tử.
Một giới chức thuộc hội ung thư Việt Nam nói rằng Việt Nam là quốc gia có số bệnh nhân ung thư cao nhất thế giới.
Mỗi năm Việt Nam có khoảng 150 ngàn trường hợp nhiễm bệnh mới, và gần như đã nhiễm bệnh thì chỉ có chết.
Lý do Việt Nam có nhiều người bị ung thư như vậy, theo giới chức này là vì một cuộc sống bẩn hóa chất:
ăn bẩn, uống bẩn, thở bẩn.
Người Việt Nam ăn bẩn, rất bẩn. Gần như tất cả những thứ người dân Việt Nam cho vào miệng để ăn, để uống đều là những thứ độc hại. Không phải là những thứ mang những chất độc trong thiên nhiên, mà là những thứ thịt, cá, rau trái... được pha tẩm, ngâm... những loại hóa chất rất độc mà khoa học cho biết sẽ gây ra những chứng bệnh chết người về lâu về dài.
Trong năm qua, Việt Nam tiêu thụ khoảng 6 triệu con heo. Phần lớn những con heo này đều được chích những thứ thuốc giúp gia tăng lượng thịt nạc, giúp chúng tăng trọng lượng nhanh chóng. Một số heo trước khi giết còn được chích thuốc an thần. Những loại hóa chất và thuốc này chắc chắn là sẽ đem lại những hậu quả không bình thường cho người tiêu thụ.
Người Việt cũng tiêu thụ những nội tạng đã phân hủy, đã trong tình trạng thối rữa sau đó được dùng những loại hóa chất để tẩy màu, khử mùi hôi thối rồi nấu nướng lên ăn với nhau. Ngay cả những con tôm, những con cá cũng được chích hóa chất để giữ được lâu hơn trước khi đem tiêu thụ ở khắp hang cùng ngõ hẻm.
Những loại hóa chất độc hại này đều xuất xứ từ Trung Quốc được nhập cảng vào Việt Nam được bán công khai và được người Việt mua về để giúp nhau tự sát. Nhà cầm quyền thì không hề quan tâm đến những chuyện này, để mặc cho người dân tiêu thụ rồi chết với nhau. Những con gà phế thải ở Trung Quốc được đem sang bán ở Việt Nam cho người Việt tiêu thụ mà không qua bất cứ một biện pháp kiểm soát an toàn hay phòng ngừa nào của Việt Nam.
Các nhà buôn Việt Nam thì dùng các hóa chất nhập cảng từ Trung Quốc để biến thịt heo, thịt trâu thành thịt bò bằng cách sử dụng các loại hóa chất độc hại để kiếm lời.
Đừng tưởng miếng thịt tươi bán ngoài chợ đầu xóm là an toàn. Miếng thịt đó cũng đã được chích thuốc, từ con heo đã được cho ăn những thứ thực phẩm độc hại từ Trung Quốc. Mà đó là chưa kể những con chó bị đánh bả chết cũng được đưa lên bàn tiệc. Bả chó giết được chó chắc chắn còn trong xác con chó, ăn vào chắc chắn không thể tốt lành cho cơ thể người ăn.
Rồi đến những loại hoa quả trái cây cũng bị ngâm những thứ hóa chất để giữ cho tươi tốt được lâu như sầu riêng, như chuối...
Những loại hóa chất này cũng giúp giữ cho những trái táo nhập cảng từ Trung Quốc được đẹp hơn, giữ được cả vài ba tháng không bị ung thối, nhưng những thứ trái cây này có an toàn hay không thì phải xét lại.
Ngay cả những thứ rau trái trồng ở trong nước cũng không an toàn cho người tiêu thụ như những bó rau trồng ở ngoại thành Hà Nội được tưới bằng nhớt thải của xe hơi rồi được rửa bằng nước cống rãnh trên đường đi vào thành phố cho người tiêu thụ.Và người tiêu thụ vẫn... tiêu thụ. Người tiêu thụ thì có một sự lựa chọn nào khác đâu.
Thế là người Việt hồn nhiên tiêu thụ, ăn uống, cho vào mồm miệng đủ các thứ độc hại để chết một cách... hồn nhiên.
Một giới chức ở Hải Phòng nhận định rằng chưa bao giờ con đường từ dạ dầy tới nghĩa địa lại ngắn như thế.
Trong khi đó, bọn lãnh đạo thì ăn uống thế nào? Mấy năm trước, Lê Khả Phiêu khoe một vườn rau trên lầu bốn của nó ở giữa lòng Hà Nội, Đó, chúng nó ăn uống như thế đó. Còn người dân thì đang tự tìm đến những cái chết không cách gì tránh được để tự tử hàng loạt, tự tử cả nước là như vậy.
Không chỉ các loại thực phẩm nhiễm hóa chất độc mới giúp người Việt tự tử, mà còn có cả những sản phẩm tiêu thụ không phải là thực phẩm cũng góp phần vào việc giết người Việt.
Thí dụ các loại đồ chơi trẻ em rẻ tiền xuất xứ từ Trung Quốc cũng có chứa các hóa chất rất nguy hiểm có thể gây thương vong cho các trẻ em như những chiếc nhẫn, những chiếc vòng vàng giả, hạt trai giả, dùng các loại sơn mang chất chì rất độc được các cha mẹ ham rẻ mua về cho con em chơi.
Không chỉ đồ chơi trẻ em, luôn cả những sản phẩm dùng cho người lớn không ai ngờ tới cũng gây độc hại cho người dùng, như những tấm thảm để ngồi tập yoga cũng có những hóa chất gây ung thư.
Chẳng trách một cuộc nghiên cứu mới cũng thấy là tỷ lệ người Việt Nam bị ung thư là tỷ lệ cao nhất thế giới hiện nay.
Không dừng ở đó. Người Việt sẵn sàng sử dụng những sản phẩm có thể gây chết chóc khác nữa.
Hệ thống đường sắt Việt Nam vừa mua 164 toa tàu “đã qua sử dụng” nghĩa là đã cũ, tuổi đời từ 20 đền 30 năm. Những toa tàu cũ mà Trung quốc thải ra thì làm sao có thể bảo đảm an toàn cho các hành khách người Việt. Tai nạn và chết chóc là điều khó tránh được. Nhưng chúng vẫn được đưa về nước để dùng. Thế rồi người ta lại mua một số khá lớn những xe vận tải, những xe đầu kéo đã cũ cũng từ Trung Quốc để về sử dụng cho rẻ. Không ngạc nhiên khi thấy số tai nạn giao thông gây chết người không phải nhỏ ở Việt Nam ngày nay. Xe đã cũ, không sẵn phụ tùng, không được thường xuyên bảo trì thì gây nhiều tai nạn là phải.
Và cả một dân tộc đang tự sát tập thể là như thế!
Bùi Bảo Trúc

