Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

TIỂU SỬ GS LÊ THANH HOÀNG DÂN

Viết tiểu sử

Mấy chục năm đầu sống ở Mỹ, trong lúc còn làm việc, lúc nào tôi cũng quan tâm "update resume" của mình. Resume được người Việt Nam mình dịch là "sơ lược lý lịch" nói về những việc mình từng làm, để đi xin việc.

Resume của tôi toàn nói về chuyên môn, và những việc, những cơ quan từng mướn tôi làm việc. Không nói gì về tác giả, hay những việc làm ở Việt Nam, dạy học, viết văn, và xuất bản sách.

Khi xuất bản sách, nhà xuất bản yêu cầu tôi tìm một tấm hình chụp riêng, và viết rõ về tiểu sử viết sách của tôi bên nhà và ở Mỹ. Tôi phải mất cả tuần, cố gắng tìm tài liệu về mình lúc còn ở Việt Nam, đặc biệt suy nghĩ về chương trình viết và xuất bản sách vài năm tới. Nhức đầu. Nhưng đã làm xong.

"Lê Thanh Hoàng Dân (sanh năm 1937) là một cựu giáo sư, nhà nghiên cứu và dịch giả người Việt Nam. Sanh tại Sài Gòn.

Trước năm 1975 lúc mới ra trường ông dạy học tại nhiều trường Trung Học như Võ Trường Toản Sài Gòn, Trung Học Tây Ninh, và Trung Học Sa Đéc. Ông từng làm việc tại Trung Tâm Học Liệu, với tư cách chủ sự Phòng Tu Thư, và Phó Giám Đốc trung tâm này trong nhiều năm. Từ năm 1965, ông về phục vụ tại trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, và từ năm 1973 tại trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Ông cũng dạy học nhiều nơi với tư cách Giáo Sư Thỉnh Giảng tại Đại Học Sư Phạm Cần Thơ, Cao Đài (Tây Ninh), và Hòa Hảo (Long Xuyên). 

Bên cạnh việc dạy học, ông chủ trương nhà xuất bản Trẻ và cho ra đời nhiều tủ sách giá trị như: Tủ sách Văn học thế giới, Tủ sách Tâm lý, Tủ sách Giáo dục, Tủ sách khoa học nhân văn v.v.. Tổng cộng số sách của nhà xuất bản Trẻ trước năm 1975 lên đến trên 30 cuốn. Ông cũng được nhắc nhở nhiều với các chương trình Đố Vui Để Học và Quê Hương Mến Yêu trên Truyền Hình Việt Nam thời trước năm 1975. 

Sau năm 1975, ông định cư tại New York (Hoa Kỳ). Tại đây, dù tuổi đã lớn (trên 40 tuổi), ông vẫn tiếp tục theo học và tốt nghiệp MS & MBA tại Đại học Pace, New York và làm việc cho nhiều ngân hàng và công ty ở Hoa Kỳ. Từ năm 2002, ông nghỉ hưu, và cùng người tình trăm năm chu du thiên hạ.

Sách in trước năm 1975 tại Sài Gòn đã bỏ lại Việt Nam năm 1975. Trong Tủ Sách Giáo Dục, có một số tựa sách như sau: Các vấn đề giáo dục, Triết lý giáo dục, Lịch sử giáo dục, Luân lý chức nghiệp và Quản trị học đường v.v…  Tủ Sách Tâm lý và Sư Phạm có: Tâm lý nhi đồng, Tâm lý giáo dục, Phương pháp sư phạm, Tư tưởng sư phạm, Tâm lý thanh thiếu niên,  Sư phạm lý thuyết v.v… Tủ sách Văn Học Thế Giới có: Thân phận con người của André Malraux, Bức tường của Jean Paul Sartre, Kẻ xa lạ của Camus, và nhiều nhà văn từng đoạt giải thưởng văn chương Nobel khác như André Gide, Ernest Hemingway, John Steinbeck v.v… Tủ sách Khoa Học Nhân Văn có: Những danh tác chánh trị, Lịch sử chiến tranh lạnh, Làm thế nào để bán một Tổng Thống v.v…

Sau 43 năm vắng bóng, mùa tháng Tư năm nay 2018, giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân đã trở lại nghề viết văn và xuất bản sách thời xa xưa, để góp phần cho sự hiểu biết nhiều hơn về nước Mỹ, và người gốc Việt hiện đang sống ở đây.  Bộ sách "Nước Mỹ nơi tôi đang sống": Đã phát hành: (Quyển 1): “42 năm sống ở Mỹ: Được gì và Mất gì?”; (Quyển 2):"Our road to Freedom" bản dịch của Michelle Mỹ Thanh và Daniel Nguyễn; (Quyển 3): “Nước Mỹ nơi tôi đang sống: Thành Phố New York”; “(Quyển 4): Tiểu Bang California”; và "(Quyển 5): Miền Đông Nước Mỹ".  Đang in:  “(Quyển 6): Các Vườn Quốc Gia Lớn Nước Mỹ"; "(Quyển 7): Các Vườn Quốc Gia Tây-Bắc Mỹ-Canada"; "(Quyển 8): Tiểu Bang Florida" và "(Quyển 9): Miền Trung-Tây Nước Mỹ".

Bộ sách "Về Thăm Lại Quê Hương": Đang in (1) Quyển 1:Thành Phố Sài Gòn;  (2) Quyển 2: Miền Tây;  (3) Quyển 3: Miền Trung và Bắc.

Bộ sách "Du Lịch Thế Giới": Đang in (1) Quyển 1: Rong Chơi Nước Pháp.

