Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2021

TRẦN HOÀI THƯ VÀ NGỌC YẾN

TRẦN HOÀI THƯ VÀ NGỌC YẾN VỚI CON CHIM CHẰNG NGHỊCH VÀ NỖI NHỚ QUÊ (TÁC GIẢ NGÔ THẾ VINH -FROM VOA TIẾNG VIỆT ).BÀI VIẾT CÔNG PHU VỀ CUỘC ĐỜI  MỘT NHÀ VĂN ,NHÀ GIÁO ,NHÀ LÍNH 

Lời Dẫn Nhập: 

Trần Hoài Thư (THT) là một tên tuổi có trong danh sách các tác giả của Tuyển Tập Chân Dung VHNT & VH II, nhưng cũng để thấy rằng đây là một chân dung văn học rất khó viết, do đã có quá nhiều người viết về đủ mọi khía cạnh của THT. Hơn thế nữa cuộc đời và sự nghiệp của THT quá phong phú nên với một bài viết dù chỉ là phác thảo cũng vẫn là một thiếu sót. Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ.

TIỂU SỬ TRẦN HOÀI THƯ

Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16/12/1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Bethlehem Hòn Chồng. Sau khi được đoàn tụ với thân phụ – là một ông đồ còn mặc áo lương đen, THT mới được theo học trường Quốc Học Huế, rồi vào đại học Khoa học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập vào tỉnh Quảng Nam).

Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. THT bị thương 3 lần. Lần đầu tiên do một viên đạn AK VC bắn vào ngực trái khi đơn vị anh tới tăng viện cho mặt trận Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân 1968, THT phải nằm Quân Y viện Quy Nhơn một thời gian. Hai lần sau đều là những vết thương miểng do lựu đạn trong hai cuộc giao tranh khốc liệt trên chiến trường Bình Định: một trên ngọn đồi Kỳ Sơn với 4 sĩ quan tử trận 2 sĩ quan còn lại bị thương trong đó có THT, một trên trận địa xứ dừa Bồng Sơn. THT rời đơn vị Thám kích sau 4 năm với 3 chiến thương bội tinh, rồi về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV nơi anh mới có một người vợ đồng bằng – Ngọc Yến là một cô gái Cần Thơ mê văn anh, cho tới ngày 30/4/1975.

MỘT MỐI TÌNH VĂN CHƯƠNG

Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964, có lẽ sớm hơn. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, những năm sau đó THT còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức...

Không biết cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến bắt đầu đọc và hâm mộ Trần Hoài Thư từ bao giờ. Trên Tạp chí Sóng Văn (1997), Ngọc Yến cho biết: “cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau, và nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai”. Từ trước đến nay, tôi vẫn đinh ninh anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa là ông mai. Qua Đỗ Nghê, tôi đã liên lạc được với Nguyễn Lệ Uyên, và anh đã mau mắn trả lời tôi ngay trong đêm qua một email [viết ngày 05.05.2021]:

“Chuyện là thế này: hồi học Sư Phạm Đại học Cần Thơ (1968), lúc làm hồ sơ nhập học bị trễ mấy ngày, bị làm khó. May sao gặp chị Yến làm ở phòng Hành Chánh của Viện nói giúp với ông Khoa trưởng. Sau đó thì thân nhau, bởi chị cũng biết tôi có võ vẽ mấy truyện ngắn trên Văn, Khởi Hành... mà chị thì mê văn chương, đọc nhiều, các tạp chí văn học chị hầu như ít bỏ sót, nên chúng tôi coi như chị em, chị lớn hơn tôi 7,8 tuổi. Những dịp nhận nhuận bút, tôi thường chở chị đi ăn món gì đó. Rồi trên số Văn chủ đề Những cây bút trẻ, lại có truyện của tôi và anh Trần Hoài Thư. Khi nhận nhuận bút, tôi mời chị đi ăn bún bò Huế ở quán ông Ba Mập ngoài Bình Thủy, trên đường đi Long Xuyên. Ăn, chị hít hà, chảy nước mắt và khen ngon. Trong lúc ăn, chị hỏi tôi có biết, quen anh THT không, có nhận xét gì về truyện anh Thư. Tất nhiên là quen nhiều, vì ảnh, từ Quy Nhơn hay vào chơi với anh em văn nghệ Tuy Hòa năm ba hôm, thường thì ăn uống rồi ở lại nhà tôi.

Thâm tâm, tôi chỉ nghĩ chị hỏi để hiểu rõ thêm về một tác giả, nhưng không ngờ, chị mê truyện anh Thư, mê các nhân vật khốn khổ của ảnh, như hiện thân của một THT được bê nguyên xi vào truyện rồi yêu cả truyện và người viết! Tới cuối năm 69 đầu 70, nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện chương trình ca nhạc, đọc, ngâm thơ hàng tuần ở giảng đường lớn, chị mới biểu lộ tình cảm thật của chị đối với anh Thư. Chị hỏi tôi gia cảnh, sinh hoạt cá nhân, tính tình... Vậy là đã rõ. Tôi ra sức vẽ vời anh THT còn hay hơn truyện tôi viết. Tôi sơn phết anh Thư cho tròn trịa hơn một chút, bặm trợn, lãng mạn như cụ Hemingway một mình giữa biển khơi. Tối đó, tôi viết cho anh Thư đến 4, 5 tờ pelures về chị Yến. Kể thật về điều tai nghe mắt thấy, về nhan sắc, tính tình của chị trong gia đình gia giáo (ông cụ thân sinh chị là GS Tổng Giám thị trường Trung học Phan Thanh Giản). Với anh THT, tôi viết thư nói đây là một mẫu người lý tưởng để làm vợ, anh đừng để mất cơ hội. Chị Yến thì gần, gặp nhau hai chị em nói chuyện thơ văn, tán dương ông anh Qúi Sách, khuyến khích chị viết thư làm quen với các nhân vật của ảnh. Sau vài ba lần như vậy, tôi nói thẳng với chị: Anh Thư là một người tuy không hoàn hảo, nhưng sẽ là người chồng tốt…” [hết trích dẫn]

Từ đó địa chỉ Tòa soạn Bách Khoa, trở thành hộp thư để cô gái miền Tây làm quen và liên lạc với người lính lang bạt Trần Hoài Thư. Sau đó Bách Khoa cũng là điểm hẹn cho lần gặp gỡ đầu tiên của hai người. Rồi trong một chuyến về phép ngắn ngủi, Thư có hẹn lần đầu gặp Yến ở Bách Khoa. THT vui bạn bè nên trễ buổi hẹn với Yến. Khi Đỗ Nghê chở Thư tới 160 Phan Đình Phùng thì Yến đã giận bỏ đi. Và cũng chính anh Lê Ngộ Châu đã tất bật đuổi chạy kịp theo Yến đưa trở lại toà soạn gặp THT. Những kỷ niệm trân quý với anh Lê Ngộ Châu là điều mà mãi sau này THT không bao giờ quên. Rồi không lâu sau đó hai người nên duyên vợ chồng. Thư đã làm lễ thành hôn với Yến ngày 18/6/1971.

Nguyễn Lệ Uyên viết tiếp: “Cuối cùng, như duyên tiền định với tô bún bò Huế cay xè tôi đãi chị, hai người hẹn hò nhau ở tòa soạn Bách Khoa, đến tháng 6,1971 hai người làm đám cưới; khi ấy tôi đang ở quân trường Thủ Đức, nhận được thư chị viết mấy dòng ngắn: Chị và anh Thư cưới nhau, ngày... tháng... năm... Em gắng lấy giấy phép về dự, không anh chị buồn".

Đúng là một “đám cưới nhà binh” tại Sài Gòn không thể nào đơn giản hơn, chỉ với mươi người bạn nơi một căn nhà trong xóm Bàn Cờ, không có rước dâu cũng không có cả nhẫn cưới.

Một tuần lễ sau, ngày 23/6/1971 Cơ sở Xuất bản Ý Thức tổ chức một buổi ra mắt sách cho Trần Hoài Thư với tác phẩm đầu tay “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” có Trần Phong Giao thư ký toà soạn Văn tới tham dự.

TIỂU ĐĂNG KHOA ĐẠI ĐĂNG KHOA

Trong tờ Văn 181 tháng 07/1971, nhà văn Trần Phong Giao viết: “Người xưa coi đại đăng khoa là thi đỗ, tiểu đăng khoa là cưới vợ. Đối với người cầm bút trẻ thời nay, phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung” thì đại đăng khoa không còn là thi đỗ, mà (có lẽ vậy) là có tác phẩm được in. Cây bút trẻ Trần Hoài Thư viết rất nhiều hiện nay, qua cả tiểu lẫn đại đăng khoa, cùng lúc. Ngày 18 tháng 6, anh đã làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Ngọc Yến tại Sài Gòn trong vòng thân mật. Ngày 23 tháng 6, vào hồi 19 giờ 30, Cơ sở Xuất bản Ý Thức vừa tổ chức một buổi tiếp tân trình diện tập truyện đầu tay của Trần Hoài Thư “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. Tiểu đại đăng khoa xong, Trần Hoài Thư vội vã lên đường trở về đơn vị ở Quân khu II. Lính chiến chỉ có một tuần nghỉ phép. Chạy ngược chạy xuôi, không có tuần trăng mật, cũng như không kịp đem sách mới đi tặng anh em bà con. Vui vậy đó! Nhân dịp vui mừng này, chúng tôi xin có lời cầu chúc đôi bạn Thư -Yến một hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt, Cũng xin cầu chúc tác giả “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” sẽ sớm có thêm nhiều tác phẩm mới khác, những tác phẩm não tuỷ và tinh tuỷ."

Một năm sau, đứa con trai đầu lòng Trần Qúi Thoại cũng là đứa con duy nhất chào đời. Đôi uyên ương Thư-Yến cho dù qua bao thăng trầm, họ đã có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt cho tới bây giờ, đúng một nửa thế kỷ (1971 – 2021).

Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.
Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.
***

Phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt ]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]
Phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt ]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]
Sự thực tác phẩm đầu tay của Trần Hoài Thư là cuốn Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang cũng do cơ sở Ý Thức xuất bản năm 1969, tại Phan Rang một tỉnh lỵ nhỏ của miền Nam, dưới hình thức “phổ biến hạn chế” theo cái nghĩa không qua kiểm duyệt. Mẫu bìa 2 màu do Lê Ký Thương vẽ, bản kẽm bìa làm từ Cliché Dầu Sài Gòn, được in typo bằng máy đạp / pedal thô sơ, và in 2 lần, mỗi lần cho một màu chồng lên nhau. Ruột sách thì in ronéo và khi thực hiện trên giấy stencil, được chị Kim Phương bạn của Nguyên Minh canh lề bằng chân sao cho giống bát chữ typo. Đợt đầu 100 ấn bản được ra mắt và phát hành từ nhà sách Huy Hoàng Nha Trang, cũng là quê hương tuổi thơ nghèo khó của Trần Hoài Thư. Và kết quả Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang đã được độc giả miền Nam đón nhận trong sự ngạc nhiên và thích thú.

Như vậy, Những Vì Sao Vĩnh Biệt phải được kể là tác phẩm thứ hai của Trần Hoài Thư nhưng là tác phẩm thứ nhất hoàn toàn được in theo kỹ thuật typo.

Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến-THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến-Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09.05.2021]
Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến-THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến-Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09.05.2021]
PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG VÙNG IV

Trần Hoài Thư sống sót sau 4 năm trong một trung đội Thám kích, với 3 lần bị thương, được coi như một phép lạ. Sau khi lập gia đình, Trần Hoài Thư đã nghĩ tới dừng chân lại. Phải được sống và tiếp tục được viết như một nhân chứng. Rồi bằng một cách thế không giống ai, không tuân theo hệ thống quân giai, một lỗi rất nặng về quân kỷ, Trần Hoài Thư tự viết một thư riêng cho vị tướng cao cấp nhất trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị, với nguyện vọng vẫn được ở trong quân ngũ nhưng chuyển ngành sang làm một phóng viên chiến trường. Trong phong thư riêng ấy, có những trang báo, những bài viết, những tác phẩm đã xuất bản và dĩ nhiên cả những tin tức liên quan tới ba lần bị thương cùng với các huy chương.

Không phải chờ đợi lâu, một sự việc lạ lùng nhất đã xảy ra. Trần Hoài Thư đã viết báo tin ngay cho Yến: “Không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi: sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông. Nhưng cái công điện đánh lên từ Tổng cục Chiến tranh Chính trị, cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của anh và hỏi anh muốn về nơi nào: vùng I, II, III, IV hay thủ đô. Dĩ nhiên anh chọn vùng IV nơi có Yến, người nữ độc giả của anh, và nay trở thành người vợ mới cưới của anh. Có lẽ anh may mắn hơn cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như anh.”

Như một tự sự, THT viết: “Xin cảm tạ văn chương. Nhờ văn chương mà tiếng chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận nhục nhằn, nhờ văn chương mà ta thấy ta cao lớn hơn bao giờ.”

Hành Phương Nam là những dòng chữ mới mẻ của một Trần Hoài Thư khác, của một người lính đang từ Cao nguyên nay xuống dưới Đồng bằng:

“Phương Nam. Tôi bắt đầu làm quen với những chiếc xe lôi hay những chiếc xuồng tắc ráng. Hay những cánh đồng mênh mông bạt ngàn. Hay những rừng tràm rừng đước. Tôi bắt đầu làm quen với những bãi đầm sình lún ngập đến cổ người. Những hàng ô môi, những chòm bông điên điển, những lời kinh giảng vang vọng trong đêm trăng, những tấm lòng hiền như đất, trọng tình trọng nghĩa mà tôi đã gặp. Tôi cám ơn, rằng cuối cùng Ơn Trên đã cho tôi một cõi nương tựa sau những tháng ngày lênh đênh trôi nổi… Cánh cửa đã mở ra như Phương Nam đã mở ra, đón tôi. Có mùi thơm khó có thể quên của bông lúa, hương cau, của mùi đất phù sa lan toả. Cánh cửa ấy đã được kết bằng những chùm mận trĩu nặng trên cành, rực đỏ giữa màu xanh của lá. Nơi nào, từ vườn sau nhà, hay bên dòng kênh, hay trước nhà, hay cạnh bờ ao, hai bên đường quốc lộ, những vườn mận sum suê trái quả. Có trái màu đỏ, có trái màu xanh, trái ửng hồng. Mời mọc ngọt lịm như đôi môi hồng muốn cắn, no đầy tròn trịa như bầu ngực con gái thanh tân, bầu bĩnh au au như đôi má ửng hồng của người gái quê quấn chiếc khăn sọc vằn chèo thuyền xuồng đưa người qua sông trong một ngày mùa hạ để bắt người khách không muốn về:

Qua sông mùa mận chín
Tháng nắng ngại đường xa
Em ra vườn sau nhà
Hái mời anh chùm mận
Bông mận rơi lấm tấm
Da mận hồng như môi
Ôi con mắt có đuôi
Má hồng đào ửng đỏ
Si em người em nhỏ
Ta ở mãi quên về
Trái mận nào dậy thì
Ta giữ hoài không cắn…

‘NGƯỜI VƯỢN’ TRẦN HOÀI THƯ

Nhưng rồi cũng chẳng được bao lâu, tới ngày 30/4/1975 lại một đổi đời. Trần Hoài Thư bị bắt đi tù cải tạo khi thằng con trai mới 2 tuổi. Cây mận trước sân nhà bông đã nở trắng, trắng như tóc của bà ngoại nó.