Copy fb Phạm Xen

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì? (Bài 9)


“Xin chọn nơi này làm quê hương , dẫu cho khó thương…”

Trong 8 bài trước tôi đã trình bày tâm trạng người ra đi sau sự kiện năm 1975, những năm đầu lập nghiệp khó khăn, sự thành công ổn định cuộc sống, việc giúp đỡ gia đình bên Việt Nam thời bao cấp đời sống khó khăn, và cuối cùng ngày trở về thăm lại quê hương sau khi Tổng Thống Clinton bỏ lệnh cấm vận. Bài này nói về di sản ngày 30 tháng Tư, và các khu phố Sài Gòn Nhỏ mọc lên như nấm khắp thế giới. Những ngày hưu trí, tôi đã du lịch khắp nơi, và thăm viếng nhiều Phố Sài Gòn Nhỏ. Hãnh diện và thương người Việt Nam mình.

Di sản ngày 30 tháng Tư là người Việt Nam bỏ nước ra đi, hiện đang sống rải rác khắp nơi trên thế giới. Nơi nào có người Việt Nam sanh sống, nơi đó có Phố Sài Gòn Nhỏ.  Phố Sài Gòn Nhỏ là chợ Việt Nam, nơi tập trung nhiều tiệm tùng và quản ăn Việt Nam, kể cả những bác sĩ, luật sư, báo chí truyền thanh truyền hình của người Việt Nam.

Tại những nước thuộc thế giới Tự Do, những khu người Việt Nam sống quây quần với nhau được gọi là Phố Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon). Tại Pháp người ta gọi những khu này là Phố Việt Nam Nhỏ (Little Vietnam). Ở những quốc gia Cộng Sản ngày xưa, những khu này được gọi là Phố Hà Nội Nhỏ (Little Hanoi).

Sài Gòn là thủ đô của người Việt Nam, đã bị Cộng Sản chiếm ngày 30 tháng Tư năm 1975. Cộng Sản đã bỏ tên Sài Gòn,  lấy tên lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh đặt tên thành phố.  Đa số người Việt Nam sống ở Mỹ hiện nay đều đến đây từ miền Nam với Sài Gòn là thủ đô cũ. Vì vậy họ gọi những khu người Việt Nam sống quây quần với nhau là Phố Sài Gòn Nhỏ, để nhớ tới nguồn gốc của họ.

Tại Mỹ có nhiều Phố Sài Gòn Nhỏ, lớn nhất và nổi tiếng nhất là Phố Sài Gòn Nhỏ ở quận Cam (Orange County) Cali, San Jose Cali, và Houston Texas.  Ngoài ra còn nhiều Phố Sài Gòn Nhỏ nhỏ hơn và ít biết đến hơn như ở San Francisco, San Diego, Atlanta, Sacramento, Denver, Oklahoma City, New Orleans, khu Dallas–fort Worth metroplex (Haltom City, Arlington, và  Garland), Falls Church, Virginia và Orlando.

Sau khi chiếm Sài Gòn Cộng Sản đã kỳ thị người Việt gốc Hoa, tìm cách đuổi họ ra khỏi nước. Người Hoa phải mua vé lên tàu trốn khỏi Việt Nam. Cộng Sản tổ chức cho người Việt gốc Hoa ai có tiền trả họ, họ cho đi vượt biên trong phong trào Thuyền Nhân. Khi đến Mỹ những người này thường sanh sống lẩn quẩn ở các chợ Tàu Mỹ.  Do đó ở Mỹ tại nhiều thành phố lớn, nơi nào có chợ Tàu, nơi đó có một số quán ăn và tiệm tùng Việt Nam. Thí dụ những nơi này là chợ Tàu các thành phố Las Vegas, Chicago, New York, Philadelphia, Boston, khu Bellaire thuộc thành phố Houston, và Honolulu.

Tại Mỹ và những quốc gia nói tiếng Anh, người Việt Nam gọi chợ của mình là Phố Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon). Tại Pháp người ta gọi những khu này là Phố Việt Nam Nhỏ (Little Vietnam). Tại những nước thuộc khối Cộng Sản ngày xưa người ta gọi chợ Việt Nam là Phố Hà Nội Nhỏ (Little Hanoi).

Theo một cuộc nghiên cứu của đại học Brown (Brown University) người Việt Nam tại Mỹ thích sống quây quần với nhau trong những khu riêng, không thích sống chung với người Mỹ trắng, giống như người da đen không thích sống chung với người Hispanic da trắng (nói tiếng Tây Ban Nha). Cũng trong cuộc nghiên cứu này, người ta nhận thấy người Việt Nam nghèo nhất trong số người Mỹ gốc Á Châu.

Trong lúc người Việt Nam tại Mỹ hội nhập khó khăn vô đời sống của xã hội Mỹ rộng lớn,  tại Pháp người Việt Nam hội nhập dễ dàng hơn. Ở đây người Việt Nam có khuynh hướng hội nhập sống chung với người Pháp. Do đó những Phố Việt Nam Nhỏ ở đây không qui mô như ở Mỹ. Theo một cuộc nghiên cứu năm 1988 ở Pháp, người Việt Nam đứng hang 4 trong những chủng tộc hội nhập tốt nhất ở Pháp, sau những cộng đồng người Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Trong loạt bài tới, mời các bạn thăm viếng Phố Sài Gòn Nhỏ lớn nhất ở Mỹ, là Phố Sài Gòn Nhỏ Cali ở quận Cam.

Phố Sài Gòn Nhỏ đã mọc lên như nấm khắp thế giới. Mời các bạn thăm viếng, và xem sinh hoạt của một vài Phố Sài Gòn Nhỏ lớn ở Mỹ. Hiện 2 triệu người Việt Nam đang sanh sống ở đây.

Suốt 42 năm nay, người Việt Nam đã đóng góp xây dựng nước Mỹ, biến những khu phố hoang tàn, đổ nát thành những chợ Việt Nam trù phú rất vui, thu hút nhiều du khách đến thăm viếng.