#Lethanhhoangdan  #NhữngNgàyHưuTrí
#42nămsốngởMỹ    #NướcMỹnơitôiđangsống
#ThànhPhốNewYork
#TiểuBangCalifornia
#MiềnĐôngNướcMỹ
#CácVườnQuốcGiaLớnNướcMỹ
#ThànhPhốSàiGòn    #VềThămLạiQuêHương #MiềnTây
#DuLịchThếGiới  #RongChơiNướcPháp
#TủSáchVănHọcThếGiớiLTHDan  #NhàXuấtBảnTrẻTrước1975
https://www.facebook.com/NhungNgayHuuTri/
#CàPhêBuổiSáng

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2019

LẼ SỐNG

Đây là ngôi nhà trị giá khoảng 500.000 USD của nhà tỷ phú Warren Buffett, người đang có gần 90 tỷ đô và giàu thứ 3 thế giới. Ngôi nhà này ô mua từ 1958 và trị giá hiện thời còn thua xa nhiều biệt thự ở Thảo Điền, Phú Mỹ Hưng và chỉ bằng một phần so với nhiều căn nhà xa hoa của 1 số đại gia, quan chức ở Hà Nội hay tỉnh thành khác.
Lý giải lý do vì sao không chuyển đến một ngôi nhà tốt hơn, tỷ phú Buffett nói với BBC rằng: “Tôi cảm thấy vui và hạnh phúc khi sống ở đây. Tôi sẽ chuyển đến một ngôi nhà nào khác nếu tôi thấy vui hơn khi sống ở đó”
Không chỉ nhà, Warren Buffett vẫn đi xe hơi bình dân. Ông từng lái chiếc Cadillac DTS đời 2006 trước khi đổi sang chiếc Cadillac XTS - có giá gốc từ 44.000 USD vào năm 2014. Giá xe thua xa các loại xe siêu sang nhan nhản trên đường phố SG, HN dù tính cả thuế và phí cao ngất ngưởng của VN.
Dù rất thích chơi golf nhưng tỷ phú Warren Buffett không chi tiền cho các sân golf đắt đỏ mà chỉ chơi golf với "những người mình thích" tại những sân golf bình thường.Ông hay ăn sáng tại cửa hàng McDonald's với giá vài USD. Warren Buffett cũng từng mời bạn thân là tỷ phú Bill Gates ăn tại cửa hàng McDonald's và không ngại dùng phiếu giảm giá.

Tỷ phú Warren Buffett dành phần lớn tài sản của mình để làm từ thiện. Ông được xem là một trong những nhà từ thiện hào phóng nhất thế giới với tổng số tiền quyên góp đến nay lên tới 46 tỷ USD.

Ông Warren Buffett dự định chỉ cho các con mỗi người 2 triệu USD, phần còn lại dùng để làm từ thiện.
Vị tỷ phú này quan niệm tốt nhất là cho con cái đủ số tiền để chúng cảm thấy có thể làm bất kỳ điều gì, nhưng đừng quá nhiều đến mức chúng chẳng thiết làm gì cả.

Lối sống giản dị của người có thể khuynh đảo kinh tế thế giới này là 1 trong những lý do chính để người ta ngưỡng mộ ông ngoài tiền bạc.!!!

FB Hoa Phuong nguyen (ST)

FORMATION

.

Trưa ngày 30/4/1975 tại dinh Độc Lập, ông Dương văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn nói rằng ông muốn “bàn giao” chính quyền Sài Gòn cho phía cách mạng nhưng các cán bộ quân đội Hà Nội đã nói: Các ông chỉ có thể đầu hàng vô điều kiện, chính quyền của các ông còn cái gì nữa mà đòi bàn giao?

Các cán bộ cách mạng khác còn loanh quanh phía ngoài dinh Độc Lập đã lên kế hoạch tiếp quản ngay các cơ sở hành chính công quyền, giáo dục, y tế… cũng như các cơ sở kinh tế quốc doanh của chính quyền Sài Gòn. Họ cũng tiếp quản luôn các sản nghiệp tư nhân mà các ông chủ cũ đã bỏ chạy hay kịp di tản khỏi miền Nam. Một thời gian ngắn sau nữa thì hầu như toàn bộ các cơ sở kinh tế tư nhân đều bị quốc doanh hóa, hay được đưa vào “công tư hợp doanh” như một bước chuyển tiếp trước khi thuộc về nhà nước hoàn toàn.

Rất ít hay hầu như không hề có “bàn giao” công việc giữa người quản lý công ty, xí nghiệp cũ cho người mới tới. Chắc có lẽ người mới cũng cho rằng công việc và tài sản của các xí nghiệp chẳng có gì để phải bàn giao, chỉ ra lệnh nộp đủ là được. Người mới đến dù chưa am hiểu tình hình kinh tế chung của miền Nam hay cách quản lý xí nghiệp nhưng họ cũng đã không thèm học hỏi hỏi han gì mấy, chỉ ra mệnh lệnh cho những nhân viên cũ còn được lưu dụng phải làm cái này hay làm cái kia cho phù hợp với ý mình.

Trong hai mươi năm chiến tranh 1954- 1975, miền Bắc tập trung toàn lực vào quân sự và chính trị để mong chiến thắng, đã áp dụng một nền kinh tế thời chiến quốc doanh phục vụ quốc phòng nên không đào tạo và không có cán bộ quản lý xí nghiệp tư nhân (vì chẳng hề có khu vực kinh tế tư nhân). Số lượng cán bộ quản lý xí nghiệp quốc doanh cũng ít vì số lượng và qui mô của các công ty xí nghiệp nhà máy quốc doanh tại miền Bắc vào thời chiến cũng không có nhiều.