Hơn 4 năm tù khổ sai, mấy tháng đầu bị giam tại Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng cũ, thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang; sau đó THT bị chuyển qua trại tù Kiên Lương, trong một khu đầm lầy còn hoang vắng phía tây bắc tỉnh Kiên Giang gần biên giới với Cam Bốt.

Kiên Lương cũng như mọi trại tù cải tạo cộng sản khác, không bỏ tù nhân chết đói nhưng luôn luôn phải thiếu ăn. Thiếu ăn ngay giữa một vựa lúa ĐBSCL có thể nuôi sống cả nước.

Nhân danh nhân đạo, ban quản giáo trại cho phép đám tù nhân được lập thêm toán cải thiện: trồng rau trái và hái lượm để có thêm chất xanh. Vì Kiên Lương là vùng trũng [thuộc khu tứ giác Long Xuyên, vùng trũng thứ hai là Đồng Tháp Mười], giữa mênh mông rừng tràm với rất nhiều tôm cá, cua ốc. Với cơ duyên đó THT tình nguyện xung phong ngay vào nhóm đi câu, gọi là nhóm chứ đó là thứ lao động mà đám tù nhân muốn xa lánh: do sợ đỉa vắt và cả vô số trăn rắn trong khu rừng tràm; họ còn sợ nước phèn ăn da thịt và cả sợ sa chân vào vùng đất lún trong khu đầm lầy. Do nghĩ rằng chẳng có lối nào mà trốn thoát, nên lính canh trại cũng không cần phải đi theo canh gác. Với THT đó lại chính là cơ hội để có những khoảnh khắc sống tự do cho một tên tù thám kích đã quá quen với mưu sinh và thoát hiểm. Chàng Robinson Crusoe bất đắc dĩ thời hiện đại THT viết: “Tôi thì muốn tránh những con mắt. Tôi muốn trong rừng tôi có quyền la hét, hát hò, ỉa đái, cười ha hả. Tôi muốn ôm lấy đời tôi cùng thiên nhiên, mây trắng. Tôi muốn ngồi trên cây tràm như một con vượn người.”

Do nguồn cá thì ê hề: cá lóc, cá trê, cá rô… câu được với lưỡi câu tự chế với mồi trùn, những con trùn béo nhẫy rất dễ kiếm. Người tù khổ sai THT mỗi ngày dễ dàng “đạt chỉ tiêu” với số ký cá bỏ vào bao cát mang về nộp cho tổ anh nuôi. Dĩ nhiên phần cá ngon thì anh nuôi phải lựa ra nộp đem cho cán bộ quản giáo, phần còn lại mới là nguồn chất đạm / protein cải thiện cho anh em.

Hình ảnh mà THT không bao giờ quên là khuôn mặt đen đủi của Yến bám đầy bụi than mỗi lần đi thăm nuôi, do phải đi những chuyến xe đò cải tiến chạy bằng than củi.

Rồi cũng ra tù, THT trở về Cần Thơ quê vợ, với tấm thân xác nặng chưa tới 35 ký lô, để tiếp tục sống những ngày bị quản chế.

Ban ngày THT gò lưng trên chiếc xe đạp cũ nát với một thùng mốp cà-rem, đi vào các làng mạc, sáng chiều lắc chuông bán dạo, làm bầu bạn với đám con nít để kiếm sống. Cũng chính cái nghề rung chuông mua vui cho con nít ấy đã khiến một ông chủ ghe cảm kích, hơn nữa ông cũng đang cần một người dò đường mà đó cũng là nghề của chàng sĩ quan Thám kích THT. Ông cho Thư một vé xuống ghe “miễn phí” vì biết Thư quá nghèo. Chỉ có một chỗ, nhưng Thư thì còn vợ và một đứa con. Mãi sau này Thư mới được biết, chính Ngọc Yến vợ anh đã lén lút tìm đến ông chủ ghe năn nỉ. Ông chủ ghe nói: ‘Chị suy nghĩ lại, chúng tôi không muốn làm anh chị phải chia lìa’. Nhưng Yến vẫn cương quyết: ‘Tôi sẵn sàng để cho chồng tôi ra đi. Xin ông cứu giùm ảnh.’

Trần Hoài Thư viết: “Ở lại hay ra đi? Tôi đã sống trong sự giằng xé ghê gớm ấy. Ở lại thì ôm nhau mà chết, mà ra đi thì tôi sợ là một lần vĩnh viễn. Tôi đã thấy con thuyền ấy. Khoảng 20 thước bề dài, thuyền ván mong manh, chỉ dành đi trên sông sao lại đem nó ra thử với biển sóng hãi hùng?” Chính Yến giục giã chồng không thể bỏ qua cơ hội mà phải ra đi. THT viết tiếp: “Tôi chấp nhận. Tôi hèn nhát để chấp nhận. Ích kỷ để chấp nhận.

Rồi trước khi đi tôi phải đóng kịch, phải làm sao hàng xóm láng giềng biết việc tôi đào thoát không có sự đồng loã của gia đình. Nếu không Yến sẽ bị đuổi việc, vì sát bên vách là nhà của một mụ đảng viên. Không ai khác hơn chính bà mẹ Yến, một bà mẹ quá hiền quá tội, mẹ chưa một lần nói dối, lại là tác giả của vở tuồng cười ra nước mắt này. Bà khuyên hai con: “Con à, mình phải đóng tuồng. Hai vợ chồng con giả bộ gây lộn để hàng xóm biết, từ nay hai vợ chồng con mạnh ai nấy đi. Con hẳn biết, bên nhà hàng xóm là đảng viên.”

Tôi phải chứng tỏ rằng tôi bỏ bê, phụ bạc vợ con. Vở kịch chỉ có hai diễn viên. Người chồng và người vợ. Không gian là cái bếp. Thời gian là buổi chiều. Chỉ có chai đập nồi liệng, tiếng hét tiếng la, tiếng khóc, lớn chừng nào tốt chừng ấy. Với tiếng của Thư: Tao chán cái nhà này quá rồi. Tao sợ cái nơi này quá rồi. Tao đập hết, tao phá hết. Rồi với tiếng Yến: Tới nay thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt… Vai vợ chồng tôi đóng xuất sắc lắm. Đến nỗi thằng con trai 6 tuổi của tôi phải sợ hãi khóc oà. Và bà má vợ tôi phải sụt sùi nước mắt. Và chỉ có ba người biết rõ những gì trong lòng.

Tôi đi khi con tôi ngủ như một thiên thần. Tôi đi chỉ có một bộ đồ độc nhất. Vợ tôi đứng đầu ngõ dõi mắt nhìn theo. Sau đó nàng vào lại buồng chúng tôi ôm gối mà khóc ngất, khóc như chưa bao giờ khóc như vậy.” Và đó là một ngày cuối năm 1979, ngày anh đi cũng là ngày “xả chế”, chúng trả lại anh quyền công dân.

TỰ DO HAY LÀ CHẾT

Phải bỏ lại vợ con, Trần Hoài Thư vượt biển trên một chiếc ghe nhỏ đi sông dồn nén cũng chở được 93 người. Chuyến đi gian truân nhưng cuối cùng cũng tới được bến bờ tự do, đảo Pulau Bidong Mã Lai.

“Cuối cùng anh cũng quỳ xuống trên bãi cát để cảm tạ Ơn Trên. Tự do, mơ ước là đây. Biển bây giờ sao quá êm và quá xanh biếc. Sóng bây giờ sao quá đỗi hiền từ. Anh quỳ, dù hai tay anh đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, cú đá từ người lính Mã Lai. Anh nhắm mắt lại, không kêu đau, không van xin. Để biết thêm về cái giá của một cuộc ra đi và thấm thía thêm thân phận của một người không có đất nước. ‘Này đất này là của vua ta, bãi biển này là bãi biển của vua ta… Còn ngươi, một thằng từ đâu lạc chợ trôi sông, mang bao khổ luỵ phiền toái tới đất nước này.’

… Cứ chửi, cứ rủa đi anh lính đội chiếc nón bê-rê đen, cầm thêm cây gậy, bên mình lủng lẳng khẩu súng ngắn. Tự do đâu phải quá dễ dàng như một lần du ngoạn. Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Và có người con gái tóc dài tung toé, nhảy ào xuống biển. Còn nữa, còn bao nhiêu người đã lênh đênh trong vô tận của ngày của đêm, không thức ăn, nước uống, trên những vùng đá ngầm san hô, cá mập… Tự do hay là chết. Chết hay là tự do. Anh cứ đập tôi đi, nhưng cơn đau bầm của tôi, bụm máu khạc ra từ cửa miệng tôi, đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi bỏ lại. Tôi đã chờ đợi quá lâu, trong ngôi nhà mồ. Tôi đã muốn nhảy xuống biển tự tử khi nghĩ đến một lần họ bắt tôi trở lại. Bây giờ là ánh sáng rồi. Nó đã rực rỡ như muôn ngàn hào quang ân sủng. Nó vô hình vô dạng nhưng nó nồng nàn như mùi thuốc hồi sinh trong phòng cấp cứu. Tôi không buồn hay giận anh đâu. Bởi vì, tôi sẽ đứng lên, dù run rẩy đi nữa, dù đau tận cùng đi nữa.” (6)

Khi Tôi Đi Rồi, bài thơ đầy cảm xúc của Trần Hoài Thư khi phải cắn răng bỏ lại vợ con, lao mình ra biển khơi đi tìm tự do:

"... tôi ra đi thành thị sau lưng
chào từ biệt, quê hương mình lần cuối
tôi có thằng con chưa đầy bốn tuổi*
tôi có mẹ già tóc bạc tợ sương
tôi có vợ tôi cay đắng đoạn trường
đêm nay, đêm nay, trời ơi bỏ hết
khi tôi đi rồi một là chết biển
hai là bỏ xứ làm kẻ lưu vong
khi tôi đi rồi hai bàn tay không
giữa vùng mênh mông ngàn trùng bát ngát
khi tôi đi rồi, chắc hồn khó thoát
bởi quê hương cứ giữ chặt, không buông"
…​
(* Năm 1979, con của Trần Hoài Thư - Ngọc Yến lúc đó 6 tuổi)

Trên đảo, tuy phải mòn mỏi chờ đợi nhưng là của hy vọng. Khi có phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn, THT được hỏi có gì chứng minh ông là sĩ quan hay lính miền Nam, THT cởi áo vạch ngực chỉ vết thương đạn với sẹo lớn cắt đứt một núm vú nơi ngực trái; sang câu hỏi thứ hai ông dự tính làm gì nếu được vào Mỹ, THT nói anh là nhà văn anh sẽ tiếp tục viết về những nỗi khổ của miền Nam trong và sau chiến tranh. Không hỏi gì thêm, người Mỹ phỏng vấn tươi cười bắt tay anh và chúc may mắn. Rất sớm sau đó, THT được đi định cư tại Mỹ, thời gian đầu anh được đưa tới Maryland, sống tạm bợ tá túc khi thì trong một ngôi chùa nhỏ, khi trong nhà thờ rồi lang bạt qua nhiều nơi khác nhau sau đó.

NGỌC YẾN NỖI KHỔ NGƯỜI Ở LẠI

Trước 1975, Ngọc Yến là nhân viên hành chánh của Viện Đại học Cần Thơ, là thư ký của Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân. Sau 1975, Gs Nguyễn Duy Xuân bị cộng sản bắt đi tù cải tạo 11 năm, cuối cùng chết tức tưởi ở trại tù Hà Nam Ninh, miền Bắc Việt Nam.

Chuyện chỉ được Yến kể lại về sau này, là sau 1975, chức thư ký cho Gs Viện trưởng của Yến ban đầu được “cách mạng” đánh giá là quan trọng: Ngọc Yến như là “bí thư” của Gs Nguyễn Duy Xuân, có thể là đối tượng bị thanh lọc để cho đi học cải tạo. Nhưng do ý kiến “nhân dân”, đám công nhân viên cũ bảo rằng Yến chỉ là một thư ký hiền lành lo giấy tờ, đánh máy trong văn phòng chứ chẳng có một quyền hành gì khác, và Yến đã không bị bắt đi cải tạo, không bị sa thải.

Nhưng vẫn chưa yên, sau khi chồng đi rồi, Yến là đối tượng được chăm sóc của đảng uỷ nhà trường. Yến luôn luôn được nhắc nhở rằng chồng chị là một tên sĩ quan Nguỵ phản quốc đã trốn đi, chị hãy quên nó đi để xây dựng cuộc đời mới. Khi ấy Ngọc Yến là gái một con, còn trẻ đẹp nên có nhiều cán bộ theo bám. Rồi Yến được đảng uỷ chuẩn bị tác thành cho lấy một tên Đại uý phục viên và cũng là cán bộ của trường. Đang là công nhân viên, tuy với đồng lương chết đói nhưng Yến cần phải giữ hộ khẩu với sổ lương thực cho hai mẹ con. Uất hận nhưng Yến không dám dứt khoát nói không và chỉ xin cho một thời gian nguôi ngoai.

Đầu năm 1980, khi biết được tin chồng đã đi thoát, Ngọc Yến quyết định bế đứa con trai chưa đầy 7 tuổi tìm ghe vượt biên, cũng lại là một “chuyến đi chùa” do một ông chủ ghe có tâm Phật cho đi. Thêm chuyến đi thừa sống thiếu chết với đói khát nhiều ngày trên biển cả, rồi gặp hải tặc và tiếp theo đó những ngày dài phải bồng con đi ăn xin nơi một ngôi làng hẻo lánh bên Thái Lan.

TỚI NGÀY MỘT GIA ĐÌNH ĐOÀN TỤ

Trần Hoài Thư kể lại, không hiểu bằng cách nào, Đại tá Nguyễn Bé nguyên chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Chí Linh Vũng Tàu, có được số phone của THT. Ông báo cho Thư biết là có nhận được một phong thư gửi từ Thái Lan. Không chờ thư chuyển, Thư yêu cầu Đại tá Bé mở thư đọc qua phone, chỉ có vẻn vẹn một câu: “Em và con đã tới Thái Lan.”