Mời các bạn đọc thêm và xem hình ở Notes và Album sau đây:

Phố Saigon Nhỏ (Little Saigon) ở New York
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.548422498624343.1073741958.441529119313682&type=3&uploaded=11

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/new-york-ph%E1%BB%91-saigon-nh%E1%BB%8F-little-saigon/10152711062488467

Phố Sài Gòn Nhỏ San Jose
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.658065340993391.1073742230.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-san-jose/10153184351003467

Phố Sài Gòn Nhỏ ở quận Cam Cali
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.657637131036212.1073742228.441529119313682&type=3&uploaded=27

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-%E1%BB%9F-qu%E1%BA%ADn-cam-cali/10153181798203467

Phố Sài Gòn Nhỏ là gì?
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-l%C3%A0-g%C3%AC/10153181060483467

Thăm viếng Phố Saigon Nhỏ Cali (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.552947408171852.1073741983.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-thăm-viếng-phố-saigon-nhỏ-little-saigon/10153135369498467

Phố Sài Gòn Nhỏ Cali: Dạo phố Bolsa
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.555487731251153.1073741997.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-cali-d%E1%BA%A1o-ph%E1%BB%91-bolsa/10153200339693467

Cali: Lang thang trên phố Saigon Nhỏ (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.555023017964291.1073741995.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-lang-thang-tr%C3%AAn-ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-little-saigon/10153200748768467

Cali: Đi ăn phở ở Phố Saigon Nhỏ (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.553165838150009.1073741985.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-đi-ăn-phở-ở-phố-saigon-nhỏ-little-saigon/10153150776038467

Cali: Ăn Bún Mắm ở phố Bolsa (Sàigòn Nhỏ Cali)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.553389978127595.1073741987.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-ăn-bún-mắm-ở-phố-bolsa-sài-gòn-nhỏ-cali/10153152630528467

Cali: Ăn bánh xèo ở phố Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.554543861345540.1073741992.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-ăn-bánh-xèo-ở-phố-saigon-nhỏ-little-saigon/10153151863343467

Cali: Gặp lại đại gia đình Võ Trường Toản tại Phố Sài Gòn Nhỏ
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.554792914653968.1073741993.441529119313682&type=3&uploaded=4

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-gặp-lại-đại-gia-đình-võ-trường-toản-tại-phố-sài-gòn-nhỏ/10153205422753467

Gặp lại gia đình Sư Phạm Sài Gòn tại Phố Sài Gòn Nhỏ Cali
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.554942761305650.1073741994.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-gặp-lại-gia-đình-sư-phạm-sài-gòn-tại-phố-sài-gòn-nhỏ/10153205518228467

Cali: Mặt trời lặn trên bãi biển Huntington (Huntington Beach)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.555565277910065.1073741998.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-mặt-trời-lặn-trên-bãi-biển-huntington-huntington-beach/10153205894523467

Cali: Đài chiến sĩ trận vong ở phố Saigon Nhỏ
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.555822347884358.1073741999.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-%C4%91%C3%A0i-chi%E1%BA%BFn-s%C4%A9-tr%E1%BA%ADn-vong-%E1%BB%9F-ph%E1%BB%91-saigon-nh%E1%BB%8F/10153206363283467

Cali: Ăn cơm gia đình trên Phố Bolsa (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.554436444689615.1073741991.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-ăn-cơm-gia-đình-trên-phố-bolsa-little-saigon/10153207770603467

Cali: Chợ đêm Phố Bolsa (Phố Sài Gòn Nhỏ Cali)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.554084778058115.1073741989.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-chợ-đêm-phố-bolsa-phố-sài-gòn-nhỏ-cali/10153209238438467

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 1)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662128217253770.1073742241.441529119313682&type=3

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 2)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662171650582760.1073742242.441529119313682&type=1

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 3)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662260660573859.1073742243.441529119313682&type=1

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 4)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662339463899312.1073742244.441529119313682&type=1

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 5)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662501167216475.1073742245.441529119313682&type=3&uploaded=34

Một góc Phố Sài Gòn Nhỏ Cali (Album 6)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.662773433855915.1073742246.441529119313682&type=1

Hình ảnh Phố Sài Gòn Nhỏ Cali
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-cali/10153211992043467

Cali: Phố Sài Gòn Nhỏ San Gabriel Valley
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/cali-ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-san-gabriel-valley/10153200082763467

Phố Sài Gòn Nhỏ San Diego
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-san-diego/10153197797663467

San Diego: Một tiệm ăn Việt Nam sang trọng
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.561228377343755.1073742026.441529119313682&type=3

Los Angeles: Chợ Sàigòn (ở chợ Tàu)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.558814100918516.1073742015.441529119313682&type=1

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/los-angeles-chợ-sàigòn-ở-chợ-tàu/10153135361698467

Phố Sài Gòn Nhỏ Houston (Texas)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.657857177680874.1073742229.441529119313682&type=3&uploaded=7&pnref=story

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-houston-texas/10153183162373467

Phố Sài Gòn Nhỏ Philadelphia
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-philadelphia/10153189498518467

Phố Sài Gòn Nhỏ thủ đô Washington DC
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.658988687567723.1073742231.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-th%E1%BB%A7-%C4%91%C3%B4-washington-dc/10153188206508467

Phố Sài Gòn Nhỏ Orlando
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.659897610810164.1073742233.441529119313682&type=3

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-orlando/10153194272523467

Florida: Cảnh chợ Tết Việt Nam ở Orlando
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.587442844722308.1073742173.441529119313682&type=3&uploaded=15

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/florida-c%E1%BA%A3nh-ch%E1%BB%A3-t%E1%BA%BFt-vi%E1%BB%87t-nam-%E1%BB%9F-orlando/10152858261218467

Chicago: Phố Saigòn Nhỏ (Little Saigon)
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.581102452023014.1073742154.441529119313682&type=3

http://lthdan04.wordpress.com/2011/05/09/phố-saigon-nhỏ-little-saigon-ở-chicago/

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/chicago-phố-saigòn-nhỏ-little-saigon/10152831473373467

Phố Sài Gòn Nhỏ New Jersey
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-new-jersey/10153195225008467

https://www.facebook.com/LeThanhHoangDan/media_set?set=a.460469695100.257151.753265100&type=1

Phố Sài Gòn Nhỏ Louisiana
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/ph%E1%BB%91-s%C3%A0i-g%C3%B2n-nh%E1%BB%8F-louisiana/10153196803113467

Tháng Tư Đen (Black April) là gì?
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/th%C3%A1ng-t%C6%B0-%C4%91en-black-april-l%C3%A0-g%C3%AC/10153178989788467

Thuyền Nhân Việt Nam là gì?
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/thuy%E1%BB%81n-nh%C3%A2n-vi%E1%BB%87t-nam-l%C3%A0-g%C3%AC/10153179014938467

Người Việt ở Úc Đại Lợi (Australia)
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-úc-đại-lợi-australia/10153225273268467