Số lượng các công ty xí nghiệp cả công lẫn tư ở miền Nam vào năm 1975 thì nhiều hơn hẳn miền Bắc, mà số lượng cán bộ quản lý xí nghiệp chuyên nghiệp từ miền Bắc được chỉ định vào miền Nam tiếp quản không nhiều, nên chính quyền mới buộc phải lấy thêm rất nhiều các cán bộ chính trị, sĩ quan bộ đội hay các cán bộ hành chính trái ngành trái nghề vào tiếp quản các xí nghiệp tại miền Nam cho đủ số. Rất ít các nhà quản lý xí nghiệp người Sài Gòn được lưu dụng hay họ chỉ được phép làm việc thêm một thời gian rất ngắn rồi bị cho thôi việc bởi nhiều lý do, lý do lớn nhất là lý lịch chính trị.

Đến năm 1980 coi như miền Nam không còn xí nghiệp, nhà máy hay công ty tư nhân. Toàn bộ các cơ sở sản xuất kinh doanh được xếp từ thấp lên cao là hộ cá thể, tổ hợp, hợp tác xã, xí nghiệp công ty hợp doanh (nhưng thực sự tư nhân chẳng có quyền hạn gì trong đó) và xí nghiệp hay công ty quốc doanh.

Quản lý nhân sự theo lối mới hoàn toàn: công nhân làm chủ tập thể, đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, bộ tứ hiệp thương để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từ trên đưa xuống. Chỉ có đảng viên mới được bố trí làm cán bộ quản lý cấp trưởng phòng trở lên tới bậc quản đốc hay giám đốc, còn nếu không phải là đảng viên thì suốt đời chỉ làm nhân viên chuyên môn quèn thôi. Mà muốn vào đảng thì lý lịch ba đời phải không dính líu tới một loạt các điều cấm kị. Thế nên, sau mấy chục năm hòa bình số lượng đảng viên gốc miền Nam là rất ít so với số lượng các đảng viên gốc miền Bắc. Cán bộ quản lý kinh tế nhà nước cũng như quản lý xí nghiệp quốc doanh hay quản lý tổng công ty, tập đoàn trung ương… tính tới nay cũng rất ít người gốc miền Nam.

Các bậc lương xếp theo hướng lao động chân tay càng nặng thì lương càng cao, thâm niên hoạt động cách mạng, chính trị, quân sự hay có nhiều tuổi đảng thì được hưởng lương cao hơn. Rồi mới tính tới lương xếp theo bậc đào tạo quản lý hay kỹ thuật chuyên môn sơ, trung, cao cấp… Thế nên các nhân viên quản lý của chế độ cũ (được coi là nhân viên văn phòng không sản xuất trực tiếp) dù có được lưu dụng làm việc trở lại trong các xí nghiệp cũ thì hưởng lương và chế độ lương thực nhu yếu phẩm rất thấp, có khi thua một anh tài xế mới chuyển ngành từ bộ đội sang.    

Phương cách quản lý tài chính xí nghiệp thay đổi hoàn toàn do môi trường và chính sách thay đổi từ nền kinh tế thị trường chuyển sang nền kinh tế chỉ huy. Trước đây các xí nghiệp công cũng như tư ở miền Nam phải luôn đi tìm lợi nhuận (profit), phải luôn giữ gìn dòng tiền (cash flow) thông suốt trong hoạt động, phải luôn trong trạng thái tài chính cân bằng lành mạnh (healthy financial balance) thì sau năm 1975 coi như không cần nữa. Xí nghiệp chỉ cần làm đúng kế hoạch trên giao xuống, không đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, không để bị “diễn biến” theo chiều hướng kinh doanh tư bản là được.  

Các cán bộ quản lý xí nghiệp mới vào Nam cũng không mấy quan tâm học hỏi cách quản lý xí nghiệp mà chỉ lo tuân thủ thực hiện các kế hoạch từ trên đưa xuống, đa phần theo các tiêu chí chính trị để tự đảm bảo cán bộ không bị kỷ luật hay giáng chức. Các kế hoạch sản xuất bên trên đưa xuống cho xí nghiệp thì xa vời thực tế, nhưng người quản lý xí nghiệp có thể báo cáo lại với cấp trên để xin điều chỉnh kế hoạch bằng đủ mọi cách bổ sung sao cho phù hợp với điều kiện của xí nghiệp hơn. Do đó, năm nào các xí nghiệp cũng làm lễ nhận kế hoạch, cũng làm tổng kết hoàn thành tốt đẹp kế hoạch, nhưng trong thực tế thì cả nền kinh tế chẳng đạt được kết quả gì tốt đẹp hết. Từ đó dẫn đến lạm phát rồi đổi tiền.    

Sau năm năm dưới cách quản lý mới, gần tám mươi phần trăm các nhà máy xí nghiệp cũ của miền Nam đã rơi vào một tình trạng khủng hoảng không lối thoát. Một phần do không có nguyên vật liệu đầu vào để sản xuất, một phần do máy móc hư hỏng không thể sửa chữa, mà phần lớn nhất nguyên nhân bị thất bại là do người quản lý mới không biết cách quản lý và không đi theo các mục tiêu tài chính như ngày xưa: có lợi nhuận, có đủ tiền mặt, có tài chính cân bằng. Tới năm 1986 coi như kinh tế miền Nam kiệt quệ do chỉ trông chờ vào quốc doanh, mà quốc doanh thì thua lỗ triền miên. 