Nhờ phước đức ông bà nay anh sẽ lại có một gia đình đoàn tụ. Sắp bước vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, THT thấy chỉ có một con đường tiến thân duy nhất là đi học trở lại. Từ Maryland, theo lời khuyên của một người bạn trẻ gặp được trong nhà thờ, THT quyết định đưa gia đình sang Philadelphia. Do không có tiền nên phải thuê một căn phòng giá rẻ trong một khu “slum” phía bắc thành phố, nghèo nàn mất an ninh, cư dân đa phần gồm nhóm người tỵ nạn Đông Dương như Lào, Cam Bốt và Việt Nam mới tới. Chỉ có một tay Đại Hàn hảo hớn là dám mở một tiệm Grocery store nơi đây. Đám tội phạm thường là từ bên ngoài đến, ra vào như chỗ không người. Có lần ban đêm, thấy cửa hàng Đại Hàn dưới lầu bị trộm phá cửa với các thùng hàng lớn nhỏ lũ lượt được khiêng ra. THT kêu 911, thì được sở cảnh sát cho biết: cửa hàng ấy đã có bảo hiểm, họ sẽ được bồi thường, và cảnh sát còn lưu ý là nên thận trọng, vì nếu tụi nó biết có người báo cảnh sát có thể bị trả thù. Hiểm nguy rình rập nhưng không có chọn lựa nào khác, gia đình THT vẫn phải tiếp tục sống trong khu ổ chuột ấy, trong một căn phòng chật hẹp với cửa sổ luôn luôn đóng kín, có đóng thêm cả đinh nhọn 10 phân làm chông.

Trần Hoài Thư đi học, vợ đi làm công nhân lắp ráp đồ điện tử với đồng lương tối thiểu. Thằng con trai thì được ba hoặc mẹ dẫn đến trường và hết giờ học thì nó phải tự về nhà một mình. Nó còn nhỏ và quá thấp để có thể với tới ổ khoá, vợ chồng Thư phải kê thêm hai cục gạch để nó có thể vói tới ổ khoá mở cửa vào nhà. THT lúc đó là sinh viên toàn thời gian ngành điện toán của Spring Garden College, ban ngày đi học, ban đêm thì làm janitor quét dọn phòng ốc để có thể trang trải cuộc sống.

Hai vợ chồng Thư đều biết luật pháp ở Mỹ, cho dù có lý do bận sinh kế đi nữa nhưng việc bỏ con nhỏ vị thành niên ở nhà một mình là phạm pháp. Vợ chồng vẫn phải luân phiên gọi điện thoại về thăm chừng con, khi không thấy ai lên tiếng, không biết chuyện gì xảy ra cho con, Thư phải tức tốc bỏ học về nhà nhưng đa phần là do nó ngủ quên không nghe chuông reng.

Rồi THT cũng xong học trình 4 năm, Thư tốt nghiệp điện toán với thứ hạng cao trong nhóm top five. Khi hãng AT&T tới trường tuyển chọn sinh viên vừa tốt nghiệp với thứ hạng cao, THT qua được cuộc Interview khó khăn, và ít lâu sau đó được nhận vào làm cho một chi nhánh của hãng này ở tiểu bang New Jersey. Đó là lý do gia đình THT dọn về đây, nơi có rất ít người Việt. New Jersey từ nay là nơi đất lành chim đậu. Ban đầu Thư ở nhà thuê, không còn phải lao động tay chân cực nhọc như một blue-collar worker, với đồng lương khá hơn hai vợ chồng dành dụm mua được căn nhà 4 buồng như hiện nay. Rồi thằng Thoại xong trung học, điểm cao nên được nhận vào trường Y khoa chương trình 7 năm, thuận buồm xuôi gió, nó tốt nghiệp bác sĩ y khoa.

Trong công việc của hãng, Thư chứng tỏ rất có khả năng và có sáng kiến, lại giỏi toán. Như một đầu tư lâu dài, hãng AT&T trả tiền cho Thư đi học thêm bán thời gian. Sau hai năm, Thư đậu thêm văn bằng Cao học Toán Ứng dụng / Master of Applied Mathematics. Nghiệp vụ tiếp tục thăng tiến. Khi chi nhánh của Thư được chuyển nhượng cho hãng điện toán IBM, Thư lên tới chức vụ Project Leader cho tới khi nghỉ hưu.

Từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quý Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]
Từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quý Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]
PHỤC HỒI DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM

Từ năm 2001, tuy còn đi làm Trần Hoài Thư đã cùng với người bạn lính Phạm Văn Nhàn, người bạn văn thuở nào. Hai người sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán.

Khi chi nhánh của công ty IBM outsourcing chuyển qua Ấn Độ, THT quyết định nghỉ hưu. Không còn bận bịu về sinh kế, đây cũng là thời điểm Thư có thể thực hiện điều mơ ước. THT có toàn thời gian bắt tay vào việc thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM.

Trần Hoài Thư có hùng tâm và gần như đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị CS Việt Nam trong nước đã không ngừng truy lùng và huỷ diệt.

Trái, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]
Trái, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]
ĐƯỜNG XA CHI MẤY: TỚI THƯ VIỆN CORNELL

Qua các thư viện Đại học lớn ở Mỹ, Thư có thể tìm ra một số sách báo miền Nam. Tương đối gần nhà là thư viện Đại học Yale, chỉ cách nhà 2 tiếng lái xe, nơi có học giả Việt Nam nổi tiếng Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Anh, ông cũng là người giúp nhà văn Võ Phiến tài liệu để hoàn thành bộ Văn Học Miền Nam. Rồi đến thư viện Đại học Cornell tuy xa hơn, cách nhà 5 tiếng lái xe, nhưng thư viện Đại học Cornell, khu Đông Nam Á châu phải nói là nơi có đầy đủ sách báo miền Nam nhất.

Thường thường Trần Hoài Thư chỉ lái xe ban ngày lúc trời còn sáng, còn Yến giúp lái xe ban đêm vì biết chồng dễ ngủ gục khi lái. Đường rất nguy hiểm, có đoạn là đường núi, nhiều khi tuyết băng đông đặc. Cũng hai lần suýt chết vì tai nạn khi đi Cornell trên những đoạn đường mưa tuyết trơn trợt. Và không thể tưởng tượng được, tại Cornell sách báo Tiếng Việt của miền Nam rất là dồi dào thế nào; họ có cả tờ truyền đơn chiêu hồi cũng được lưu trữ.

Có lẽ do bản chất của dòng máu thám kích nên THT rất liều lĩnh với những bước chân khai phá. Rời nhà lúc 4 giờ sáng trời còn tối Yến lái xe, khi trời sáng là phiên THT. Thường là tới nơi thư viện Cornel lúc 10 giờ sáng. Đằm mình trong khu thư viện Á châu, lục lọi tìm tòi, ghi chép, làm photocopy cho tới sẩm chiều – ngoài một lunch break ngắn của hai vợ chồng, cho tới giờ ra về. Không phải chỉ một ngày, mà nhiều ngày, không phải một tuần mà nhiều tuần, trong nhiều năm như vậy. Nhiều chục ngàn trang sách thơ văn miền Nam của Thư Ấn Quán là thành quả tích luỹ của công sức bền bỉ của vợ chồng Trần Hoài Thư trong nhiều tháng, nhiều năm, cho tới năm 2012.

Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư]
Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư]
Về máy móc thì THT lên Craigslist tìm ki(m đồ phế thải. Có khi họ cho không, có khi họ bán rất rẻ. Sau khi thỏa thuận, họ cho biết địa chỉ, mình đến, với cái screwdriver trong túi. Họ hỏi máy nặng cả tấn sao ông lại khiêng nổi? Tôi cười, tao biết cách. Rồi tháo máy ra, đến mức không thể tháo. Fuser, ngăn giấy, mực, assembly parts, khung… Mấy anh chàng Mỹ trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Chỉ có mực là mới có vấn đề. Lên eBay mua, nhưng làm sao biết ống mực tốt hay xấu?

Vậy mà đã 46 năm qua đi 1975-2021, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ trong các trại tù cộng sản. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng / livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]
Trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]
Một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] (3)
Một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] (3)
Tác phẩm đã xuất bản:

Trước 1975

1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang; 2. Những vì sao vĩnh biệt; 3. Ngọn cỏ ngậm ngùi; 4. Một nơi nào để nhớ.

Sau 1975

VĂN

1. Ra biển gọi thầm (Tập truyện); 2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện ); 3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện); 4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện); 5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện); 6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện); 7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút); 8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện); 9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa); 10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện); 12. Truyện từ Văn (Tập truyện); 13. Truyện từ Trình Bầy, Văn Học, Khởi Hành... (Tập truyện); 14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện); 15. Tản mạn văn chương (tập I); 16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện); 17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).

THƠ

1. Thơ Trần Hoài Thư; 2. Ngày vàng; 3. Nhủ đời bao dung; 4. Ô cửa; 5. Xa xứ; 6. Quán; 7. Vịn vào lục bát
HAI TÁC PHẨM THẤT LẠC SAU CHIẾN TRANH

1. Của Chiến Tranh; 2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.

Trong quân ngũ và ngay cả giai đoạn bỏ ngũ, Trần Hoài Thư viết rất khoẻ. Chỉ trong hai tháng sống ở Tháp Chàm với Phạm Văn Nhàn, Thư đã viết xong một truyện vừa có nhan đề Của Chiến Tranh, giao cho Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết * giám đốc nhà xuất bản Lá Bối lúc đó nhưng không sao qua được kiểm duyệt, và sau tháng Tư 1975 thì bản thảo duy nhất bị thất lạc.

[ *Sau 1975, anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết cũng là một thuyền nhân, đi cùng chuyến tàu với nhà văn Nhật Tiến, ban đầu sinh sống ở Alaska, rồi xuống ở Nam California, anh thành lập nhà xuất bản Văn Nghệ rất có uy tín ở hải ngoại trong nhiều năm trước khi anh nghỉ hưu ].

Tác phẩm thứ hai, Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân cũng là một truyện dài, được giao cho nhà văn Thế Uyên lúc đó đang trông coi nhà xuất bản Thái Độ và Tủ sách Văn Nghệ Xám.

[Thái Độ cũng đã từng in cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của Ngô Thế Vinh]. Cho dù Thế Uyên rất xông xáo nhưng cũng vẫn không vượt qua được hàng rào “phối hợp văn học nghệ thuật” của bộ Thông Tin, cho tới Tháng Tư 1975, bản thảo duy nhất cũng bị thất lạc.

Cả hai cuốn sách trên đã được quảng cáo trên báo chí nhưng không bao giờ được ra mắt. Đó là những tác phẩm bị thất lạc, thêm vào những tổn thất trong chiến tranh, vĩnh viễn đi vào sự quên lãng.

Những tổn thất nhân mạng trong chiến tranh đã được thống kê và nói tới. Thế còn những tổn thất trong văn học, liệu đây có phải là phần trách nhiệm của các sử gia?

Trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974); phải,Trần Qúi Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Qúi Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [ nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư ]
Trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974); phải,Trần Qúi Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Qúi Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [ nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư ]
Trái, các trang trí trên đĩa xứ của Trần Qúi Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Qúi Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.
Trái, các trang trí trên đĩa xứ của Trần Qúi Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Qúi Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.
Con Vịn Cha

Lan can ba, ba thẳng lưng
Ba dạy con chân đạp bùn mà đi
Con nhón chân, con đưa tay
Con vịn ba với cái đầu ngẩng lên!

Cha Vịn Con

Bây giờ ba lại vịn con
Tay trong tay con dẫn ba qua đường
Ba đi từng bước ngập ngừng
Bỗng nghe hơi ấm chảy rần trong ba

Trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quý Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.
Trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quý Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.
NGỌC YẾN ĐỘT QUỴ SAU TRẬN BÃO SANDY

Chỉ một tháng sau cơn bão tố Sandy tàn phá nhiều nơi trong đó có New Jersey, Ngọc Yến bị tai biến mạch máu não / stroke tháng 12/2012. Hurricane Sandy thì được đài khí tượng báo trước, nhưng trận bão stroke của Ngọc Yến thì không. Với Trần Hoài Thư, thì đó là một trận động đất / earthquake, mà động đất thì không có dấu hiệu gì báo trước và Yến rất bất ngờ bị một cơn stroke đánh gục, bị liệt nửa người bên trái. Tay trái, chân trái không thể cục cựa. Nhìn Yến không thể ngồi, đứng, một nửa thân người không còn cử động, Với Thư thì Yến vợ anh đã bị đóng đinh khổ nạn từ đây.

Quan sát những gì người ta làm cho Yến ở nhà thương, Trần Hoài Thư tự tay biến đổi căn nhà với thêm bậc thềm, tay vịn sao cho thích nghi với người vợ tàn phế. Thư cũng mau chóng học được cách đưa người bệnh từ xe lăn lên giường, chuyển từ giường xuống ghế ngồi, rồi cả những công việc vệ sinh cá nhân cho Yến như tắm rửa, thay quần, thay áo, thay tã và những thao tác tập vật lý trị liệu cơ bản cho người bệnh liệt bán thân. Tất cả nhanh và gọn mà ngay cả những therapists và home caregivers cũng phải trố mắt ngạc nhiên. Thư cố tạo một cảnh sống gia đình gần như bình thường cho Yến. Thấy Yến ăn ngon, ngủ ngon, luôn miệng nói mình vui quá là Thư vui. Chấp nhận như số phận đã an bài và anh nghiệm ra là: hạnh phúc càng lớn khi nó được nẩy sinh từ khổ nạn. Thư trải lòng mình trên trang giấy: “Mỗi ngày tôi cố mang cho Yến niềm vui. Cũng mỗi ngày tôi giấu Yến nỗi buồn của tôi.”

Nhưng rồi chưa yên, Yến còn bị giáng thêm một trận stroke thứ hai, rồi thứ ba, đến tháng 05/2015, Yến không còn có thể sống ở nhà mà cần được chăm sóc 7/24 trong một nursing home, bác sĩ bảo đó là cách duy nhất để cứu Yến và cứu cả Trần Hoài Thư.

Trong suốt 11 năm [từ 2001 tới 2012], Ngọc Yến – người bạn đời của THT, đã đồng hành giúp anh rất nhiều trong việc thực hiện các công trình phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam.

“Yến giúp tôi lái xe khi đi xa trong những lần tới Thư viện Đại học Cornell, rồi đóng bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, hay phụ với tôi khiêng những thùng giấy tôi mua với giá rẻ. Yến giúp tôi viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem, hay nhắc tôi về những sơ xuất. Khi một người hỏi order một cuốn sách, Yến luôn luôn nói là tặng, đừng lấy tiền. Tâm Yến là tâm Phật. Mất Yến là mất cả cánh tay phải, tôi như hết chỗ vịn.”

Rồi đều đặn như vậy, trong nhiều năm, ngày hai lần, Trần Hoài Thư nội trợ nấu thức ăn Việt Nam nóng đem vào cho Yến. Yến không chịu ăn đồ ăn Mỹ. Mỗi ngày Thư tìm cách kéo dài thời gian ngồi túc trực bên giường Yến. Đứa con trai bác sĩ thì đi làm xa, nhưng mỗi cuối tuần đều về để đi với ba vào thăm mẹ. Nó biết cách làm cho mẹ nó vui, cả gây cho mẹ mối ghen tuông với ba nó.