Người Việt ở Pháp
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-pháp/10153226150618467

Người Việt ở Canada
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-canada/10153225661678467

Người Việt ở Đức (Germany)
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-đức-germany/10153226943293467

Người Việt ở Na Uy (Norway)
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-na-uy-norway/10153227422318467

Người Việt ở Mỹ
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-mỹ/10153237058243467

Người Việt ở Mỹ (Bài 2): Lợi tức và Hoạt động Kinh tế
https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/người-việt-ở-mỹ-bài-2-lợi-tức-và-hoạt-động-kinh-tế/10153238982783467

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 1)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/648113368655255/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 2)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/648113315321927/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 3)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/648113678655224/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 4)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/648113571988568/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 5)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/972470839552838/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 6)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.648113191988606.1073742205.441529119313682/972468372886418/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 7)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=441719280100&set=a.441717470100.225936.753265100&type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 8)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.649266481873277.1073742212.441529119313682/649266521873273/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 9)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri01/photos/a.864971980302725.1073742358.441529119313682/864972066969383/?type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 10)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=6236530100&set=a.6236150100.9478.753265100&type=3&theater

42 năm sống ở Mỹ: Được gì, mất gì?    (Bài 11)
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri03/photos/a.613459162099703.1073741852.491938480918439/613459222099697/?type=3&theater

38 NĂM NHÌN LẠI

Nguyễn Ngọc Chính

Con gái út của tôi sinh ngày 14/2/1975. Đây là một ngày tương đối đặc biệt nếu vào thời buổi này vì nhằm ngày Lễ Tình nhân Valentine.
Bây giờ vào ngày này, những người trẻ tuổi yêu nhau thường tặng nhau hoa hồng hay kẹo chocolate có hình trái tim. Ngày con gái út ra đời, Sài Gòn chưa biết đến Valentine nên 14/2 chỉ một ngày bình thường như bao ngày khác tại miền Nam đang ngày một leo thang chiến cuộc.

Điều quan trọng mà mãi mấy tháng sau tôi mới biết, cháu sinh ra chỉ cách ngày Sài Gòn đổi chủ hơn 2 tháng. Khi đó người Sài Gòn đã cảm thấy chiến tranh đang tiến gần đến cửa nhà mình. Những người “có máu mặt” đang rục rịch tìm đường “di tản” bằng nhiều cách, miễn là thoát khỏi Sài Gòn mà mọi người biết là vòng vây ngày càng thắt chặt.

Tôi chỉ là một Trung úy quèn, làm giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội, lại vừa mới đi tu nghiệp lần thứ 2 tại Hoa Kỳ trở về. Tôi không tìm đường đi Mỹ vì một điều dễ hiểu là mới từ bên đó trở về. Nói chung, cuộc sống ở đâu cũng khó khăn về vật chất nhưng về tinh thần thì sống tại nước Mỹ giữa những người khác màu da thì làm sao thấy thoải mái bằng ở Việt Nam, nơi ta sinh ra và lớn lên. Ý nghĩ đó theo tôi mãi cho đến ngày… bước vào trại học tập cải tạo.   

Ngay từ khi Ban Mê Thuột thất thủ ngày 10/3/1975 (1) tin tức chiến sự ngày một xấu đi. Các bản tin luôn nhắc đến “di tản” rồi “di tản chiến thuật” bắt đầu từ cao nguyên rồi đến miền Trung. Mọi người chạy loạn đều cố về gần Sài Gòn, phòng tuyến cuối cùng của miền Nam.

Ngày đó, người ta nghe đài VOA, BBC vào sáng sớm cũng như mỗi tối để cập nhật tin chiến sự. Sau này có người còn nói chính đài BBC đã góp phần khai tử Sài Gòn sớm hơn bằng những bản tin chiến sự nóng hổi đến độ còn đang đánh nhau đã đưa tin thua trận!

Trở lại với Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 4/1975.
Chiều ngày 28/4/1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị oanh kích. Mãi sau này tôi mới biết người dẫn đầu phi đội 5 chiếc A-37 từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) cất cánh về hướng Sài Gòn và thả bom sân bay Tân Sơn Nhất là Trung úy phi công quân lực VNCH Nguyễn Thành Trung (2).

Nguyễn Thành Trung chính thức xuất hiện như một người thuộc “phía bên kia” từ ngày 8/4/1975. Vào lúc 8 giờ 30 phút sáng, Nguyễn Thành Trung xuất phát từ sân bay Biên Hòa đã lái chiếc F5E ném bom dinh Độc Lập. Lần đầu ném 2 quả bom rơi không trúng mục tiêu, lần cắt bom thứ hai có trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ (!).

Trung tiếp tục dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè, rồi lái máy bay đáp an toàn trên đường băng dã chiến 1.000m ở sân bay tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước) trong khi F5E cần một đường băng hạ cánh đến 3000m. Phước Long khi đó đã thất thủ vào tay VC.

Trong chiến tranh, những trường hợp “hai mang” như Nguyễn Thành Trung không phải là hiếm.
Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Trịnh Xuân Ẩn… (3) là những gián điệp “nằm vùng” hoạt động trước Nguyễn Thành Trung. Vai trò của họ đã và sẽ được dư luận đánh giá “có công” hay “có tội”.

Có điều tất cả họ sẽ vấp phải những nghi kỵ sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ của một cán bộ “nằm vùng”.
Lê Thành Chơn trong “Phút cô đơn và phẩm chất của người anh hùng” trên báo Sài Gòn Giải Phóng viết về Nguyễn Thành Trung như sau:

“… Đời người sĩ quan tình báo đã dấn thân tự nguyện phụng sự cho Tổ quốc thì coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Còn bây giờ, anh đang sống trong lòng đồng đội. Nhưng, một buổi chiều, Trung được yêu cầu phải báo cáo một số vấn đề thuộc về lý lịch của mình... Chẳng ai nói với anh nguyên nhân! Nhưng với giác quan của người sĩ quan tình báo lâu năm, anh hiểu đó là việc làm bình thường. Gần đây đã có một số phi công xấu lợi dụng sơ hở, cướp máy bay chạy trốn...”

Nhà tôi ở rất gần Lăng Cha Cả. Ngày 28/4, từ căn gác trên đường Bùi Thị Xuân tôi có thể nghe tiếng bom nổ ở phi trường Tân Sơn Nhất và sau đó cột khói đen bốc lên cao. Chiến tranh đã thực sự đến thật gần.
Sáng hôm sau, 29/4/1975, tôi quyết định chở gia đình vào tá túc tại Bệnh viện Sài Gòn, nơi bà xã đang làm việc.

Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu làm thế nào một gia đình gồm 6 người trong đó có một đứa trẻ sơ sinh còn ẵm ngửa có thể ngồi hết trên chiếc Honda SS50 chạy một mạch từ Lăng Cha Cả về Chợ Bến Thành. Tôi vẫn còn nhớ đường tại khu vực quận 1 khi ấy rất nhộn nhịp khác thường. Có cả phóng viên ảnh người nước ngoài đang cố gắng ghi lại những hình ảnh cuối cùng của Hòn ngọc Viễn Đông.

Đưa vợ con vào tá túc trong Bệnh viện Sài Gòn tạm ổn tôi mới tính đến bản thân mình. Lúc đó tôi đang được trường sinh ngữ biệt phái về Tổng cục Quân huấn để thành lập ban Tu thư Dịch thuật.
Tổng cục Quân huấn nằm trong Bộ Tổng tham mưu nên cuối cùng tôi quyết định vào đó “ứng chiến”.

Sáng ngày 30/4/1975 tôi rời khỏi Bộ Tổng tham mưu trong bộ đồ dân sự. Lúc đó khoảng 10g sáng, trời mưa lất phất. Ngoài đường vắng vẻ hơn ngày thường, một cơn mưa trái mùa khiến tôi có cảm tưởng như trời đang khóc cho Sài Gòn vào ngày “đổi chủ” và sau đó người Sài Gòn “đổi đời”!

Bây giờ ngồi viết lại tản mạn những suy nghĩ sau một thời kỳ kéo dài 38 năm tôi hoàn toàn không có ý tả lại những cảnh khổ. Điều này đã có quá nhiều bài viết và người viết đã làm. Mỗi người một cảnh, mỗi người một suy nghĩ khi nhìn lại quãng thời gian 38 năm.

Ông Võ Văn Kiệt khi nói về ngày 30/4/1975 đã cho rằng: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

Nói như thế, sự kiện 30/4 được đón nhận theo cảm tính trái ngược nhau của những người sống tại miền Bắc và miền Nam vào thời điểm đó. Cũng là lẽ thường tình vì chúng ta nằm trong guồng máy chiến tranh, hoặc “bên này” hoặc “bên kia”.

Dĩ nhiên, người dân sống tại miền Bắc thấy cảm thấy “hồ hởi” trong số “hàng triệu người vui”.
Có những gia đình vui vì chồng cha, anh em sẽ không còn chịu cảnh “sinh Bắc, tử Nam”.
Có những người vui vì đất nước thống nhất, nói theo kiểu Trịnh Công Sơn, “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm…”.

Hay nói như “chú nhỏ 13 tuổi” Huy Đức trong Bên Thắng Cuộc:
“Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ:
phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối”.

Đó chỉ là ý nghĩ nông cạn của một chú bé đã lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.
Cảm nghĩ của Huy Đức sẽ thay đổi như thế nào khi đối diện với thực tế ở miền Nam những năm sau đó?
Sự vui mừng đó có còn trọn vẹn sau 38 năm đối với những người miền Bắc?
Hỏi tức là đã trả lời.

Cảm xúc của Dương Thu Huơng lại khác. Ngày mới đặt chân đến Sài Gòn khi vừa được “giải phóng”, tác giả đã bị choáng ngợp trước cuộc sống tiện nghi ở miền Nam, khác rất xa với cuộc sống khó khăn ở miền Bắc:
“Tôi đã ngồi phệt xuống vỉa hè Sài Gòn khóc, tôi biết miền Nam đã giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại...”.

Như vậy là những người từ miền Bắc vào Nam như Dương Thu Hương lại có một nỗi buồn chứ không phải nỗi vui khi nhìn tận mắt sự khác biệt giữ hai miền ngay từ năm 1975.
Nói chung, đó chỉ là những cảm nghĩ “vui – buồn” tức thời của nguời miền Bắc khi nghe tin “Sài Gòn được giải phóng”, cái mà người ta quan tâm là những thay đổi trong “tư duy” sau 38 năm.

Hàng triệu người miền Nam còn ở lại trong nước hay đã ra đi chắc chắn cũng không vui trong ngày 30/4/1975.
Có thể ai đó cũng vui khi Sài Gòn không bị “tắm máu” như lời đồn đãi.
Có thể người Sài Gòn bình thường cũng vui khi biết rằng đất nước sẽ qua đi thời chinh chiến để cùng nhau xây dựng lại quê hương theo như di chúc của ông Hồ Chí Minh:

“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” 

Thực tế nhìn lại sau 38 năm thật phũ phàng. Thời điêu linh (4) kéo dài hơn 10 năm với các chính sách cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền”, cải tạo công thương nghiệp, kinh tế mới, đổi tiền, đốt sách… đã khiến hằng triệu người phải bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mong manh giữa sóng biển. 

Trở lại với chuyện cô con út của tôi khi Sài Gòn sụp đổ mới chỉ chưa đầy ba tháng, hãy còn ẵm ngửa. Cô con gái này sau có biệt danh: “xúi quẩy”.
Cả nhà vẫn thường gọi đùa là vậy.
“Xúi quẩy” vì đồ đạc trong nhà cứ thay nhau ra chợ trời để lấy tiền mua gạo.
“Xúi quẩy” vì bố đi học tập mút chỉ.
Nói chung, “xúi quẩy” vì cả miền Nam đang trong thờ kỳ… “xúi quẩy”!

Tội nghiệp cho con bé hãy còn ẵm ngửa, nào có tội tình gì mà lại phải mang cái tên “xúi quẩy”.
Sau này khi biết nói, cháu bé còn giải thích vanh vách khi có người hỏi tại sao lại có tên “xúi quẩy”:

“Xúi quẩy là bán đồ đạc để lấy gạo ăn!”.

Từ đó, đối với tôi, hai chữ “xúi quẩy” vừa nghe buồn buồn của một thời điêu linh nhưng cũng lại mang ý khôi hài khi phát ra từ miệng trẻ thơ.

Cô con gái út còn ẵm ngửa ngày nào nay đã là mẹ của hai đứa trẻ.
38 năm nhìn lại tôi bỗng rùng mình như vừa qua một cơn ác mộng. Mộng và thực cứ như quyện lấy nhau đến độ không biết đâu là mộng, đâu là thực.

Trong sách Trang Tử có đoạn về Mộng hồ điệp được nhà văn Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:

“Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu”.

Chúng ta không phải là Trang Chu nhưng cơn ác mộng kéo dài 38 năm tựa như những ám ảnh trong tiếng đàn của Thúy Kiều:

“Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ điệp hay là Trang sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên”.