Từ năm 1986 trở đi, nhận thấy lỗ hỗng lớn trong trình độ văn hóa lẫn chuyên môn của các cán bộ quản lý xí nghiệp nên nhà nước lại đặt ra tiêu chuẩn bằng cấp: lãnh đạo hay giám đốc phải là đảng viên, phải tốt nghiệp đại học (mà đại học nào cũng được, chuyên tu hay tại chức cũng được). Cái này dẫn tới chuyện học thay, thi thay, chạy chọt bằng cấp, đút lót giáo viên, mua bằng… kéo dài cho đến tận ngày hôm nay.

Các cơ sở kinh tế của miền Nam trước 1975 đang vận hành theo cơ chế thị trường với qui luật cung-cầu và cung cách quản lý tư bản, chỉ sau một thời gian quá ngắn bị chuyển ngay sang cơ chế kế hoạch và cách quản lý duy ý chí. Vài tháng đầu do vật tư nhập trước đây vẫn còn nằm trong kho nên còn hoạt động còn chút hiệu quả, sau vài tháng thì tất cả đảo lộn do đầu vào không có đủ nên chẳng thể có đầu ra tốt.

Thiếu việc làm nhưng định phí (fixed costs) của xí nghiệp không thể giảm do số “công nhân làm chủ” quá đông mà năng suất quá thấp kém. Đa phần lao động trong lãnh vực kinh tế quốc doanh không có việc làm hay có rất ít việc làm, ngày ngày đi đến chỗ làm việc uống trà tán phét, lại nói: Làm cho lắm tắm cũng ở truồng.

Trước năm 1975 lao động có hai tình trạng, một là có việc làm (employment) hay thất nghiệp (unemployment). Sau năm 1975 có thêm tình trạng rất phổ biến và khá nguy hiểm, đó là tệ nạn thất nghiệp trá hình (underemployment). Underemployment tức là đi làm cũng như đi chơi, làm tà tà tới tháng xếp hàng lãnh những đồng lương chết đói. Nó gây ra bất ổn xã hội và làm băng hoại đạo đức nghề nghiệp lẫn đạo đức kinh doanh.

Kết quả kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh thường là lời giả (untrue profit, để báo cáo với cấp trên) và lỗ thật (real loss, do trong thực tế sản xuất kinh doanh quá yếu kém). Về tình trạng bại hoại của xí nghiệp quốc doanh tại miền Nam vào năm 1990, có báo cáo ghi lại: Mười xí nghiệp thì thua lỗ hết chín, một xí nghiệp có lãi không thể bao sân cho chín xí nghiệp còn lại làm ăn chẳng ra sao. Mà đến năm 1990 thì trong chính sách kinh tế của Việt Nam, xí nghiệp quốc doanh vẫn được coi là cốt lõi hay nòng cốt của nền kinh tế. Quốc doanh luôn đóng vai trò chủ đạo trong lý thuyết cho đến ngày hôm nay.

Sau năm 1992 do kinh tế lụn bại buộc nhà nước phải thay đổi chính sách: Khuyến khích kinh tế tư nhân, khuyến khích đầu tư nước ngoài. Số lượng xí nghiệp công ty ngoài quốc doanh mới thành lập đông đảo hẳn lên, nhất là sau năm 2000 khi nhà nước bãi bỏ việc cấp giấy phép con. Các công ty xí nghiệp quốc doanh nhỏ và vừa cũng được khuyến khích cổ phần hóa hay tư nhân hóa.

Tuy vậy qua rất nhiều lần kế hoạch năm năm, nền kinh tế vẫn luôn coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo trong khi phần đóng góp của nó thì quá bé nhỏ.

Mười mấy năm gần đây nhà nước lại thành lập thêm các tập đoàn được gọi là các “cú đấm thép” của nền kinh tế.

Bất bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm nghĩa vụ thuế bên trọng bên khinh, cơ hội kinh doanh tốt không chia đều… giữa quốc doanh và ngoài quốc doanh. Dù hoạt động hiệu quả và đóng góp ngân sách nhiều hơn nhưng khu vực ngoài quốc doanh luôn chịu thiệt thòi nhiều hơn quốc doanh. 

Không phải chờ tới năm 2018 mà nhiều năm trước đó, người ta rất sửng sốt khi nhận ra các tập đoàn, các tổng công ty quốc doanh đang đóng vai trò các cổ máy tiêu tiền ngân sách và nghiền nát các đóng góp tài chính từ khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài. Sự phung phí trong quản lý và thâm lạm công quỹ cùng vốn liếng nhà nước một cách vô tội vạ của các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh dẫn tới việc nhà nước phải tận thu thuế má từ khu vực ngoài quốc doanh để bù lỗ cho khu vực quốc doanh. Nợ nước ngoài của các tập đoàn quốc doanh là gánh nặng vô cùng lớn cho nền kinh tế vốn èo uột của nước ta. Sau sự phá sản của Vinashin rồi thua lỗ của Vinaline, lùm xùm tài chính của Petro… mới đây, tập đoàn Than Khoáng sản cho biết họ đang vấp phải một món nợ xấu gần một trăm ngàn tỉ đồng…

Việc thành lập doanh nghiệp quốc doanh (creation of entreprises) quá cẩu thả và việc đào tạo doanh nhân quản lý (formation of entrepreneurs) không bài bản chuẩn mực. Cấp trên chỉ dựa vào những tiêu chí phi kinh tế để bổ nhiệm cán bộ và ủy nhiệm các cấp điều hành chớ ít khi dựa vào khả năng quản lý. Cán bộ quản lý quốc doanh giỏi làm chính trị hơn quản lý sản xuất kinh doanh. Thế nên nền kinh tế rớt vào một cái vòng lẩn quẩn (vicious circle) vì người làm người phá.