CHUYỆN ÔNG TRẦN HOÀI THƯ “CƯỚI CON PHƯƠNG”

Mỗi lần hai cha con vào thăm, bình thường thì Yến gọi Thư là “ba Thoại”, Trần Qúi Thoại là tên đứa con trai. Bỗng một hôm, chẳng rõ tại sao, Yến xoay lưng không thèm nói chuyện với Thư. Không biết chuyện gì đã xảy ra, Yến đổi hẳn cách xưng hô. Thay vì là “ba Thoại” thì hôm nay gọi anh là “ông Trần Hoài Thư”. Yến nói “Ông đang chờ tôi chết để cưới con Phương, có phải không?” Nghe Yến nói vậy, Thư tá hoả tam tinh, hỏi Yến: “Con Phương nào?” Một cái tên không thể nào Thư có thể nhớ ra. Thế là Yến giận, quay mặt vào tường không thèm nói chuyện với ba thằng Thoại nữa.

Nằm bệnh bao năm sau ba lần bị tai biến, chuyện mới thì Yến không nhớ, nhưng các chuyện cũ thì vẫn nhớ như in. Nhưng Thư thì vẫn nghĩ không ra “con Phương” là ai, hay là Yến ghen với một nhân vật nào đó trong các truyện đã viết của mình. Thế là về nhà suốt đêm vào máy tìm kiếm. Eureka! Cuối cùng Thư đã có câu giải đáp, thì ra “con Phương” là tên một cô gái giang hồ, một nhân vật trong truyện “Cơn Giông” được viên thiếu uý thám kích gặp trong một động điếm và đem lòng yêu thương, truyện mà chính Thư không còn nhớ, đã đăng trên báo Bách Khoa số 288 (1969) (5). Tuy bị Yến giận và ghen tuông vô lý nhưng Thư lại cảm thấy vui vì biết được phần trí tuệ còn sắc sảo của Yến.

NHỚ QUÊ NHỚ CHIM CHẰNG NGHỊCH

Trước đại dịch Covid-19, hầu như mỗi ngày 2 lần Thư được phép tới Nursing Home thăm Yến với thức ăn Việt nấu từ nhà đem vào. Nhưng rồi một hôm, các cô y tá cho biết, Yến không chịu ăn từ mấy ngày nay.

Yến không ăn đồ Mỹ điều ấy Thư đã biết nên Thư đã học nấu các món ăn Việt Nam từ Internet và cả biết Yến thích ăn món gì. Bác sĩ tới khám tổng quát cho biết tình trạng Yến vẫn ổn định và không mắc thêm một căn bệnh gì. Thư hỏi, vậy Yến thích ăn món gì để anh nấu. Yến trả lời: muốn ăn món chim chằng nghịch. Từ ngày về Vùng IV làm phóng viên chiến trường suốt 2 năm mà THT cũng chưa biết chim chằng nghịch là gì. Như mọi lần, Dr. Google đã giúp anh, và bây giờ Thư mới được biết, chim chằng nghịch hay còn gọi là gà nước vằn, mỏ dài chân đen là loại chim thiên nhiên chỉ có ở miền Tây Nam Bộ. Nhưng có lẽ chim chằng nghịch sau này quá hiếm và gần như biến mất khỏi đồng ruộng miền Tây rồi. Ngay cả bây giờ, nếu còn sống ở Cần Thơ quê Yến, thì cũng chẳng biết kiếm chim chằng nghịch ở đâu ra, huống chi đang ở Mỹ. Giải thích cho vợ hiểu nhưng Thư cũng thấm thía hiểu rằng, chẳng qua là Yến nằm bệnh quá lâu, quá nhớ quê mà nhớ ra tên con chim chằng nghịch từ một tuổi ấu thơ xa xưa nào.

Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [ nguồn: birdwatchingvietnam ]
Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [ nguồn: birdwatchingvietnam ]
Cũng sáng hôm đó, từ California tôi phone thăm Trần Hoài Thư. Lúc ấy Thư đang ở trong Nursing Home với Yến. Tôi bảo Thư đưa phone cho tôi được nói ít câu thăm chị. Thư giới thiệu tên tôi Ngô Thế Vinh thì chị nhớ ngay và nói “chào bác sĩ”. Tôi nhắc chị Yến, tôi là bạn của Thư, chị đừng gọi tôi là bác sĩ, nhưng lúc đó trong lòng thực sự có niềm vui, vì biết với cách xưng hô đó chứng tỏ trí nhớ chị còn rất tốt cho dù đã hơn 6 năm nằm bệnh. Tôi cũng nói với chị Yến qua phone, là mới đây tôi có về thăm miền Tây, và cũng chẳng còn thấy một con chim chằng nghịch nào. Và rồi Yến cũng quên đi chuyện con chim chằng nghịch và trở lại ăn uống bình thường với những món Thư tự tay nấu, trong nỗi vui mừng của cả hai cha con.

CÙ HUY HÀ VŨ THĂM ANH CHỊ TRẦN HOÀI THƯ 2016

Cù Huy Hà Vũ, là con trai của nhà thơ Huy Cận, nhỏ hơn Trần Hoài Thư 15 tuổi. Năm 1968, khi Thư là sĩ quan Thám kích đang lặn lội trong chiến tranh ở miền Nam thì Vũ mới là một cậu bé 11 tuổi, còn thập thò nơi cửa hang nơi đi sơ tán, xem phi cơ Mỹ từ xa oanh kích miền Bắc đạn bắn như pháo bông.

Văn kỳ thanh, nghe tiếng nhà văn Trần Hoài Thư, lại yêu thích văn học, hai vợ chồng Vũ đang sống ở Chicago, bay sang Boston, cùng với người bạn lái xe đi New Jersey thăm anh chị Trần Hoài Thư. Vũ xin được cùng THT đi thăm chị Ngọc Yến. Khi nghe Thư giới thiệu là có Cù Huy Hà Vũ là con trai của nhà thơ Huy Cận tác giả Lửa Thiêng, tới thăm, Yến kết nối được được ngay. Cũng ngay tại Nursing Home, Cù Huy Hà Vũ đã lấy giấy bút chớp nhoáng vẽ xong bức ký hoạ cùng với dòng chữ đề “Tặng Chị Nguyễn Ngọc Yến nhân Ngày của Mẹ Mother’s Day May 8, 2016”.

Vũ có nét vẽ tài hoa, bắt được ngay cái “thần” của Chị Yến, với đôi mắt đẹp thông minh và một vầng trán cao bướng bỉnh. Thấy Yến vui và cảm động, Thư cũng vui lây, cảm giác

Bài viết do Phan Trần chia sẻ trên fb tháng 5/21 mùa dịch hoành hoành

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

NHẤT QUỶ NHÌ MA THỨ BA HỌC TRÒ


Khoảng năm 1959 (?). Trường Hồ Ngọc Cẩn chính thức trở thành Trường Nam Trung Học TỉnhLỵ Tỉnh Gia Định,, không còn là Trường Công giáo nữa. Các lớp học của chúng tôi ở Trường Trương Tấn Bửu bị giải tán. Bọn Nam học sinh được sáp nhập vào Trường Hồ Ngọc Cẩn. Nữ sinh chuyển đến Trường Lê Văn Duyệt mới xây, gần Cầu Bông. Tuy chỉ có hai năm học tại Trương Tấn Bửu, chính xác là một năm rưỡi, nhưng cũng lưu lại cho tôi một số kỷ niệm khó quên về mái trường “mượn tạm” nầy. Trường toạ lạc chung với Trường Hồ Ngọc Cẩn trên một khoảnh đất rộng, được ngăn bằng bức tường gạch. Phía sau trường nầy, thẳng góc 90 độ  với hông trường kia, Hai cổng trường mở ra hai mặt đường khác nhau: Một ở đường Bạch Đằng và một ở đường Lê Quang Định.

Học lớp Đệ Thất 7A, tầng trệt, nằm gần cổng trường. tôi lại được xếp ngồi dãy bên phải gần cửa ra vào, nên thường lơ đảng nhìn qua văn phòng, nơi đó có cô Giám thị Điệp, người nho nhỏ , dáng thon thon. Khuôn mặt trái xoan, điểm chút phấn son phơn phớt, khiến cho tôi bắt đầu biết biết thế nào là ngẩn ngẩn ngơ ngơ, cho dù lúc ấy cô mặc áo dài khoát lên chiếc áo bầu. Cũng cái tật hay nhìn ra ngoài sân, nên tôi ghi được trong ký ức hình ảnh của Thầy Hiệu Trưởng kiêm nhiệm hai Trường: Thầy Đinh Căn Nguyên. Thỉnh thoảng thấy Thầy thả bộ từ Trường Hồ Ngọc Cẩn qua. Thầy thường mặc sơ mi ngắn tay, bỏ vô quần, thắt cà vạt, tay cầm ống vố, vừa đi vừa bập bập. Tới dãy phòng học, Thầy tấp vô, đảo mắt tìm xem em nào ngủ gậtc, Thầy èn bẹo tai kéo ra ngoài hành lang, bắt đứng cho tỉnh ngủ.

Năm đệ ngũ chuyển sang Trường lớp mới. Tôi lưu luyến cây phượng vĩ sân trường che rợp bóng mát và hoa phượng đỏ rợp báo mùa chia tay. Đó cũng là lúc chúng tôi làm văn, làm thơ ghi vào lưu bút trao nhau, có ảnh có hoa ép vào trang giấy. Tôi buồn bả khi không còn được liếc mắt trộm nhìn những bóng hồng tíu tít, hồn nhiên trong các giờ ra chơi, mặc dù tôi không quen một ai trong các nàng, trừ cô em của cô Điệp Giám Thị. Tôi quen nàng, có lẻ vì tôi thích nhìn…chị nàng. 
Từ nay tôi bước vào môi trường mới đầy khô khan, nghiêm khắc, với toàn những “thằng trai” đồng phục, quần tây dài xanh, áo sơ mi ngắn tay bỏ vô quần, trên ngực áo có đính phù hiệu Trường. Từ nay tôi có thêm buổi lễ chào cờ ỗi sáng thứ hai, có thêm đôi mắt “cú vọ” giám sát của Giám thị. Từ nay tôi làm quen với Thầy cô và các bạn học người miền Bắc, tôi phải làm quen với những từ ngữ xa lạ đối với dân “Nam kỳ rặc” như tôi. Một hai năm sau, mới có các giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm bổ sung. Còn trước đó thường là các giáo sư lớn tuổi. Tôi nhớ Thầy Thường dạy Anh Văn, bước vô ngồi xuống là ra lệnh mở sách L’Anglais vivant, Thầy đọc trước, cả lớp đọc theo, Reading trước đã. Nhớ Cô Hoa người nhỏ thó quắt queo, ngồi xuống là lật sổ Điểm danh, gọi lên trả bài, chủ yếu là chia Verbe. Nhớ cô Hồng dạy Việt văn, mới về Trường, cô dạy không hấp dẫn, nhưng tôi không bỏ sot một giờ nào của cô, vì cô hấp dẫn tôi. thật đẹp, không trang điểm nhưng má cô hồng, da cô trắng, giọng Bắc nhỏ nhẹ dễ thương. Không lâu sau, cô lấy chồng, tôi và một nhóm bạn đến phụ giúp cô những chuyện lặt vặt trong ngày cưới. Bạn tôi rất vui. Riêng tôi, không hiểu sao tôi thấy buồn buồn. Từ đấy, giờ học của cô không còn hấp lực đối với tôi nữa. Còn cô Oanh Vạn vật, người Nam, người mong manh, nước da xanh xanh, ngày đầu đi dạy, cô chịu không nổi sự nghịch phá của chúng tôi, phải mở “cặp táp”, giấu mặt vào đấy để khóc. Sau nầy, chúng tôi có đến thăm cô ở một căn phòng trong một chung cư ở Sài Gòn. 

Một buổi trưa, tôi vào lớp trễ, mặc chiếc quần vải trắng ống rộng thùng thình, cả lớp cười ồ!Tôi xin phép giáo sư được nghỉ học, sau đó xuống văn phòng nhà Trường xin nghĩ mấy hôm vì Ba tôi mới mất. Tôi hôm đó, Thầy Đoàn Đình Quất, đến nhà tôi thay mặt nhà Trường chia buồn. Thây có gặp tôi, xin lỗi về chuyện cả lớp đã cuời tôi buổi trưa. Có lẻ con Thầy là Tùng, bạn cùng lớp với tôi đã kể chuyện tôi cho Thầy nghe. Thầy dạy thể dục. Sân tập của chúng tôi là bãi đất trống nằm phía sau bệnh viện Nguyễn Văn Học. Tôi biết thêm một Thầy nữa dạy thể dục, là họa sĩ Văn Đen, Thầy không phụ trách lớp tôi, nhưng sân vận động chỉ có hai Thầy, nên tôi nhớ như in.
Bốn năm Hồ Ngọc Cẩn với biết bao buồn vui kỷ niệm. Buồn vì chia tay nhau sau một năm học, lên lớp trên khó được ngồi gần nhau. Vui vì đời học sinh, người ta thường ví “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Năm Đệ Tứ, tôi vướng vào một sự kiên “oan ôi! Ông Địa”. Một hôm., lớp học đang chờ tiết học của giáo sư khác tới,  tôi gọi tên thằng bạn tên Thụ ngồi ở bàn trên, dãy bên kia. Đang kêu : Thụ. Thụ… Bỗng “ngài” Giám Thị xuất hiện, ông chộp lấy tôi, rồi ghi tên tôi vào sổ “bìa đen”. Tôi bị phạt “cấm túc”, ngày chủ nhật phải đến Trường ngồi chép phạt. Lý do là ông tưởng tôi nghịch, gọi tên ông. Ông tên Dụ. Biện minh, rồi năn nỉ  thế nào đi chăng nữa, ông cũng lắc đầu quầy quậy, rảo bước đi. Tức thật muốn khóc!. Nói chuyện nghịch ngợm thì lắm trò. Tiếng động  dưới  gầm bàn, nghe sột soẹt, vì bị hất qua đá lại, vô phúc chạm chân mình, thì đó, có khi là chiếc dép, có khi là cái lon, cái lọ. Tóm lại là bất cứ vật gì càng khua càng tốt. Sợ muốn chết! Một trò khác, khi Thầy cô quay lưng viết bảng là những chiếc máy bay giấy bay lượn trong phòng học. Trò ồn nhất là khi cả lớp ngậm miệng mà phát ra tiếng. Đặc biệt khi Giám thị đi tới thì cả lớp phát ra tiếng ụ ụ ụ… Giám thị có vào cũng chịu, vì không tìm ra ai cử động mồm. 