***

Chú Thích:

NGUYỄN THÀNH TRUNG

Nguyễn Thành Trung là một một cựu Đại tá Không quân Nhân dân Việt Nam, tên thật là Đinh Khắc Chung, sinh ngày 9/10/1947, tại Bến Tre. Cha là Đinh Văn Dậu (còn gọi là Tư Dậu), mẹ là bà Nguyễn Thị Mỹ.
Trung là người con trai thứ 4 trong gia đình có 5 anh em, vì vậy ông có có tên gọi trong gia đình là Năm Chung.

Sau năm 1954, trừ người anh cả tập kết ra Bắc, cả gia đình ông đều ở lại miền Nam.
Cha ông và người anh thứ hai đều hoạt động bí mật tại quê nhà. Riêng ông cùng người anh thứ ba và người em gái út sống công khai với mẹ để tiếp tục đi học.

Năm 1965, Trung được Ban binh vận T2 (khu 8) đưa lên Sài Gòn tiếp tục học hết bậc phổ thông, rồi vào học khoa Toán - Lý - Hóa ở Đại học Khoa học Sài Gòn (nay là Đại học Khoa học tự nhiên). Sau khi tốt nghiệp, ông được Ban Binh vận Trung ương cục Miền Nam chỉ đạo thi tuyển vào Không lực Việt Nam Cộng hòa. Ngay sau khi nhận được giấy báo trúng tuyển, ngày 31/5/1969, Nguyễn Thành Trung được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam.

Sau hơn một năm huấn luyện ở Nha Trang, Nguyễn Thành Trung được đưa đi đào tạo phi công ở các căn cứ Hoa Kỳ tại các bang bang Texas, Louisiana và Mississippi. Đến năm 1972 về nước, phục vụ tại căn cứ không quân Biên Hòa, trực thuộc Sư đoàn 3 Không quân, Phi đoàn 540 Thần Hổ.

Sau 1975, vì là người duy nhất có thể lái máy bay F5 và A37 của QĐNDVN, Nguyễn Thành Trung được phân công phụ trách công tác đào tạo, huấn luyện bay và đã góp phần rất lớn gầy dựng nên Trung Đoàn Không Quân Cường Kích 937 và Trung Đoàn Không Quân Tiêm Kích 935.

Tuy nhiên sau đó đã xảy ra một số vụ vượt biên trái phép bằng máy bay tại các sân bay phía Nam mà chủ mưu thường là các sĩ quan không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trá hàng nên Nguyễn Thành Trung cũng bị vạ lây và mất tin tưởng từ cấp trên, phải 'ngồi chơi xơi nước' cho đến năm 1980 mới được bay lại, nhưng chỉ được bay 4 vòng quanh sân bay rồi xuống đất chỉ đạo tiếp.

Cuối cùng Nguyễn Thành Trung cũng được minh oan và những đóng góp to lớn của ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 20/1/1994. Sau đó ông là Phó Tổng Giám đốc Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines).

Sau khi về hưu, Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay Beechcraft King Air 350 của Bầu Đức (Đoàn Nguyên Đức, Hoàng Anh-Gia Lai), người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay riêng.

(Nguồn: Wikipedia)

Copy fb phạm xen

Thơ Thuc Tran

Chia sẻ với mày thằng tao không quen biết...

Những ngày còn sống với Việt Cộng
Tao từng phải ăn đọt mì để sống
Nó đắng nghét nuốt không qua cổ họng
Tao từng lội rừng suốt đêm với cái bụng rỗng
Đến lúc mệt lả thì nằm ngửa mặt ngắm sao trời
Những phút thê lương ấy tao vẫn thấy ở đời
Tự Do là quý nhất.

Đất Sài Gòn
Tao từng lang thang như thằng hành khất
Khuân vác mỗi ngày để kiếm miếng cơm
Đèn sách đêm đêm để mơ chuyện lớn hơn
Những lúc ấy tao vẫn thấy trên cõi đời này
Tự Do là quý nhất.

Có người từng hỏi tao: “Ê Thức!
Tao quen ông này bà nọ, muốn giới thiệu không?”
Tao chỉ cười: “Là một đàn ông,
Nhục nhã nhất là làm thằng bu bám.”

Dẫu phút thê lương hay thời đình đám
Tao vẫn chỉ tôn thờ hai chữ Tự Do
Thứ quý nhất xin cũng chẳng ai cho
Thứ quý nhất mình phải tìm mới có

Nhìn cảnh mày nằm đó
Bầm dập như mấy thằng trộm chó dân họ đánh mỗi ngày
Nếu là mày tao sẽ rất đắng cay
Là đàn ông, tội đách gì phải vậy?

Theo đóm ăn tàn nó nhục thế đấy
Đám chóp bu chúng bán núi chia sông
Tiền đô la chúng có tỷ tỷ đồng
Mày hăng hái làm vừa lòng chúng nó
Chúng quẳng ra vài cục xương nho nhỏ
Đẩy mày ra mà đấu với nhân dân
Nếu là tao, tao sẽ chẳng ngu đần
Bán Tự Do vì vài đồng bạc lẻ.

Nghề chó săn là cái nghề chó đẻ
Xưa rồi nay vẫn vậy chẳng ai thương
Nếu là tao, tao dứt khoát hoàn lương,
Sao phải để vì miếng xương mà đo đất?

Tự Do mày ơi… mới là quý nhất!