14/5/2018.
Momentary notes

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

CON ÔNG CHỦ RẠP CAO ĐỒNG HƯNG

Khanh Truong
11 tháng 5 lúc 20:56
Đọc lại một số bài viết tào lao để gom thành tập CHUYỆN BAO ĐỒNG sẽ xuất bản nay mai.

Nhớ Cao Đông Khánh, một tửu đồ tôi vô cùng yêu quí.

Đăng lại bàI viết như một nén tâm hương. Mười tám năm đã trôi qua, rưng rưng nhớ bạn, Cao Đông Khánh.

*

CAO ĐÔNG KHÁNH, THƠ VÀ RƯỢU

Vài năm gần đây, chúng ta liên tiếp mất đi nhiều tài năng, trong nhiều lĩnh vực. Nhà văn Mai Thảo, thi sĩ Nguyên Sa, nhà báo Lê Đình Điểu, nhà văn Nghiêm Xuân Hồng, họa sĩ Ngọc Dũng, nhạc sĩ Lê Uyên Phương... Văn học nghệ thuật Việt Nam trên quê người vốn khó khăn, vì điều kiện kinh tế, môi trường nuôi dưỡng, cũng như thiếu hẳn những gạch nối kế thừa, càng trở nên khó khăn hơn, khi chúng ta cứ phải, vài tháng, một năm, chứng kiến những cuộc ra đi vĩnh viễn. Gần đây nhất, (ngày 12/12/2000), thi sĩ Cao Đông Khánh lại vừa từ giã chúng ta!

Qui luật vận hành của thời gian và lẽ tử sinh của kiếp người, quả thực, quá đỗi khắc nghiệt. Cao Đông Khánh vừa từ giã chúng ta. Cái gã xem cuộc đời như ngọn rau muống ấy, cái kẻ, nếu tình cờ vài ba năm gặp lại, ở đâu đó, thay cho lời vấn an cũ mòn, đến khách sáo: “Khỏe không ?”, là cái hất hàm kèm tiếng chửi thề và câu hỏi ngắn gọn: “Còn nhậu được chứ?”

Còn nhậu được, đồng nghĩa với còn khỏe, còn tráng kiện, còn phong độ. Cụ thể, giản dị, cực kỳ Lương Sơn Bạc.

Nhớ đến Cao Đông Khánh, là nhớ đến hình ảnh một gã đàn ông rất giang hồ, rất “tay chơi”, rất “công tử Bạc Liêu”, và tất nhiên, rất thi sĩ.

Trong đời, tôi được may mắn biết ba người làm thơ, theo tôi, chất “thi sĩ” hiển lộ rõ rệt nhất, không những qua ngôn ngữ thi ca, mà ngay trong đời sống và cung cách xử kỷ tiếp vật của họ. Đó là Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, và Cao Đông Khánh.

Cả ba, mỗi người một cách, đã ném cả sinh mệnh, cuộc đời, buồn vui giận ghét của mình đến chỗ tận cùng, quyết liệt, tan hoang!

Dĩ nhiên tôi không phiến diện kết luận phải sống như thế, phải là như thế, thì tác phẩm của họ mới hay, mới tinh lọc, mới trở thành trân chu bảo ngọc. Trong lịch sử văn học Việt Nam, nào thiếu gì những thi sĩ xuất chúng, tên tuổi được hậu thế nhắc đến như những thành tựu viên mãn nhất của thơ ca tiếng Việt, thế nhưng đời sống cá nhân của họ lại là những tấm gương cực kỳ gương mẫu. Hình ảnh những tên đàn ông đầu bù tóc rối, áo quần xộc xệch, rượu chè, hút sách, nói năng gàn dở ngông nghênh, mặt mày đăm chiêu lãng đãng, yêu đương mê đắm cuồng si... mà người đời vẫn hình dung, vẫn vẽ ra, để chỉ chủng loại nghệ sĩ (văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ...) thường ít nhiều làm méo mó chân diện mục thực sự của họ. Cuộc đời muôn màu muôn vẻ, con người cũng thiên hình vạn trạng, ở bất cứ lĩnh vực nào, không cứ gì nghệ sĩ, sự sinh động và đa dạng của con người đều hiển lộ đầy đủ. Nhưng sở dĩ bọn nghệ sĩ bị lưu ý nhiều, trở thành hình tượng tiêu biểu, có lẽ vì họ là người của quần chúng. Nhiều chuyện quá tầm thường, quá phổ biến (yêu nhau, bỏ nhau chả hạn), nhan nhãn hàng giờ hàng ngày ở mọi nơi trên trái đất, không ai để tâm, ngoài một số bà con bè bạn thân gần. Thế nhưng cũng sự cố đó, nếu xảy ra trong giới nghệ sĩ, lập tức trở nên ồn ào. Báo chí, sách vở, truyền thanh, truyền hình... viết, nói về, tường thuật về, với những suy diễn, phỏng đoán, kết luận... có khi chính kẻ trong cuộc nghe, đọc, cũng phân vân không hiểu có phải hình ảnh người ta tô vẽ kia có phải là mình chăng?