Chúng tôi cũng có nhiều sinh hoạt, nhiều trò chơi giải trí lành mạnh, như làm báo giấy rồi chuyền tay nhau cho cả lớp cùng đọc ( mục nầy là tôi thích nhất và làm nhiều nhất ), rồi bích báo ( báo treo tường ), rồi đặc san Xuân. Giờ học nào Thầy cô nghĩ thì lang thang vô chợ Bà Chiểu coi người ta bày hàng buôn bán, cho đã thèm,. hoặc giả vô Lăng Ông Bà Chiểu ngồi xem ông đi qua bà đi lại. Xa hơn thì tới rạp Hùynh Long, bên hông chợ, hay rạp Cao Đồng Hưng , bên cạnh chợ, để xem quảng cáo phim…Vui nhất là khi nhà Trường tổ chức “Cây mùa xuân” hoặc mang báo xuân qua trường nữ Lê Văn Duyệt, bán lấy tiền gây quỷ là phụ, mà nhìn những người đẹp thướt tha trong tà áo trắng là chính….

Nhớ lại thời học sinh thuở ấy sao vui ơi là vui! Nhìn lại con mình thời này sao buồn ơi là buồn! Thấy tội nghiệp chúng vừa học, vừa phải làm kế hoạch nhỏ, phải tham gia đoàn đội, phải thi đua, phải học thêm…nhất là phải “ bi” luôn làm phiền cha mẹ, khi cứ nhận giấy nhà Trường gửi về, nay họp phụ huynh, mai góp tiền xây dựng nhà Trường, mốt đóng tiền mua nầy mua nọ, tổ chức lễ nầy, kỷ niệm kia… Hồi thời tôi đâu có như vậy đâu…..

NGUYÊN SANG

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021

Quay đầu là bờ.



——————————-
 
Ngô Minh Hiếu (Hiếu PC) - cái tên khét tiếng trong giới công nghệ không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Là một hacker lấy trên 200 triệu tài khoản của nhiều người ở nhiều quốc gia. Bị tòa án Mỹ tuyên án 40 năm nhưng chỉ ngồi tù 7 năm thì được thả. Nhìn nhận về Hiếu PC không đơn giản. Nếu chỉ xem trên những con số khô khốc nói trên, rồi đánh giá Hiếu như một tội phạm, hoàn toàn không sai. Thế nhưng, ở một góc nhìn khác, lần giở hành trình học hỏi của Hiếu và trở thành hacker tầm cỡ thế giới, chắc chắn sẽ có không ít người thán phục chàng trai này, như một tài năng "bất kham" hiếm hoi của Việt Nam về công nghệ thông tin.

Với chúng tôi, lần đầu tiên gặp gỡ, trò chuyện với Hiếu PC, cảm giác rất thật, rất chân thành toát ra từ trái tim của chàng trai trẻ trung này. Anh không ngại ngần tự thú mình từng là một tên tội phạm công nghệ lừng danh. Hiếu say sưa kể về những năm tháng trong nhà tù Mỹ. 

Hiếu cũng không khỏi nghẹn ngào khi lên án chính mình, vì đã gây ra bao nỗi đau cho rất nhiều người trên thế giới… Vâng! Hiếu cúi đầu nhận hết và xem đó là lỗi lầm của những tháng năm tuổi trẻ bồng bột, ích kỷ, tham lam vật chất, tiền tài…

Song, vượt lên tất cả, ngay khoảnh khắc hiện tại, bất kỳ ai tiếp xúc với Hiếu PC cũng sẽ cảm thấy vô cùng ấn tượng: Hiếu đã và đang nuôi trong mình một khát vọng cháy bỏng, là nỗ lực làm việc hết mình để cống hiến, để giúp người, giúp cuộc đời này bằng tất cả trí tuệ, tài năng của mình, khắc phục những sai lầm của bản thân trong quá khứ…

Hacker Hiếu PC: “Trên đỉnh cao sung sướng, tôi đã rớt xuống địa ngục” 

- Xin hỏi câu đầu tiên, duyên cớ nào dẫn dắt Hiếu đến với thế giới công nghệ thông tin? Trong khi tuổi thơ của Hiếu, nói đúng nghĩa là cậu bé nhà quê, không hề thành thị chút nào?

- Đúng vậy, tôi sinh ra ở Gia Lai. Khi tôi được 1 tuổi thì bố mẹ chuyển về Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa sống. Đến khi tôi học lên cấp 3 mới vô Sài Gòn. Tôi còn nhớ, năm lớp 5, lớp 6, ba mẹ có mua cho người chị gái một cái máy vi tính để bàn.

Lần đầu tiên được chạm vào cái máy vi tính, tôi rất thích thú. Rồi dần dà, tôi muốn khám phá bên trong cái máy ấy nó như thế nào, nó có những gì bên trong… Vì vậy, cái máy vi tính đầu tiên ấy bị hư hỏng hoài, do tôi vọc, nghịch phá. Mỗi lần máy hư hỏng, ba phải đóng gói gửi từ Cam Ranh vô Sài Gòn nhờ ông chú sửa chữa. Sửa xong, ông chú lại gửi ngược về Cam Ranh. Máy hư hỏng, sửa cả chục lần luôn. Ba mẹ la mắng thường xuyên.

Nhưng cũng nhờ cái máy ấy mà tôi đã tự mày mò, tìm hiểu, học hỏi đủ thứ, rồi tự sửa chữa từ phần mềm Window, đến sửa luôn cả Ram… Mua linh kiện về ráp, sửa lung tung. Mãi về sau, ba mới dành dụm mua riêng cho tôi 1 máy vi tính khác. Có máy tính, tôi gắn Internet. Khi đó, xài Internet rất tốn tiền. Thế là tôi mày mò lên mạng tìm hiểu tài khoản, rồi… hack, chỉ để xài Internet không phải tốn tiền thôi.

- Năm đó Hiếu bao nhiêu tuổi ?

- Năm đó, tôi khoảng 13-14 tuổi. Tôi hack được vài tài khoản của một số công ty để nhằm vô Internet không tốn tiền. Tuy nhiên, sau đó, VNPT phát hiện, họ gửi giấy phạt tới địa chỉ nhà tôi và nói trong nhà có người xài tài khoản Internet đánh cắp. Đó là lần đầu tiên tôi bị vướng tới pháp luật. Ba mẹ sợ quá mang tiền đi đóng tiền phạt, khoảng 20 triệu đồng.

- Từ khi nào, thế giới mạng, các vấn đề liên quan đến công nghệ thông tin cuốn hút Hiếu? Thật khó tin, một chú bé nhà quê tầm 13 – 14 tuổi, chưa học sâu các lý thuyết về công nghệ thông tin lại có thể hack được tài khoản để "xài chùa" internet như thế? 

- Những cái đó tôi coi ở trên mạng, tự mày mò, không có thầy nào dạy. Tôi mò lên diễn đàn của hacker tìm hiểu, rồi người ta chỉ dẫn. Nhớ mùa hè năm lớp 8, tôi 15-16 tuổi, vô Sài Gòn học thêm 3 tháng hè. Do tôi quá đam mê máy tính, mới xin ba mẹ theo ông chú. Chú tôi có cái tiệm sửa vi tính. Tiếp theo, tôi vào trường học, học an ninh mạng. 15 tuổi tôi đã học an ninh mạng rồi và học thêm thiết kế Website.

Trang web đầu tiên tôi thiết kế là trang web "hieupc.com" để chia sẻ phần mềm này nọ…Tôi cũng đi giao lưu ở mấy tiệm net quanh Sài Gòn. Vô mấy tiệm Internet cafe, tôi thấy mấy đứa cùng tuổi toàn chơi game. Tôi đâu thích chơi game. Tôi thích nghiên cứu phần mềm này nọ. Tình cờ một lần, tôi gặp được một ông anh chuyên về hacker trong một tiệm nét. 

Hai anh em trao đổi qua lại. Từ đó, tôi mới đi sâu vào thế giới ngầm của hacker. Đó là năm lớp 9. Sau mùa hè đó, tôi có kỹ năng hơn và trở về Cam Ranh học tiếp. Học xong lớp 9, tôi xin ba mẹ vô Sài Gòn sống. Gia đình không cho, tôi bỏ nhà đi luôn. Ba tôi thấy con xách đồ bỏ đi, nên chạy theo. Thế là hai cha con vô Sài Gòn. 

Lúc đó, tôi không muốn ở Cam Ranh. Ở Cam Ranh tôi không phát triển được về vi tính. Ở Cam Ranh, tôi chỉ học được mấy cái Microsoft Office, vậy thôi. Trong khi, tôi lại khát khao, muốn bung ra, học thêm này nọ. Ở Sài Gòn, tôi có điều kiện để học được an ninh mạng, thiết kế Website, nhiều thứ hơn… Vì thế, tôi chuyển vô học cấp 3 trong Sài Gòn luôn. Nhưng, cái sự học của tôi cũng gian nan lắm. 

Thời gian đó, do đi sâu vào thế giới mạng, suốt ngày nghiên cứu, học hỏi mọi cái trong cái thế giới ngầm, ảo ấy mà tôi bỏ bê việc học. Ngày nào cũng thức khuya, ngủ quên, không đi tới lớp tới trường, rồi bị kiểm điểm thường xuyên… Nhưng tôi cũng cố gắng, vượt qua được kỳ thi cấp 3. 

Được cái, học hành vậy nhưng "trình" vi tính của tôi lại tiến bộ vượt bậc. Tôi điều hành tới mấy diễn đàn Under Ground luôn. Số lượng thành viên tham gia các diễn đàn trên cả chục ngàn người. Tôi chia sẻ chủ yếu về cách hack. Ban đầu chỉ là cho vui thôi, không mang tính vụ lợi gì hết.

- Tới khi nào thì Hiếu thật sự "nhúng chàm", trở thành tội phạm trong thế giới mạng? Khi đó Hiếu có nhận thức hành vi của mình là phạm pháp?

- Tôi không ý thức được hành vi của mình là phạm luật vì hồi đó còn nhỏ quá. Đơn giản, chỉ cho vui, thích thú, vì mình vào được cái hệ thống đó. Cảm giác phấn khích lắm, giống như anh khám phá được cái gì đó. Lúc đó, tôi cũng không nghĩ về tiền bạc, tôi chỉ hack để lấy thông tin, tài khoản, dữ liệu, rồi thẻ tín dụng, sau đó chia sẻ cho bạn bè, vậy thôi. 

Tôi cũng chẳng quan tâm bạn bè sử dụng các dữ liệu ấy làm gì. Không nhận tiền bạc gì từ họ. Nhưng, nghe đâu những người bạn ấy dùng các tài khoản online ấy để mua sách. Thời điểm đó, tôi đã viết 4 cuốn sách chia sẻ miễn phí kinh nghiệm về thủ thuật công nghệ trên mạng. 

Một hôm, một người bạn biết cách kiếm tiền ở trên mạng đã chỉ dẫn tôi dùng những kỹ năng mình có được, để hack thông tin rồi lấy thông tin để kiếm tiền. Thế là từ đây tôi dính tới tiền bạc. Nhiều nhất là năm học lớp 10. Cuối năm lớp 10, tôi bắt đầu dính vô con đường tội lỗi, là hack tài khoản ngân hàng lấy tiền, lấy tài khoản thẻ tín dụng và đi làm bậy. 

- Hành vi sai phạm ấy đã mang lại cho Hiếu những lợi lộc như thế nào? Các tài khoản được Hiếu hack là ở Việt Nam hay thuộc các nước khác?

- Thời gian đó, mỗi ngày tôi kiếm được từ 500 - 600 USD. Tôi hack vào các tài khoản ở đủ các quốc gia. Việc kiếm tiền này, chỉ vài người bạn biết thôi. Hơn nữa, tôi lại có một ước mơ là đi du học. Nên cố dồn mục đích kiếm đủ số tiền, dùng số tiền đó để đi du học. Sau khi kiếm được khoảng 20.000 - 30.000 USD, tôi đi du học New Zealand. 

Sang bên đó, tôi lại tiếp tục hack. Tôi hack tài khoản từ một số trường đại học ở New Zealand. Mỗi tháng kiếm được từ 30.000 – 40.000 đô la New Zealand. Hậu quả là sau 1 năm ở New Zealand, tôi bị đuổi học và bị trả về Việt Nam.

- Một du học sinh mà dám hack tại xứ người, lúc đó, Hiếu có sợ bị bắt, bị tù không?

- Sợ chứ, tôi suýt bị bắt. Hôm đó, tôi đi rút tiền ATM. Bất ngờ, máy ATM nuốt luôn cái thẻ tín dụng. Tôi sinh nghi. Rồi tôi vào ngân hàng hỏi. Ngân hàng trả lời rằng, tôi đang bị điều tra. Thế là tôi vội vàng phi tang mọi thứ liên quan... Tôi bỏ hết, quăng hết các thẻ tín dụng, tìm cách mua vé máy bay về Việt Nam. Năm đó là năm 2010.

Sau khi về Việt Nam, tôi… hack luôn web của mấy trường đại học bên New Zealand cho bõ tức. Ba mẹ buồn lắm, vì sự nghiệp du học của tôi dang dở. Bản thân tôi, cũng cảm thấy xấu hổ với gia đình, xấu hổ với họ hàng... Rồi tôi hứa với gia đình không làm bậy nữa. Nhưng, đi cà phê với bạn bè, lại bị nghe xúi bẩy: không hack thẻ tín dụng ngân hàng để bán hoặc rút tiền thì hack các tài khoản an sinh xã hội để bán, an toàn hơn. 

Vậy là tôi lại tiếp tục dấn sâu vào phạm pháp nhưng ở hướng khác. Trên lý thuyết hack liên quan đến tiền bạc rất nguy hiểm. Nhưng, hack mấy cái số an sinh xã hội, tôi nghĩ nó đơn giản. Số an sinh xã hội, nó giống như cái số CMND ở nước mình. 

Tôi lấy cái số đó bán cho những ai có nhu cầu cần mua. Người mua các số an sinh xã hội đó sẽ dùng vào chuyện mở tài khoản ngân hàng, mở thẻ tín dụng hoặc mua nhà, mua xe… Số an sinh xã hội ở bên Mỹ rất có giá. Thời điểm đó, mặc dù đang ở Việt Nam, tôi đã lấy dữ liệu của khoảng 200 triệu người. Sau đó, tôi bán các dữ liệu ấy cho bất kỳ ai cần mua. Người mua ở mọi quốc gia.

Thu nhập của tôi lúc đó vài trăm ngàn USD mỗi tháng là bình thường. Dư dả tiền bạc, tôi tha hồ ăn chơi, đi du lịch, ở khách sạn 5 sao, mua sắm xe hơi, toàn xe xịn như Lexus, BMW.v.v… Giai đoạn đó, sau khi trở về từ New Zealand, tôi xin vô học tại Trường ĐH Khoa học – Tự nhiên TP.HCM. Học được 2 năm, mê mải lao vào kiếm tiền, tôi bỏ học luôn.