NHÌN LẠI MÌNH ĐỜI ĐÃ XANH RÊU



Duyên Anh

*
Bài viết đã trên 45 năm. Vẫn giá trị, đăng lại để bạn đọc hiểu thêm về nhân vật "tay sai của cộng sản".
***
Tuần trước, tại Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Niên, đường Duy Tân, con đường Duy Tân cây dài bóng mát, Sàigòn, người ta mới diễn thuyết về đề tài Lý tưởng của thanh niên Việt Nam. Buổi diễn thuyết có thảo luận. Những cái đinh của buổi diễn thuyết đi tìm lý tưởng cho thanh niên là những tên tuổi của Sàigòn trí thức :
Luật sư Bùi Chánh Thời, Phạm Kim Vinh,
giáo sư Lý Chánh Trung,
nghị sĩ Phạm Nam sách...
Giáo sư Lý Chánh Trung, người liên miên đả kích những "ông vua chống Cộng", những kẻ chống Cộng hơn cả quốc sách chống Cộng, người thừa can đảm viết những gì mình muốn viết, nói những gì muốn nói và, thường thường, bênh vực triệt để những cuộc xuống đường phản kháng tuổi trẻ Sàigòn, đặc biệt, bênh vực sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm.
Luật sư Phạm Kim Vinh, một "ông vua chống cộng", người đả kích những cuộc xuống đường múa rối và, đặc biệt, dưới bút hiệu Tiêu Lang
(ký ở nhật báo Hòa Bình), mới đây, nhân cái chết của Lê Khắc sinh Nhựt, đã kết tội sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm là mầm non của Cộng sản khát máu.
Giới thiệu luật sư Phạm Kim Vinh và giáo sư Lý Chánh Trung để bạn đọc biết rõ hai cái thái cực đã gặp gỡ đề huề ở một nơi tìm lý tưởng cho tuổi trẻ. Bài này không luận bàn xa xôi về sự mâu thuẫn đầy tính chất hỉ, nộ, ái, ố ấy. Mà chỉ cố gắng tìm hiểu ba thứ tuổi trẻ mà giáo sư Lý Chánh Trung đã phân loại khi phát biểu trong buổi diễn thuyết.
Bài diễn thuyết của luật sư Bùi Chánh Thời không có gì mới mẻ.(**) Vẫn chỉ là lời lẽ của những kẻ ngồi trong bóng tối nguyền rủa bóng tối. Nếu mới lạ thì đó là sự chấp thuận của Tổng Nha Thanh Niên cho cuộc diễn thuyết miệt thị những lãnh tụ thanh niên ăn lương nhà nước ở trung tâm xây dựng bằng tiền của nhà nước.
Điểm này, ta nên suy tôn tinh thần dân chủ, tinh thần thượng võ của Tổng Nha Thanh Niên. Ban tổ chức buổi diễn thuyết không loan báo rộng rãi nên tôi đã bỏ mất dịp đi nghe và chỉ biết sơ qua nội dung buổi diễn thuyết, bài diễn thuyết bằng mẩu lược thuật đăng trên nhật báo Tin Sáng. Mẩu lược thuật đã thuật một cuộc "thảo luận" của giáo sư Lý Chánh Trung khiến tôi chú ý. Đấy là "câu" phân loại tuổi trẻ. Giáo sư Trung nhận xét rằng (đại ý) :
 Có ba loại tuổi trẻ:
+Một loại chăm chỉ học hành rất được chính quyền thương yêu.
+Một loại xuống đường phản kháng rất bị chính quyền thù ghét.
+Một loại tuổi trẻ... đi lính.
Giáo sư Lý Chánh Trung, một nhà trí thức mà tôi khâm phục cả về cái sở học lẫn tấm lòng chân thành thiết tha đối với dân tộc, tuổi trẻ, đã không chịu phát biểu thêm về cảm tình của ông về từng loại thanh niên. Xuyên qua những bài báo ông viết đều đặn, tôi thấy ông đứng với "loại tuổi trẻ xuống đường phản kháng".
Điều này tôi có bổn phận kính trọng sự quả cảm và quan điểm rõ rệt của ông. Bởi ông không mưu đồ ăn có cho sự nghiệp chính trị.
Ông không phải là chính khách chuyên nghiệp hay tập sự. Ông đứng với tuổi trẻ phản kháng, đứng thẳng, chấp nhận mọi hậu quả vì, có thể, ông nhìn được cái mụn mưng mủ trong trái tim "loại tuổi trẻ xuống đường phản kháng" mà người khác, luật sư Phạm Kim Vinh chẳng hạn chỉ nhìn thấy "loại tuổi trẻ xuống đường phản kháng" giống hệt "bọn biểu tình mướn" - trong mục Buồn vui với bạn đọc trên Hòa Bình -
Cũng như ông suy tôn Huỳnh Tấn Mẫm là lãnh tụ của tuổi trẻ , trong khi, ông Phạm Kim Vinh kết tội Mẫm là tay sai của cộng sản. Thành thử, tuổi trẻ phản kháng y hệt trái banh trên sân đời oan nghiệt. Kẻ bắt ôm vào bụng. Kẻ sút chí mạng. Tội nghiệp thay !
Ông Lý Chánh Trung, vẫn xuyên qua những bài báo ông viết đều đặn là người thù ghét chiến tranh (tôi cũng không yêu chiến tranh và không ai trong dân gian yêu chiến tranh trừ những kẻ làm giầu trong chiến tranh và có quyền uy nhờ chiến tranh), tất nhiên, ông phải thương sót "loại tuổi trẻ đi lính".
Điều này tôi lại có bổn phận kính trọng giáo sư Lý Chánh Trung. Tôi không đủ tư cách để thương sót "loại tuổi trẻ đi lính" mà chỉ biết cám ơn họ. Nhờ họ đi lính, tôi được bình yên ở thành phố đi nghe diễn thuyết, viết báo, và viết để biểu diễn sự giả dối, phù phiếm đánh bóng bằng những danh từ mỹ miều, rỗng tuếch ! Như thế, "loại chăm chỉ học hành rất được chính quyền yêu thương" đã không được giáo sư Lý Chánh Trung yêu thương. Hiển hiện. Chắc chắn. Bởi vì, dưới mắt giáo sư Lý Chánh Trung cứ chính quyền là xấu xa tồi tệ. Thì những kẻ được chính quyền thương yêu cũng chẳng đẹp đẽ, thơm tho. Phải vậy chăng ?
Phải rằng người ta muốn đồng hóa "loại tuổi trẻ chăm chỉ học hành" với loại "dân biểu gia nô" ? Tôi chờ đợi giáo sư Lý Chánh Trung trả lời câu hỏi này trên mục này của Tuổi Ngọc. Nếu giáo sư Trung giữ thái độ im lặng, chúng ta đành hiểu ông đã miệt thị cả "loại tuổi trẻ chăm chỉ học hành" lẫn người viết bài này.
Bây giờ, tạm quên giáo sư Lý Chánh Trung, tôi muốn nói về những bậc thầy, những đàn anh đã qua giai đoạn "chăm chỉ học hành" phán xét về
bọn đàn em đang "chăm chỉ học hành". Những bậc thầy, những đàn anh khoa bảng đầy mình rồi. Địa vị xã hội của họ đã có. Họ đủ thì giờ, thừa điều kiện để phản kháng, chống đối, bênh vực đàn em, chiến đấu cho quyền lợi của đàn em. Nhưng họ bất tài, bất lực. Tuổi trẻ của họ đã chết. Họ giống những cây khô trong thành phố, chờ đợi chặt thân, bứng rễ. Họ phải kích lệ hôm nay tuổi trẻ nổi loạn phá phách để được làm phù thủy hô hoán âm binh. Họ không mất mát gì. Bị bắt bỏ tù, họ có thành tích chiến đấu, dấn thân, cách mạng. Nhưng tuổi trẻ bị bắt bỏ tù, bị đàn áp thẳng tay thì chỉ có bất mãn. Và lêu bêu. Suốt đời lêu bêu với mớ kiến thức nỗi lềnh bềnh. Địa vị xã hội không nhường cho những kẻ trắng tay khoa bảng ở đất nước này.
Ngay cả cái lon chuẩn úy cũng chỉ mời mọc người có bằng tú tài. Vậy không muốn lêu bêu, không thích trở thành những chính khách lúa lép, những nhà cách mạng thời thượng, tuổi trẻ chỉ còn biết chăm chỉ học hành. Và chăm chỉ học hành cũng được chụp cái mũ là thân chính quyền. Tội nghiệp thay là "loại tuổi trẻ chăm chỉ học hành" !
Người tuổi trẻ Việt Nam ! Anh đã nghĩ gì về trường hợp Huỳnh Tấn Mẫm, về cái chết của Lê Khắc Sinh Nhựt ? Anh phải bình tĩnh, thận trọng. Tương lai anh đang ngậm như con quạ ngậm miếng phó mát. Anh cứ đậu trên cao, trên mọi tranh chấp đầy tính cách giai đoạn. Anh đừng dại dột nghe những con cáo đứng dưới nịnh bợ kẻo rơi mất tương lai. Và khi tương lai rớt, nhìn lại mình đời đã xanh rêu.
Vũ Thiên Chương
(1971)
(*) Lời câu kết trong bản nhạc Tình xa của Trịnh Công Sơn.