Viết những điều trên, tôi cốt chứng minh gã "tay chơi" Cao Đông Khánh, tên bợm nhậu kỳ phùng địch thủ này đã là như thế, cứ là như thế, từ lúc biết cầm ly rượu, đến khi từ giã cõi đời. Hắn làm thơ, và hắn nhậu. Tách bạch, Không vì hắn làm thơ nên phải nhậu, hoặc nhờ nhậu mới làm được thơ. Thi sĩ Du Tử Lê cả đời chưa từng nhấp một ngụm rượu, dù chỉ rượu khai vị, thức uống duy nhất của "chàng", tứ thời bát tiết, là cà phê đen. Sáng "đen" trưa "đen" chiều "đen" tối "đen", còn thức còn "đen"... Thế nhưng thơ họ Du lúc nào cũng chếnh choáng hơi men - men tình -, ngất ngây, ngất ngư đến.... tội!

Cao Đông Khánh làm thơ. Lịch sử văn học Việt Nam sau này hẳn nhiên sẽ gắn liền tên tuổi hắn với những thành quả thi ca do hắn tạo tác. Hắn là bợm nhậu cừ khôi hay chỉ quanh năm trà đá chanh đường. Hắn vợ con đàng hoàng, công ăn việc làm nghiêm chỉnh hay độc thân lang bạt, rong chơi giỏi, kiếm tiền dở... Tất cả râu ria này chỉ là chuyện phụ. Không làm cho thơ hắn hay hơn hoặc tệ ra.

Vậy, thơ và nhậu, hai "phạm trù" độc lập.

Giữa tôi và Cao Đông Khánh từng có giao tình khá mật thiết. Thế mà hắn vừa từ trần. Tôi nhớ hắn. Điều tôi nhớ nhất về hắn, không phải thơ, mà là hình ảnh tôi vừa hình dung, một tửu đồ.

Một tửu đồ!

Tôi từng nhiều lần, rất nhiều lần, cùng Cao Đông Khánh giang hồ vặt, từ hàng quán này, sang điểm nhậu nọ, suốt đêm, suốt ngày. Cách đây trên dưới mười lăm năm, thuở hắn còn ngụ cư ở Bolsa, Cao Đông Khánh là một trong vài hảo thủ của làng nhậu. Hắn nhậu khủng khiếp, hũ chìm hũ nổi, túy lúy càn khôn, nghiêng ngửa thiên địa. Càng nhậu, chất Nam bộ trong hắn càng hiển lộ rõ rệt. Bạt mạng, hào sảng, ngang ngược, bất cần, và (xin lỗi các vị nữ lưu) chửi thề, văng tục như máy. Điểm đặc biệt nhất, làm nên con người Cao Đông Khánh, tạo thành dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn bè cũng như những ai từng có dịp tiếp xúc với hắn, đó là, khi say, hắn đọc thơ. Càng say, càng đọc hay. Cực hay. Đặc biệt hơn nữa, hắn chỉ đọc thơ của mình (tất nhiên), và thơ Tô Thùy Yên. Tôi chưa từng thấy có ai lột tả được trọn vẹn cái bức bối, cái hào sảng, cái bi tráng của thơ Tô Thùy Yên, ngoài Cao Đông Khánh. Cũng như chưa từng biết có ai đủ khả năng biến những con chữ vốn dĩ rất dung tục, rất đầu đường xó chợ, rất ngã ba Hàng Xanh, rất ngã năm Chú Ía... trong thơ Cao Đông Khánh, ngoài chất giọng và cách đọc của chính hắn, tác giả.

Cao Đông Khánh đọc thơ của mình hay, đọc thơ Tô Thùy Yên hay, có lẽ vì cả hai cùng sinh trưởng tại miền Nam. Trong tác phẩm của họ, từ ngôn ngữ đến phong cách, đều ăm ắp chất Nam bộ. Dù, nếu phân tích kỹ lưỡng hơn, chúng ta vẫn thấy ở thơ Tô Thùy Yên còn tồn tại cái óng ả, cái “trí thức” (xin độc giả hiểu chữ trí thức ở đây trong ngoặc kép) của ngôn ngữ văn học miền Bắc. Ở thơ Cao Đông Khánh, thứ chữ nghĩa óng chuốt, điệu đàng ấy bị khai tử triệt để.

Ngôn ngữ thơ của Cao Đông Khánh là ngôn ngữ nói, giữa anh Sáu Mỹ Tho với chị Tư Cầu Muối. Đại loại theo kiểu: “Nhớ em như nhớ nhà”, mộc mạc, trần trụi, thô vụng, bộc trực, tỉnh rụi. Không màu mè riêu cua, không thêm mắm dặm muối, không hành ngò ớt tỏi.

Nhớ em như nhớ nhà. Bốn chữ này, nếu đứng độc lập một mình, tất nhiên không thể gọi là thơ. Thế nhưng kỳ lạ thay, qua phù phép của mình, Cao Đông Khánh đã biến chúng thành thơ, đã thổi vào chúng một linh hồn, một sứ mệnh, khiến chúng phập phồng thở. Sinh động, gợi mở và thi vị.