- Tới khi nào thì hành vi phạm pháp của Hiếu bị Mỹ phát hiện và bắt giam Hiếu?

- Năm 2013, tôi không hề hay biết mọi hành vi vi phạm trên thế giới mạng của tôi đã bị mật vụ Mỹ theo dõi. Họ bắt được một người bạn của tôi ở nước Anh. Người ấy khai ra tôi. Từ đó, họ giăng bẫy dụ tôi sang Guam. Khi tôi vừa đáp máy bay xuống Guam, cảnh sát Mỹ bắt tôi tại sân bay, vào ngày 7/2/2013.

Đi cùng tôi lúc đó là chị gái đang mang thai. Thoạt tiên, tôi không hợp tác, phía cảnh sát Mỹ đe, nếu không hợp tác, sẽ bắt giam luôn chị gái. Thương chị, tôi ra điều kiện thả chị gái về Việt Nam, tôi chấp nhận hết vì chị gái có tội gì đâu.

- Thời gian sống trong nhà tù của Mỹ, Hiếu cảm nhận như thế nào ? Họ đối xử thế nào đối với Hiếu – một tội phạm công nghệ?

- Phải nói 2-3 năm đầu rất khó khăn. Từ Guam, họ chuyển tôi vô đất liền, rồi lại chuyển đi lòng vòng, hết tiểu bang này đến tiểu bang khác. Lúc ở New York, khi thì California… Việc ăn uống cũng khó khăn vì không quen khẩu vị. Khoảng 2 tháng đầu, tôi gần như mất liên lạc với gia đình. Tinh thần khủng hoảng, tiếng Anh lúc đó lại kém. Ngủ nghê không yên giấc…

Bởi, đang trên đỉnh sung sướng, tôi rớt xuống địa ngục. Vô cùng hụt hẫng và xấu hổ. Thậm chí, có giai đoạn, tôi nghĩ tới chuyện thắt cổ tự tử luôn. Khoảng 3 năm sau, tôi mới lấy lại cân bằng trong cuộc sống, dù đang ở trong tù. Bình tâm lại, tôi nhìn nhận lại những sai lầm của mình từ lúc còn bé cho tới lúc lớn. Rồi những lần bất hiếu, nói dối ba mẹ… Sang năm thứ 3 ở trong tù, phía Mỹ mới bắt đầu cho tôi đi làm.

- Hiếu làm công việc gì khi đang là một tù nhân?

- Phía mật vụ Mỹ yêu cầu tôi làm đúng công việc cũng là sở trường của tôi luôn. Đó là điều tra tội phạm công nghệ cao. Tôi ngồi trong tù, nhưng họ vẫn tạo mọi điều kiện để tôi có thể điều tra những tội phạm trên thế giới mạng.

Họ yêu cầu tôi điều tra đa phần là tội phạm công nghệ. Sau thời gian ngắn, tôi đạt được kết quả rất tốt nên họ mới cho tôi ra tù sớm. Ban đầu, tôi bị xử tới 40 năm tù giam. Đây là bản án đầu tiên. Nhận bản án nặng như vậy, tôi khủng hoảng thật sự. Cuộc đời coi như chấm hết. 

May mắn, họ cho cái công việc điều tra tội phạm công nghệ. Ngoài ra, tôi còn làm thêm một số việc khác ngay trong căn – tin nhà tù như lau dọn bàn ghế, quét dọn, rửa chén… 

Rồi tôi được phép đi học thêm những khóa học trong nhà tù như: Cách cải tạo bản thân, kỹ năng mềm trong sinh tồn, cách làm cha - làm mẹ, học nâng cao kỹ năng vi tính... Tôi bắt buộc phải học, phải nâng cao trình độ tiếng Anh. Vì trong tù không ai nói tiếng Việt. Nhờ đó, khả năng tiếng Anh của tôi càng ngày càng lên. 

Tôi có cơ hội đi học thêm những khóa khác, cao cấp hơn, như khóa "Kỹ năng sinh tồn trong quân đội". Hàng ngày, 5 giờ sáng phải thức dậy và bắt đầu học tập, rèn luyện cho tới 9 giờ tối mới được leo lên giường. Việc đầu tiên, tôi phải xếp mùng, mền, mà phải xếp ngay ngắn...

Quản lý trại giam giải thích cho tôi: Đó là việc nhỏ nhất, mình không làm được thì làm sao mình làm được những chuyện lớn? Đến bây giờ, tôi vẫn giữ thói quen đó: Thức dậy sớm, gấp mền, mùng thật ngay ngắn, gối cho vào tủ rồi muốn làm gì thì làm. Cái đó là cái việc đầu tiên phải hoàn thành. 

Thời gian đó, tôi còn được phân công cho cái việc chà rửa nhà vệ sinh (toilet). Cái việc khó khăn nhất, nhiều người ngán ngẩm nhất, thì tôi lại thích nhất. Bởi công việc chà rửa toilet, những bạn tù người Mỹ không ai chịu làm. Nhưng với tôi, chính việc chà rửa toilet – công việc vất vả nhất - lại là một thử thách cho bản thân. Tôi không thích làm những công việc dễ dàng. Chà rửa toilet, người ta chê, mình cũng chê thì ai làm?

Trong 4 bức tường nhà tù, tôi nghĩ đơn giản, cái toilet cũng là một phần cuộc sống hàng ngày của mình, mình phải chăm lo cho nó chứ. Nó có sạch sẽ, mình mới khỏe mạnh. Rồi, tôi nghĩ cho những người xung quanh. Những phạm nhân người Mỹ họ không chịu, lúc nào họ cũng đẩy công việc đó cho người khác, mà không có ai chịu làm, nên tôi phải làm. 

Ngoài ra, tôi còn lau kiếng nữa, phải lau kiếng theo chuẩn của quân đội. Lau làm sao không thấy một hạt bụi hay dấu vân tay còn in trên kiếng. Bữa nào, còn thấy dấu vân tay, coi như tôi bị phạt. Cứ đúng 7 giờ, là có người đi từ bên ngoài vào kiểm tra. Tôi đã trải qua ròng rã 9 tháng trong môi trường đào tạo khắc nghiệt không khác gì trong quân đội. Tuy nhiên, tôi rất thích thú.

Ngoài các công việc trên, trong ngày tôi cũng cố gắng học tùm lum những thứ khác: học yoga, học tâm lý, học Kinh Thánh, học đạo đức... Thêm đó, là những buổi chia sẻ câu chuyện số phận của tôi với mọi người xung quanh. Từ đó, họ hiểu về mình nhiều hơn. 

Qua đó, giúp người có hoàn cảnh giống mình. Thay vì chương trình đào tạo chỉ có 3 tháng, nhưng họ chọn tôi ở lại 6 tháng và cuối cùng, tới 9 tháng. Mục tiêu của họ để tôi ở lại, là để động viên những người xung quanh. 

- Có phải ngay tại nhà tù, Hiếu đã "lột xác" thay đổi con người "tội phạm" của mình để trở thành con người tốt?

- Đúng rồi. Không chỉ thay đổi chính mình, tôi cũng góp phần thay đổi được vài con người. Tôi rất vui vì điều đó. Trong tù, có không ít người suy nghĩ rất bi quan, tiêu cực. Sau khi họ nghe câu chuyện về số phận của tôi; họ nghe những gì tôi đã từng trải, rồi họ tận mắt thấy tôi kinh qua những ngày trong tù, không nề hà bất kỳ công việc gian khó nào… Họ nhìn lại mình và họ cũng thay đổi, sống lạc quan hơn. Những người bạn đó là người Mỹ da trắng và cả người Mỹ da đen. Trong đó, có những người phạm tội thuộc dạng nguy hiểm như: buôn bán ma túy, giết người…

Đến hôm nay, khi tôi đã về Việt Nam, một số người vẫn liên lạc với tôi. Họ thường xuyên tâm sự, sau khi ra tù, họ năng đi nhà thờ, thay đổi cách suy nghĩ, cách nói chuyện, có công việc ổn định. Họ rất vui.

- Trong nhà tù, Hiếu đã giúp phía Mỹ điều tra tội phạm. Số lượng tội phạm mà Hiếu điều tra, đạt kết quả như thế nào?

- Hơn 20 tội phạm về công nghệ cao như hacker…đã được tôi phát hiện, lần mò ra và cung cấp cho mật vụ Mỹ. Những người này đã bị mật vụ liên bang Mỹ bắt gọn.

- Trong khi cha mẹ, người thân ở Việt Nam không thể nào thăm nuôi. Có ai ở Mỹ quan tâm, giúp đỡ Hiếu trong những ngày ở tù?

- Năm 2015, lúc tôi được mang ra tòa xét xử, tôi có gặp được một phụ nữ 75 tuổi. Bà là cô giáo dạy tù nhân trong tù. Bà rất cảm tình với tôi. Bà nhận tôi làm cháu nuôi. Bà có nói một câu rất hay, khiến tôi nhớ mãi. Bà gửi cái thư ngắn, trong thư, bà nhắn tôi rằng: "Không cần biết một ngày của mình ra sao. Không cần biết mình thất bại thế nào. Quan trọng là mình phải biết đứng dậy, mặc lại đồ, tiếp tục vươn lên, không bao giờ bỏ cuộc". Đó câu nói tôi thuộc nằm lòng cho tới hôm nay, tôi không bao giờ bỏ cuộc. 

Bà dạy rất nhiều môn học. Bà coi mọi người trong lớp học không phải là phạm nhân mà là những con người đang vấp phải sai lầm thôi. Vì ai cũng có sai lầm, không ai hoàn hảo. Mỗi người cần được sửa sai, có một cơ hội để làm lại cuộc đời. Trước khi tôi bị ra tòa xét xử (tháng 7/2015), bà có ra tòa để nói chuyện với các quan tòa. Bà kể lại quá trình tôi cải tạo trong tù và hoàn lương ra sao.

Chủ tọa phiên tòa nói rằng, rất ấn tượng về tôi. Ông ta nói tôi đã thay đổi rất nhiều. Nhưng vụ án của tôi quá lớn, ông không thể nào cho tôi về ngay được. Tôi cần phải được xét xử, để răn đe cho xã hội và cho những người khác. Nhờ vậy, tôi mới được tòa giảm mức án từ 40 năm tù xuống còn 13 năm tù.

Tới tận bây giờ, tôi vẫn giữ liên lạc với bà. Năm 2015, khi tòa xử án tôi xong, bà có qua Việt Nam thăm ba mẹ tôi. Cả 2 ông bà đều qua luôn.

Quá trình thi hành bản án 13 năm tù, tôi tiếp tục được mật vụ Mỹ giao cho công tác điều tra tội phạm. Tôi làm việc, không hề có lương bổng gì hết. Phía Mỹ cũng không hứa hão điều gì, không hề nói trước thời gian nào tôi ra tù…Họ nói "mày cứ làm việc đi. Khi nào thấy OK thì cho về".  Thế là tôi cứ làm việc trong tù. Thời gian rảnh, tôi viết nhật ký. Tôi viết được 7 quyển nhật ký. Ngoài ra, tôi đọc rất nhiều sách, học nâng cao trình độ vi tính, kỹ năng giao tiếp, tâm lý xã hội…

- Lúc nào thì Hiếu nhận thức được cái đúng, cái sai, cái nào mình cần phải sám hối, cái nào mình cần phải sửa?

- Không nhớ rõ tháng năm nào. Nhưng chắc chắn, trong khoảng thời gian tôi đơn độc trong tù. Vừa thi hành án, tự học, tự rèn luyện bản thân…Tôi đã nhận ra được là cái nào đúng, cái nào sai, nhìn nhận cho đúng con người mình. Đặc biệt, khi tôi viết nhật ký, nhờ viết nhật ký, tôi mới tự hỏi, tự hiểu bản thân mình hơn. Qua đó, tôi suy nghĩ về cuộc đời, nhìn ra những sai lầm và chiêm nghiệm được cái đúng, cái sai trong cuộc sống hàng ngày.

Đặc biệt, tôi định hướng cho tương lai cho bản thân mình khi ra tù là như thế nào. Thí dụ, khi tôi ra tù, tôi phải làm cái gì? Một suy nghĩ bắt đầu nung nấu. Tôi mong muốn đóng góp cho cộng đồng. Tôi muốn cống hiến tài năng, sự hiểu biết của mình, cái kinh nghiệm của tôi cho cộng đồng. Ngày xưa, tôi sống như một kẻ không hồn. Tôi tôn thờ vật chất, tiền bạc; còn bây giờ, tôi nghĩ khác. Tôi nói với ba mẹ: "nếu con trở về, mà con vẫn như ngày xưa, thì con không nên về. Tốt nhất, con tiếp tục ở trong tù".

Song, kể từ ngày rời nhà tù xứ người trở lại quê hương, về với gia đình, tôi đã khóc và nói với ba mẹ: "Bây giờ, con chỉ cần mỗi ngày ăn 3 bữa là được rồi, không cần gì nhiều hết". Tôi bắt đầu tâm nguyện sẽ thực hiện bằng được những ý định mà tôi đã vạch ra trong nhật ký đã viết trong những ngày ở trong tù.

- Khi ra tù, Hiếu có ý định ở lại Mỹ không ? Phía Mỹ có cho phép Hiếu ở lại trên đất Mỹ?

- Ngày 20/11/2019, nhà tù Mỹ đã thả tôi ra trước thời hạn, do có nhiều thành tích trong quá trình cải tạo. Nhưng tôi không chịu ra, vì sau khi ra sẽ bị quản thúc thêm 3 năm, như tù treo ấy. Hơn nữa, ở Việt Nam, ba tôi đang bị bệnh ung thư đại tràng giai đoạn cuối. Tôi không thiết tha gì ở Mỹ, chỉ muốn quay về Việt Nam. Về với  đất nước của mình, về với nơi mình sinh ra, lớn lên. Về để làm việc,  đóng góp cái gì đó cho cộng đồng, cho xã hội. Cái cuộc sống bên đó nó sướng hơn thiệt, nhưng tôi chỉ muốn về Việt Nam thôi.

- Lúc đó, phía Mỹ nhận xét như thế nào về Hiếu – một hacker "khét tiếng", từng trải qua 7 năm trong nhà tù Mỹ? 

- Họ nói tôi đã tới lúc được tự do, trở về xã hội để làm việc và cống hiến. Họ không còn lý do gì để giữ tôi, vì thời gian qua, tôi đã được thử thách và cống hiến rồi. Không những vậy, tôi đã học rất là nhiều thứ, có bao nhiêu là chứng chỉ (hơn 20 chứng chỉ). Tôi đã cải tạo tốt, không vi phạm bất kỳ sai lầm nào trong tù. Tôi còn giúp những người xung quanh nữa…

Lẽ ra tôi được về sớm. Nhưng, vì dịch Covid bùng phát, tôi phải ở lại Mỹ thêm 8 tháng. Đến ngày 4/8/2020, tôi mới chính thức từ Mỹ trở lại Việt Nam sau hơn 7 năm xa quê hương. Trước khi lên máy bay, họ nhắn nhủ tôi "không bao giờ lặp lại sai lầm nữa nha Ngô Minh Hiếu".