Copy fb Phạm Xen





Thơ Phố không mùa

Đêm cứ thắp đôi dòng tình tự
Đầm đẫm sương. Trăng rủ bóng xoà
Hương trầm thoảng gió phôi pha
Vùi sâu mê khúc... nhạt nhoà tiễn đưa..

Này, giọt nhớ dây dưa hoài đọng
Người xa rồi mỏi ngóng chi đau
Nắng vương tóc rối thêm nhàu
Còn không một kiếp mai sau mà chờ?

Phố không mùa
30/5/2015

ĐỪNG TƯỞNG

ĐỪNG TƯỞNG ( Phiên bản mới nha Sỹ Liêm)

11.  Lúc bé, tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được, cứ trống rỗng, tỉnh táo và vô hồn.
2. Lúc bé, tưởng cười là vui, bây giờ nghĩ lại, có những giọt nước mắt còn vui hơn cả một trận cười.
3. Lúc bé, tưởng đông bạn là hay, bây giờ mới biết vẫn chỉ có mình mình
4. Lúc bé, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm, chỉ đến ở những chỗ không người, đến giờ mới hiểu, lúc bên nhau, sự ấm áp mới thật mong manh, mà nỗi cô đơn sao lại gần gũi thế.
5. Lúc bé, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ, lớn rồi mới biết sau yêu còn có chia tay.
6. Lúc bé, tưởng thành người lớn là lớn, bây giờ đã thấy có nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn, và đến khi thật sự thành người lớn thì người ta sẽ biết không bao giờ bé trở lại được.
7. Lúc bé, tưởng đóng đinh thì đóng đinh, không thích thì là có thể nhổ, bây giờ cảm nhận được đinh có thể nhổ nhưng vết chân đinh vẫn còn.
8. Lúc bé, tưởng mình có thể thay đổi cả thế giới, giờ thấy được ngay cả 1 người còn chẳng có khả năng thay đổi. Có chăng, vẫn chỉ là tự thay đổi mình.
9. Lúc còn bé, tưởng yêu một người thì dễ, quên một người mới khó. Giờ thấy mình quên đi nhiều người cũng dễ dàng, nhưng để yêu, mới khó làm sao.

10. Lúc bé, thích định nghĩa về tình yêu, tình yêu là X, là Y, là A,B,C,D; bây giờ lớn lại cuống cuồng, vì hoang mang, không biết tình yêu thật sự là gì cả
11. Lúc bé, vẫn nghĩ rằng tình yêu là mãi mãi, tình yêu là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời. Giờ thì biết yêu đến đó, rồi đi đó, như mưa bóng mây, hay dù có như chớp bể mưa nguồn thì cũng vậy, có đó rồi mất đó. Và thật sự cũng chẳng biết thứ gì là quan trọng nhất

12. Lúc bé tưởng chỉ có kẹo là ngọt, giờ lớn lên còn biết có những thứ còn ngọt ngào hơn cả kẹo.
13. Lúc bé rất sợ phải chết, nhưng bây giờ khi tôi lớn lên mới biết sự lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều.
14. Lúc bé tưởng tượng rất nhiều, và giờ đây khi lớn lên mới nhận ra chuyện cổ tích không bao giờ có thật.
15. Lúc bé mẹ nói yêu thương cho đi là yêu thương nhận lại, giờ lớn lên chợt nhận ra, có những yêu thương chỉ cho mà không nhận.
16. Lúc bé mong mình lớn, giờ đây lớn rồi sao mong mình bé lại quá chừng
17. Lúc bé tưởng rằng yêu một người là sống vì người đó, giờ mới biết yêu một người là phải biết tự yêu lấy mình
18. Lúc bé tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm, giờ mới biết nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh
19. Lúc bé tưởng nói dối là xấu, giờ mới biết lời nói dối đôi khi cũng giúp ích rất nhiều

20. Lúc bé tưởng rằng trung thực là điều tốt, giờ mới biết sống trung thực với mình thôi cũng là điều khó biết bao
21. Lúc bé tưởng rằng những gì đến rồi sẽ đi, giờ mới biết niềm vui đến thi qua mau, còn nỗi buồn đến thì cứ ở bên ta mãi
22. Lúc bé cứ tưởng rằng sau tình yêu sẽ là hôn nhân, giờ mới biết có những cuộc hôn nhân không cần tình yêu
23. Lúc bé tưởng rằng tiền bạc - tình yêu và sức khỏe là quan trọng, giờ mới biết rằng sức khỏe - tiền bạc và tình yêu mới là quan trọng
24. Lúc bé tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, giờ mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh ta, có chăng là mình đã không nhận thấy
tưởng nói dối là xấu, giờ mới biết lời nói dối đôi khi cũng giúp ích rất nhiều
25. Lúc bé tưởng nói quên là có thể quên được, giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng
26. Lúc bé cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia, giờ mới biết được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất!

blog ThaiNam Tran
4/4/2016
Có thể đưa vào tâm lý học ứng dụng