Đêm. Gió. Cây. Trời. Hồn nhiên
tình cờ ngọn lá quạt giọt nước nhẹ
khắp nơi nào cũng nhớ em như nhớ nhà
Nhớ em như nhớ nhà
Cố nhiên điều anh nói chẳng ai tin, kể cả, khi em lang chạ với người đàn ông đó cùng một kiểu như với anh; căn phòng ám khói than củi nấu ăn, tấm kính to soi hai đứa nằm đối và kể cả cái giường và bất cứ cái gì... cũng đổi, thay áo rách em mặc thời trang.
Nhớ em như nhớ nhà.
Cũng có khi nhớ em như hồi mới gặp nhau, rất nhiều điều đâu cần tỏ rõ, mà yêu em tận tường, buổi sớm mai hôn em trong vườn trái cây, dụ dỗ em, chỉ dạy em ân ái.
Nhớ em như nhớ nhà.
Em chạy xuyên qua nhiều nhân vật mặc quân phục, ngơ ngác gọi tên anh, nắng là nơi em đứng hồn nhiên giữa thành phố công bố, “anh ơi em nhớ anh”. Bởi vì trong cùng cực dĩ vãng đã tận tường, chẳng phải chỉ những ám ảnh nhục thể sung sướng; còn ví dụ như, quyển sách trên đầu giường, em ngủ như đứa bé, ví dụ như, anh giận dữ sau những cúi đầu gật gật dạ dạ thưa thưa làm em khóc.
Nhớ em như nhớ nhà.
Bằng vào thiện tâm và bằng vào thù hận, cùng một lúc với sự chính xác của anh yêu em không tưởng được, thông qua, anh ghi nhận, là chính nơi sự suy vi của ngôi nhà đã đổi chủ.
Một bài thơ
Chẳng thể như một sự tình cờ chút nào,
Mà sự thật rằng
Anh nhớ em như nhớ nhà em ơi.
(Từ nơi yêu dấu, tr 5. Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn, 1997)

Không dừng lại ở cách dùng chữ mộc mạc, thô vụng, tỉnh rụi..., Cao Đông Khánh đi xa hơn, hắn thoải mái ném vào thơ một số từ ngữ ngay cả những độc giả “cấp tiến” nhất cũng giật thót mình, để rồi lập tức sau đó, đỏ mặt xấu hổ. Độc giả đỏ mặt xấu hổ không phải vì những chữ dùng ấy thô lỗ tục tĩu quá, mà chỉ vì cảm thấy có lỗi do cái tâm đục của mình, trong lúc chính tác giả, chủ nhân của những từ ấy, lại rất đỗi hồn nhiên, trong sáng. Đối với Cao Đông Khánh, mọi từ đều có giá trị như nhau, vấn đề không phải nên hay không nên dùng, mà giản dị là dùng như thế nào, dùng với mục đích gì, dùng ở đâu.

Mở cửa New York, San Francisco, Seattle, Houston
Mở cửa Đồng Tháp Mười, Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau, Cái Răng, Cái Tắc, Cái Vồn
Trên nóc cao ốc trùng trùng đàn ông.
Chót vót điệp điệp đàn bà, Cái Lớn, Cái Bé những bái vật muôn năm trong gốc gác con người
Cái Răng, Cái Tóc. Cái Lồn. Cái Hồn Vía còn tươi
Kẻ di tản đã ra khỏi đường chân biển
Và bao nhiêu đường chân trời.
Không ai nhớ rõ
Đi hết ánh sáng. Đốt lửa ngoài giới hạn...
(Cánh đồng trầm thủy, tr. 311. Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn)

Xin lỗi, tôi vừa đẩy ngòi bút phiêu lưu khá xa ra “ngoài giới hạn”.

Nhắc lại, mục đích của tôi không nhằm viết về thơ Cao Đông Khánh. Tôi chỉ muốn đề cập đến con người hắn, cá tính hắn, cung cách sống của hắn. Đó là một con người, một cá tính và một cách sống, theo chủ quan tôi, thật đẹp. Đẹp và giàu có. Đẹp và mầu mỡ như đất đai miền Nam, nơi hắn đã sinh ra, lớn lên.

Trở lại chủ đề chính.

Ngoài “đức” nhậu và khả năng mê hoặc khi đọc thơ, Cao Đông Khánh còn một “đức” khác, độc đáo không kém. Đó là “đức”... đập lộn. Tuy nhiên, xin độc giả yên tâm, thi sĩ của chúng ta chỉ đấu võ mồm, tuyệt chưa bao giờ tôi thấy hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với ai, kể cả... tôi, một kẻ rất dễ bị đập, vì thường phát ngôn không lấy gì làm cẩn thận cho lắm!

Một lần tại nhà tôi, giữa cuộc nhậu, trong lúc đọc thơ, Cao Đông Khánh cao hứng lý giải thơ của mình.

Khi hắn đọc đến đoạn thơ:

Sài Gòn Chợ Lớn mưa như chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về Xóm Chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
Trái cây quốc cấm dấu trong lòng
Hỏi thăm cho biết đường ra biển
Nước lớn khi nào tới cửa sông