- Kết thúc tù tội bên Mỹ, trở về với tư thế một công dân tự do; cảm giác của Hiếu ra sao? 

- Tôi vui sướng tột cùng. Tôi như vừa chui ra khỏi quả trứng tù túng. Giống như tôi vừa được tái sinh. Đây là cơ hội cuối cùng cho tôi làm lại cuộc đời. Vì vậy, trong thời gian hiện nay, tôi làm đủ thứ việc, lúc nào cũng bận rộn với hàng loạt dự án công nghệ thông tin do tôi đưa ra.

Ngày đó, dù chỉ một mình trên đất Mỹ, không người thân nhưng tôi lại cảm giác không thấy cô đơn. Trái lại, lúc nào cũng như là có người bên cạnh tôi, ủng hộ tôi. 

- Hiện tại, Hiếu đã về và sinh sống trong sự yêu thương của gia đình, tại đất nước của mình. Hiếu cho biết suy nghĩ của mình hiện nay như thế nào? Có bao giờ Hiếu mắc lại sai lầm ngày xưa?

- Tôi muốn làm việc và cống hiến hết mình cho xã hội, cho người dân Việt Nam trong phạm vi sở trường của mình. Đó là nhận thức về an toàn thông tin trên không gian mạng. Bởi trên thực tế, ở Việt Nam, nhận thức về bảo mật thông tin của người dân rất kém. Tôi muốn đóng góp một phần sức lực để cải thiện điều đó.

Hiện nay, tôi đang triển khai dự án "chống lừa đảo trên không gian mạng", nhằm phổ cập đến cho mọi người có được những kiến thức và kỹ năng phòng, chống các thủ đoạn lừa đảo của "hacker mũ đen" trên Internet. Dự án "chống lừa đảo" mang một sứ mệnh khóa và bảo vệ người sử dụng mạng xã hội "miễn dịch" khỏi những trang lừa đảo, giả mạo, nội dung xấu, độc hại và phòng chống mã độc trên Facebook, Youtube, TikTok, những trang web giả mạo…

- Hiếu nhận xét thế nào về giới trẻ Việt Nam hiện nay trong việc học và sử dụng công nghệ thông tin?

- Không phủ nhận Việt Nam mình có một lực lượng người trẻ tuổi sử dụng công nghệ thông tin, Internet thuộc hàng "thần tốc" của thế giới. Tuy nhiên, việc đào tạo còn hạn chế về thực tiễn. Cách nào đó để các bạn học xong, ra trường, có kinh nghiệm thực tiễn ngay để họ bước ra đời là dày dặn liền, có thể làm việc luôn.
Có nhiều bạn sinh viên khi ra trường, muốn tham gia  dự án tôi đang làm. Nhưng, khi tham gia lại không có kinh nghiệm thực tiễn. Thành ra, giao việc gì, họ cũng không làm được, đình trệ dự án. Hơn bao giờ, các trường học nên tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên có được môi trường học hành, không chỉ lý thuyết hàn lâm suông, mà phải chú trọng thực hành.

- Những lỗ hổng, khiếm khuyết nào đáng quan tâm trong hệ thống công nghệ thông tin ở Việt Nam? Những hạn chế và thế mạnh nào trong hệ thống đó cần phải cảnh báo hoặc phát huy?

- Tất cả những trang web ở Việt Nam, không có hệ thống nào an toàn cả. Tôi đã có báo cáo để mọi người chỉnh sửa lại. Bên cạnh khiếm khuyết đó, thì phải công nhận các bạn trẻ ở Việt Nam, ngang tuổi tôi, rất giỏi. Thậm chí, còn giỏi hơn tôi luôn. Bởi, không gian mạng rất rộng. Riêng lĩnh vực an ninh mạng thôi, có cả chục mảng khác nhau. Tôi chỉ giỏi một vài mảng thôi. Tôi mong muốn truyền ngọn lửa đam mê cho các bạn trẻ theo học ngành này. Từ đó, mọi người cùng hợp lực phát triển, bảo vệ hệ thống mạng của quốc gia, đưa công nghệ thông tin của Việt Nam lên tầm cao mới. 

Làm sao để mọi người đều có kiến thức, không ai dễ bị dụ, bị lừa, không ai bị mất tiền… Tại vì ngày xưa, tôi đã từng ăn cắp tiền của nhiều người, tôi hiểu được tâm lý của tội phạm, hiểu tâm lý của nạn nhân. Giờ đây, tôi muốn dùng cái đó để bảo vệ mọi người.

Việc đào tạo ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam còn hạn chế lắm. Sinh viên học xong, thiếu kinh nghiệm về thực hành, chỉ giỏi lý thuyết hàn lâm. Bên Mỹ thì khác - thực hành là chính, học lý thuyết một phần thôi. Tiếp theo, Việt Nam mình trả lương thấp quá, nên đa phần, các bạn giỏi đi nước ngoài hết. Đó là bài toán nan giải, không dễ để mà giải đâu. 

- Hiếu đã trở lại đời sống bình thường, ngay tại quê hương của mình. Nhưng, có bạn bè nào của Hiếu ngày xưa rủ rê trở lại con đường hacker cũ không?

- Có chứ. Nhưng tôi bỏ ngoài tai. Tôi nói thẳng, bây giờ tôi làm việc là vì cộng đồng. Tiền bạc, vật chất, hưởng thụ…tôi đã trải qua hết rồi. Giờ đây tôi không cần chi nhiều. Có tiền nhiều để làm gì, chết có mang theo được đâu. Cho nên, bây giờ cứ sống vui vẻ với hiện tại, sống tốt cho 24 tiếng mỗi ngày là được rồi. Tôi không biết ngày mai ra sao. Ngày mai, biết mình có còn sống? Tôi nói thật lòng.

- Hiếu đang còn rất trẻ, lại chưa lập gia đình; trong khi cuộc sống đang bày ra trước mắt rất nhiều cám dỗ. Liệu suy nghĩ của Hiếu có lạc điệu, có già quá so với tuổi mình không?

- Có thể suy nghĩ của tôi già dặn so với tuổi của mình. Đó là lý do vì sao nhiều trường đại học họ đã mời tôi đi thuyết trình, chia sẻ với lại với những bạn sinh viên. Tôi vẫn thường xuyên chia sẻ với mọi người về những sai lầm của bản thân, của một thời tuổi trẻ bồng bột. Qua đó, để các bạn sinh viên biết để họ tránh, không sai lầm như tôi. Từ đó, để các bạn hiểu rằng, trên đời này tiền bạc vật chất chỉ là một phần của cuộc sống, nó không phải là tất cả.

Cái quan trọng ở đây, phải hiểu được chính mình. Kế đó, phải thấu được hai chữ "tình yêu". Khi mà hiểu được hai chữ đó thì mọi thứ trở nên nhẹ nhàng, mọi thứ được hóa giải. Đó là tình yêu bạn bè, tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, tình yêu gia đình…

Cũng có một số người đố kỵ, họ không thích tôi nhưng tôi bỏ ngoài tai. Tôi nghĩ đơn giản, mình sống đâu có bao lâu đâu, nên cứ vui vẻ. Lúc ở trong tù, tôi tập cách sống, không bao giờ phàn nàn, không bao giờ cằn nhằn với một ai, không bao giờ nóng giận; mọi thứ đều có thể bỏ qua được hết… Ai muốn nói gì thì nói. Dù người ta ca ngợi mình tới đâu, bỏ ngoài tai hết. Mình là chính mình, không bao giờ tự hào về bản thân. Ngày xưa, tôi là tự hào về bản thân, mới sinh ra cao ngạo, say sưa trên chiến thắng, nên mới tới bao nhiêu sai lầm. 

- Sau thời gian dài sống bên Mỹ, nay quay về Việt Nam, Hiếu nhận xét như thế nào về quê hương mình, đất nước của mình?

- Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tôi thấy còn thiếu thốn rất nhiều. Nên tôi rất mong muốn sẽ làm được điều gì đó để góp phần phát triển quê hương, đất nước. Tôi khát khao vận dụng những  kinh nghiệm, những cái bài học được học ở bên Mỹ, để phổ biến ở Việt Nam. Đó là quản trị mạng - thế mạnh của tôi. Cuộc sống hiện tại, tôi cảm thấy rất lạc quan, yêu đời. Tôi có nhiều bạn tốt giúp đỡ tôi. Họ giúp tôi phát triển những dự án về quản trị mạng, họ an ủi, động viên tôi trong đời sống tinh thần cũng như ngoài đời. 

- Với những thăng trầm trong cuộc đời, Hiếu muốn nói gì với các bạn trẻ?

- Dành thời gian để hiểu những gì mình đang làm. Các bạn trẻ thường là chỉ biết làm, mà không hiểu những gì mình đang làm là đúng hay không đúng. Thứ hai là phải biết yêu thương gia đình. Mình làm cái gì, cũng phải nghĩ đến gia đình. Ngày xưa, tôi  không nghĩ đến gia đình, chỉ nghĩ đến bản thân, đó là ích kỷ. Biết bản thân mình sung sướng, không biết ba mẹ đau khổ vì mình. Thứ ba là phải dành thời gian để hiểu về bản thân mình hơn, thành thật với bản thân mình. Tôi đã nhận ra một điều này khi học về môn tâm lý ở trong tù.

Cái khó khăn nhất trong cuộc đời con người là thành thật với bản thân mình. Thành thật với người khác thì rất dễ, nhưng thành thật bản thân mình thì rất khó. Sáng nay anh nghĩ 7 giờ anh dậy, nhưng 8 giờ mới thức dậy. Cái đó, anh chưa rèn luyện cho bản thân mình cái kỷ luật. Phải thành thật với bản thân, phải nghiêm khắc với chính mình, nhìn nhận tất cả những lỗi lầm (dù lỗi nhỏ nhất) của bản thân. Từ đó, mới hiểu được giá trị cuộc sống. Từ đó, mình mới trưởng thành. Và, từ đó mình mới giác ngộ được.

Cái ngày mà tôi giác ngộ được là ngày tôi khóc nhiều nhất. Ngày đó, cảm giác như tôi được sinh ra một lần nữa. Đó là khoảng thời gian sau khi ra tòa ở Mỹ. Lúc đó, tôi thật sự thành thật với bản thân, tôi chấp nhận tất cả: Từ những lỗi lầm nhỏ nhất, cho đến những lỗi lầm lớn nhất và tôi phải bắt đầu lại từ đầu. Ngày đó, tôi khóc rất nhiều, nhưng đó là ngày hạnh phúc nhất cuộc đời tôi.

Không phải ngày ra khỏi nhà tù Mỹ, về với đời sống tự do, mà chính ngày tôi thành thật với bản thân, là ngày giúp tôi trở lại với cuộc đời này. Từ giây phút đó, tôi hiểu, ngộ ra mọi thứ, hiểu được tình yêu cuộc sống là gì, trong lòng nhẹ nhõm hơn.

Báo Dân Việt.
Chia sẻ từ fb Hoang Giang

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

LŨY BÁN BÍCH


    Năm 1999 người ta gắn bảng tên Lũy Bán Bích cho con đường dài hơn 4 kilômét chạy theo hướng bắc-nam ở quận Tân Phú. Cái tên ngồ ngộ này khiến "một bộ phận không nhỏ" bà con ta "tâm tư". 
    Lũy là gì? Là công trình bảo vệ một vị trí: thành lũy, chiến lũy, lũy tre làng... 
    Bán Bích là sao? Theo Hán tự: bán là nửa, người phương Nam kêu là "phân nửa", bích là bức tường. 
    Từ cuối TK18, vùng đất Sài Gòn sừng sững hiện lên một thành lũy đắp bằng đất, rất chi là hoành tá tràng. Mặt cắt của lũy có hình thang vuông, phía ngoài thẳng đứng, phía trong thoai thoải có bậc tam cấp lên xuống, trông như nửa bức tường, nên gọi thế. Tên chữ là Bán Bích Cổ Lũy hay Lũy Tân Hoa. Tuy thế, Trịnh Hoài Đức lại bẩu: Vì lũy uốn cong ôm lấy vùng đất hình bán nguyệt, giống như nửa viên ngọc bích, nên gọi thế. Chẳng biết ai đúng. Kệ! Chỉ biết là nay ứ còn tí tì ti vết tích nào. 
   TK18 có giai đoạn nước ta rộng bát bao la ngát, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Campuchia cơ đấy. Thế rồi quân Xiêm sang quấy phá. Ng.Cửu Đàm cầm quân uýnh đuổi chúng chạy một hơi về tận… Thái Lan. Sau khi cắt cử quan cai trị theo phương châm “dùng người Khmer trị người Khmer”, ông rút quân về củng cố vùng đất Gia Định. Năm 1772 được chúa Ng.Phúc Thuần OK, ông cho xây một chiến lũy dài 8.600 mét, xuất phát từ chùa Cây Mai bên bờ kênh Tàu Hủ (nay thuộc ph.16, q.11) băng qua đường Trường Chinh và sân bay Tân Sơn Nhất, vòng xuống Cầu Bông ở q.Bình Thạnh, tạo thành vòng cung ôm kín 3 mặt phía tây, tây bắc và bắc của Sài Gòn. Lũy Bán Bích đấy!
    Thành phố là gì? Là có thành và có phố. Thế mà cũng hỏi!
    Ai tạo ra Thành phố Sài Gòn? Ng.Cửu Đàm chứ ai! Từ khi vùng dân cư này được ông khép kín bằng 3 mặt sông Sài Gòn, Bến Nghé, Tàu Hủ và 1 mặt thành là cái lũy Bán Bích, tạo nên thể thống nhất về cả địa lý kinh tế, xã hội và bố phòng. Thế mới gọi là Thành phố.
    Ng.Cửu Đàm là ai? Ba đời họ Nguyễn Cửu nhà ông này đều có công gây dựng và bảo vệ vùng đất phương Nam. Này nhé: danh tướng, nhà doanh điền Ng.Cửu Vân (có tên đường ở q.Bình Thạnh) sinh ra Ng.Cửu Đàm (có tên đường ở q.Tân Phú) và Ng.Thị Khánh, tức Thị Nghè (có tên kênh, tên chợ, tên phường và thương hiệu thịt chó nức tiếng gần xa). Con của Ng.Cửu Đàm là nhà doanh điền nổi tiếng Ng.Cửu Phú (có đường ở q.Bình Tân).
    Để lấy đất đắp lũy Bán Bích, lại vừa tạo thêm giao thông đường thủy, Ng.Cửu Đàm cho đào 1 con kênh nối kênh Lò Gốm với kênh Tàu Hủ. Kênh này có tên Ruột Ngựa vì nó thẳng tưng như… ruột con ngựa, 2 bờ kênh nay là 2 đường Phú Định và Mễ Cốc ở q.8. 
    Sau khi đánh chiếm nơi này, Pháp phá lũy Bán Bích, nạo vét hào nước bao mặt ngoài lũy, thế là có kênh Vòng Thành (xem ảnh) và biến một đoạn lũy ở phía tây thành đường đi, gọi là Hương lộ 14, nay là đường Lũy Bán Bích. Kênh Vòng Thành nay cũng ứ còn dấu tích gì.
(Chuyện cũ viết lại)

Fb Hữu Thọ
Ps/ Khả năng là dã sử (viết lại có hư cấu thêm)

GIA ĐỊNH QUÁN VỚI BẠN BÈ TA


      Tặng các đồng môn HNC 

Ta ghé lại nơi quán chiều hội ngộ 
Rót tràn ly nghe thương nhớ đong đầy 
Bạn bè ta đã bao thằng xanh cỏ  
Đứa còn đây cũng tóc trắng lay  bay.

Thuở mới lớn hồn xanh như chiếc lá 
Tưởng đưa tay với tới được thiên đường 
Ngồi trong lớp mơ bao khung  trời lạ 
Vội xa người nên lỡ mấy yêu thương. 

Đời cứ vậy như dòng sông tuôn chảy 
Cuốn ta đi chưa biết bến bờ nào 
Ngoảnh mặt lại hơn nửa đời đứt gãy 
Nghiêng bên nào cũng cảm thấy chênh chao.

Con đường cũ nắng vẫn còn trong lắm 
Nhưng chạnh lòng những chiếc lá vàng rơi 
Sân trường vắng giữa mùa hoa phượng thắm 
Chẳng còn ai để nhủ một đôi lời. 

Chia tay nhé đồng môn ơi tạm biệt 
Nhắc đến nhau xin nhớ phút giây này 
Ta có được những tháng ngày  thân thiết 
Cứ an vui bước tiếp khoảng đường dài. 

LÊ HÀ THĂNG

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

Chuyện hôm qua như mới bắt đầu..."

"
Buổi tựu trường đâu tiên vào năm học mới , hắn oai phong với chiếc xe suzuki m12 mà hắn mới có đi đến trường.. Nhìn quanh cả khu để xe chỉ có vỏn vẹn 6 chiếc xe gắn máy, còn toàn là xe đạp .. Nổi bật hơn xe suzuki của hắn sơn màu vàng.
Hắn nhìn quanh một vòng xem có đứa bạn nào từ trường cũ chuyển về đây cùng hắn không, cuối cùng chẳng có ai.. Hắn xin chuyển về ban Văn Sinh ngữ ( khối c hồi xưa) mà bây giờ là khối B, khối A là Văn Sử Địa, khối C là Toán Vật lý , và khối D là Hóa sinh.... Ngày trước học trường cũ hắn học khối B là toán lý, hắn từng đứng đầu bảng trong lớp về môn vật lý , hắn lý giải rất tốt, hắn cũng giỏi về hình học không gian... Thế nhưng sau những biến cố gia đình và đất nước thay đổi chỉ vài tháng thôi , hắn đã chuyển hướng học khối B...
Trong năm học ấy hình như hắn quậy nhiều học chữ thì ít, và quen với những thằng bạn từ các trường khác chuyển về , chứ không nguyên thủy là hs của trường HNC trước. Vì đa phần học sinh cũ của HNC học giỏi đại đa số là ở khối C ( Toán lý) hoặc khối D( Hóa sinh). Còn lại là những hs ở trường khác chuyển về mới vô A B vì khối A cũng ít hs và khối B cũng ít nên trường chỉ có 1 lớp AB. Lên 12 cũng vậy. ..
Vậy đó mà hắn học sao bê bối quá bị thi lại, vì đi học nghỉ nhiều không đủ tiết học nên bị thi lại...
Hắn thi lại và năm 11 vẫn bị ở lại lớp..học lại một lần lớp 11 nữa ... Hắn tức quá xin chuyển lại về khối C ( toán lý) lúc ấy hắn mới cố gắng học nghiêm chỉnh cho dù học tài thi lý lịch ,mãi cố gắng mới thi được vào bách khoa....thật khổ cực cho hắn.
Từ khi vào học 11 , gia đình hắn được đánh giá là giai cấp tư sản mới , có nghĩa là mới có tài sản thôi chứ không phải tư sản cũ là thành phần địa chủ, nhưng cũng là những đối tượng phải đi kinh tế mới để biết thế nào : lao đông là vinh quang... Hắn sợ chứ , mẹ hắn cũng sợ lắm,  vì hắn sinh ra ở sài gòn nên chưa hề biết gì về xa thành phố này ,mẹ hắn chỉ có mình hắn thôi mà... Còn cha hắn giờ đã bay xa rồi. Gia đình hắn chỉ còn mẹ , bà vú , hắn và một chị họ con ông bác , sống đùm bọc lẫn nhau. Lúc ấy gia đình bác 2 anh của mẹ hắn cũng ở gần đó nhưng ai cũng sợ bị đi KTM vì bác của hắn còn 7 người con lận, nên mạnh gia đình nào lo gđ đó thôi.. 
Mẹ hắn vội dẹp quán hàng cafê xoay sang bán trái cây tươi ,Thơm dứa mua từ vựa cầu ông lãnh về bán... Còn hắn sau giờ học, cũng tập tành sửa xe gắn máy và vá xe trước cửa nhà cho phù hợp với đời sống lao động.
Học xong lớp 11 là nghỉ hè vào thời điểm nghỉ hè , học sinh phải về địa phương đăng ký sinh hoạt hè... Sinh hoạt hè thời ấy chỉ là đi đào kinh Lê Minh Xuân... Đó là một kỷ niệm thời hs thế nào mới biết lao động đó
Tập hợp khu hắn ở được khoảng hơn 40 học sinh vừa xong lớp 11, từ đó hắn mới để ý đến các bạn bè hàng xóm hay gần nhà hắn ở... Bên cạnh nhà hắn có cô bạn tên Quỳnh Hương , dễ thương dáng người tròn trịa tóc dài hết lưng , học Trưng Vương...còn trong đội hắn còn có bạn Mai Trâm là một trong những hoa khôi của Trưng Vương...
Chẳng biết hắn có tài gì nhưng cô bạn Mai Trâm rất quí hắn , trong đội lại có cô bạn Thúy Châu cũng con nhà Nobles học M.C. Cô nàng này đánh piano rất truyền cảm. Hắn cũng có biệt tài chơi guitar classic khá hay và thổi harmonica truyền cảm.. Mà vốn dĩ hắn là trưởng ban văn nghệ lớp , bây giờ về khu phố vẫn được chỉ định làm trưởng ban văn nghệ nữa.. Thật mệt mỏi cho hắn , hắn không thuộc nhạc mới không biết đệm đàn nhưng vẫn phải làm....
Những lần đi lao động đào kênh Lê Minh Xuân , bạn Mai Trâm luôn luôn đồng hành với hắn như một cặp đôi , khiến bạn bè trong đội cứ tưởng hắn có tình đầu rồi ...nhưng thực sự Trâm và hắn chỉ là bạn thôi , hắn lại mê cô láng giềng Quỳnh Hương.... Nhưng hắn cũng thỉnh thoảng lấy cớ văn nghệ đến nhà cô nàng Thúy Châu để nghe đàn piano... 
Nội những ngày hè ngoài những thời gian phải đi lao động ngoài trời là hội diễn văn nghệ mới mỗi tuần ,hắn chạy lung tung đến những người bạn trong khu vực biết chơi đàn và tập dượt nhạc... Vậy mà hắn cũng kham nổi. Hầu hết các bạn hoa khôi trong đội đều yêu quí hắn khiến mấy thằng bạn cùng trang lứa cùng cấp lớp không ưa... Trong đó có tay H M Đức ( bây giờ làm đài truyền hình)là bạn chí tình với hắn mà cũng đổ ghen hắn vì tên này thích bạn Mai Trâm. Đối với hắn , hồi đó cù lần lắm chẳng biết tình yêu là gì cả... Rõ ràng nam nữ ở bên nhau rất thân làm sao là bạn bình thường được , như vậy đó...

Những ngày hè lại đến với tuổi mới lớn.. Hắn luôn ôm cây đàn guitar ngồi dựa gốc cây xoài trong vườn nhà hắn hát vọng lên...cho cô nàng bên cạnh nhà nghe. Vì hai nhà chỉ cách nhau một bức tường cao 2m là trong sân vườn nhà hắn chỉ cần một cái ghế đẩu là đưa nguyên cái đầu lên nhìn qua lối đi vào của nhà bên cạnh rồi,hoặc ngược lại nhà bên cạnh chỉ cần 1 cái ghế đứng lên là ló cả khuôn mặt nhìn vô sân nhà hắn. Hắn và cô láng giềng vẫn thường đứng với nhau hàng giờ vào buổi tối, nói chuyện bâng quơ của tuổi mới lớn... Hắn bắt đầu cảm động và để ý đến cô bạn láng giềng từ khi sinh nhật hắn , có mời Quỳnh Hương đến tham dự. 
Từ đó cứ tan học về hắn chạy từ chợ Bà Chiểu lên đến cổng Thảo cầm viên để chờ đón cô nàng Trưng Vương... 
Cũng có vài lần hắn bị bọn hs Võ Trường Toản hỏi thăm nhưng vì hắn đứng ở cửa TCV nên không bị ăn đòn.. Có lẽ nếu đi vào sâu hơn nữa thì mệt đó , cứ thế tháng ngày lẽo đẽo theo sau cô nàng TV hàng xóm đi theo về đến nhà mà không nói gì , không gợi ý gì, thỉnh thoảng hắn lại gặp cô bạn Mai Trâm gần nhà thế là cả ba, bốn đứa cùng về lúc ấy hắn mới dám mời ăn chè ....
Cô bạn M Trâm là con một nhà văn tên Sĩ Trung viết tiểu thuyết thời bấy giờ ... Ông bà sanh ra những đứa con gái tuyệt đẹp, và chỉ có 1 cậu con trai.. Hắn chơi thân với Trâm , đi đâu cô nàng cũng đi với hắn , thậm chí cô nàng hẹn hò với bạn trai , hắn cũng đưa đi rồi đến giờ về hắn đón... Nên cha mẹ Trâm lúc nào cũng tưởng đi với hắn.. Mẹ của Trâm cũng là bạn mẹ hắn , hai người cùng tuổi nên rất hợp. Nên bất kể chuyến phiêu lưu li kỳ nào của M Trâm đều có hắn đỡ cho nàng không bị cha mẹ bực bội la rầy.
Hắn và Trâm hay đi chơi bên nhau , tình như những kẻ đang yêu...nhưng thực tế cả hai đứa khi bên nhau chỉ nói chuyện về người thứ ba của hắn hay của Trâm... Nhiều khi Trâm ôm hắn như một người yêu , hắn vẫn vô tình như một bạn trai với một bạn trai vậy...Cả hai đứa đều thích đi chơi xa , những ngày nắng đẹp hắn chở Trâm đi chơi xa vài chục cây số ra ngoại ô cắm trại , chơi bên nhau ngoài trời rất thú vị...
Cho đến một ngày kia hắn dẫn một thằng bạn qua nhà Quỳnh Hương chơi... Cô nàng đã rung động trước thằng bạn hắn.. Anh chàng tên Sơn ,học Lê Quí Đôn , tên sao người vậy cao 1,75cm đẹp trai như tài tử hk vậy.... Rồi một tối nọ, hắn bình thường qua nhà cô láng giềng tán dóc , hắn tự nhiên mở cửa đi vào lối vào nhà cô nàng đi song song qua sân nhà hắn... Bỗng dưng trong bóng tối hắn nhìn thấy hai người ôm nhau , đang hôn nhau...hắn giật mình choáng váng và nhẹ nhàng quay ra cửa...
Hắn quá sốc về nhà..hắn mở một chai rượu ruhm ông già , hắn nốc một hơi gần nửa chai rượu..từ đó hắn biết say và đắng cay là gì...hắn đã bị ngu.
Hôm sau là ngày chủ nhật , còn say men ngất ngây chưa tỉnh giấc , hắn đã nghe tiếng M Trâm gọi ở cửa , bà vú mở cửa cho nàng vào...cô nàng hỏi chuyện , hắn kể cho Trâm nghe, rồi hắn ôm Trâm khóc òa như một đứa trẻ con , đây lại một lần ngu nữa của hắn.. Có lẽ sau này lớn hơn hắn mới hiểu.
Sau lần say ấy , hắn không buồn gặp Q Hương nữa , còn MTrâm cũng ít qua chơi, nhưng vẫn thân tình... Rồi lại đến một ngày một thằng bạn học HNC đến chơi , hắn rủ MTrâm đi cùng , vì M Trâm đẹp lắm thằng bạn hắn say đắm thích cô nàng... Và bạn hắn thường đến nhà nàng tỏ bày tâm sự.. Nhưng cô nàng trả lời là đã có người trong mộng rồi nên từ chối. Rồi M Trâm lại kể cho hắn nghe... Hắn im lặng hình như chẳng quan trọng gì hay lay động gì trong hắn , phải chăng hắn lại ngu thêm lần nữa không ...Hắn ngồi bên nàng hát đàn nghêu ngao.. đùa giỡn rất hồn nhiên, ôm nàng như hai đứa trẻ lên 5 vậy...
Rồi cứ thế trôi đi hai tâm hồn hắn và Trâm luôn là hai đứa bé chơi đùa học hành quấn quít bên nhau ,đói bụng mà đạp xe chở Trâm từ nhà ra đến Bến Bạch Đằng, đi ngang mua bánh mì Ba lẹ ra cầu tầu ngồi ăn nhìn xuống sông Bạch Đằng, lúc đó sao hắn khỏe quá , chở nàng bằng xe đạp mà chạy như bay...
Cho đến một ngày gần hè cuối lớp 12 , bạn Trâm đã nói với hắn lời từ biệt " Trâm theo gđ đi sang Pháp định cư", vì mẹ Trâm có lai Pháp, đến đời Trâm cũng còn thoang thoảng nét Tây.. mới đầu hắn chưa tin nhưng sau đó hắn ôm nàng như mình sắp mất một điều quan trọng ..... rồi vài ngày sau hắn không còn thấy Mai Trâm nữa , nàng đã đi rồi: " từ nay cách xa nghìn trùng ..."
Sau này hắn mới hiểu..

Hòa da vàng

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

NGOẠI TÌNH

Đàn ông ngoại tình vì tình dục.
Đàn bà ngoại tình vì tình cảm.
Nhưng
Đàn ông 10 thằng ngoại tình, 9 thằng không bỏ vợ.
Đàn bà 10 cô ngoại tình thì cả 10 cô đòi bỏ chồng.
Bởi đàn bà ngoại tình rồi mới nhận ra ngoài kia có nhiều thằng tốt hơn chồng của mình. Còn đàn ông không bỏ vợ vì bên ngoài chả có con nào tốt với mình bằng vợ mình..

Quynh Bui st