rồi giải thích đại ý rằng sau bảy lăm, những người đàn bà đi buôn lậu từ miền Tây lên Sài Gòn, thường qua mặt công an kinh tế bằng cách dấu mọi thứ hàng hóa trong người. Ví dụ nếu buôn trái cây, họ sẽ dấu các loại trái vào ngực giả làm ... vú. Lần ấy tôi đã nổi sùng la lối: “Đoạn thơ hay như thế, gợi mở như thế, khoáng đạt như thế, sao mày nỡ bó chúng lại bằng cái cách lý giải nhà quê không chịu được của mày, hử?” Thế là Cao Đông Khánh điên tiết, chửi thề văng tục không thua bất cứ tên du đãng cầu Ông Lãnh chính hiệu nào, và, như hàng trăm lần khác, hùng hổ đòi... đập lộn, rồi đùng đùng vào xách va li, quần áo, giày dép bước ra khỏi cửa, sau khi ném lại một câu xanh dờn: “Đụ mẹ, mày ngu như con bò, tao nể mặt anh em, tha không đập mày vỡ mặt. Từ nay nhớ cạch tao ra...”...Nhưng ra đến lề đường, đứng lơ ngơ chừng mươi mười lăm phút, nhìn ngược nhìn xuôi, chẳng thấy ai đoái hoài, bạn bè bên trong tiếp tục chén chú chén anh, tiếp tục đấu hót tưng bừng, người hùng của chúng ta tức tối khăn gói... qui hồi vị trí cũ, mặt mày đằng đằng sát khí, dõng dạc: “Cóc nhậu với chúng mày nữa, ông ngủ”. Và lăn đùng ra thảm, nửa phút sau, ngáy như sấm. Riêng khoản ngáy và nghiến răng, Cao Đông Khánh có thể so tài ngang ngửa với nhà văn Cao Xuân Huy. Khiếp, nếu chẳng may ban đêm bị nhốt chung phòng với hai vị này, chúng ta có rất nhiều khả năng thức trắng !

Một lần khác, trong quán nhậu, sau khi đã đổ vào bao tử chừng nửa tá Budweiser, Cao Đông Khánh đòi đọc thơ. Tôi can: “Trong quán, toàn bọn trẻ, chúng chả biết gì thơ với thẩn đâu, đọc làm quái gì”. Người hùng tất nhiên không cho lời khuyên ấy hữu lý. Anh xiêu vẹo đứng lên, ngẩng mặt, khoa tay, bắt đầu “tra tấn” thiên hạ bằng cái chất giọng miền Nam rặc, đã mềm nhão hơi men.

Bàn bên cạnh, một đám trẻ nhìn qua. Có đứa lên tiếng: “Thôi đi ông ngoại, làm ơn ngồi xuống cho chúng con nhờ”. Ông ngoại cụt hứng, ném tia nhìn Võ Tòng sát tẩu vào đám trẻ: “Có câm họng không, nhóc tì.” Đấng nhóc tì bị chạm nọc, đứng bật dậy, xổ tiếng Đức ngọt lịm: “Fuck you, ông ngoại nói gì nói lại coi?” Tôi hoảng vía. Không xong rồi, dù từng xuất thân đầu đường xó chợ, nhưng sau mấy mươi năm văn không ôn võ không luyện, tuổi tác lại đã xấp xỉ ngũ tuần, chân yếu tay run, chỉ cần một nhóc tì vung nắm đấm, thì dù song thủ hợp bích, tôi với người hùng cũng sẽ nhanh chóng văng bắn ra cửa như hai bịch gạo rách! Trầm trọng hơn, tôi đoán chín mươi chín phần trăm trong thắt lưng của mỗi nhóc tì làm gì cũng có một con chó lửa, cương với chúng, rất nhiều khả năng về chầu ông bà ông vải, mang theo mấy hòn đạn chì trong người! Bèn vội vàng kéo người hùng ngồi xuống, rồi sà qua bàn các đấng nhóc tì, trổ tài thuyết khách. Đầu tiên, tôi gọi chủ quán đưa gấp ra một “xâu” bia mới, mỗi đấng một chai, kể cả tôi. Xong, tôi nâng chai hồ hởi: “Anh em cả mà. Ông bạn goa tửu lượng cóc cắn, say bét nhè nên phát ngôn bừa bãi, mặc mẹ thằng chả, lát goa đưa thằng chả về. Giờ, nhậu tiếp cái đã. Nào, mình nâng chai cùng một phát làm quen nhé.” Không khí bớt căng thẳng, các nhóc tì chịu ngồi xuống, nâng chai. Cao thi sĩ dĩ nhiên nào đã chịu yên, hắn nhào qua, tiếp tục quậy. Tuy nhiên, dân nhậu vốn dễ cảm thông và đa phần đều hào sảng, rộng lượng. Sau khi tôi đã kết nghĩa đào viên được với đám trẻ, chúng dễ dàng chấp nhận trò chơi mới: chịu khó ngoan ngoãn ngồi nghe ông ngoại đọc thơ. Dứt bài, chúng cũng vỗ tay chí chát, cũng "Tới quá ông ngoại, cạn đi rồi tiếp tục ông ngoại", dù tôi biết tỏng, với khả năng tiếng Việt giả cầy của chúng, chửi tục hẳn không thua ai, nhưng nghe và hiểu thơ thì coi bộ... tuyệt vọng!

Tóm lại, trong Cao Đông Khánh có hai con người. Con người thi sĩ và một gã giang hồ. Con người thứ nhất, xin để văn học sử đánh giá, xếp loại. Tôi không đủ khả năng lượng định, dù tôi vẫn tin thơ hắn đã ghi dấu mốc cực kỳ quan trọng cho một giai đoạn của nền thơ ca Việt Nam, cả trong lẫn ngoài nước. Cao Đông Khánh tạo được cho riêng mình một bản sắc, một ngữ vựng, một phong cách. Thơ hắn không thể lẫn với bất cứ ai, từ trước. Điều ấy tưởng dễ dàng, lại hết sức khó khăn. Chúng ta vẫn thường thấy xảy ra trong văn học mỗi thời đại, mỗi giai đoạn, một số nhà văn nhà thơ cùng có với nhau một mẫu số chung, hít thở với nhau một bầu khí, sử dụng cùng nhau một loại ngữ vựng, chia xẻ với nhau một phong cách, cũng như thói quen chọn lựa rập khuôn một số đề tài sáng tác. Hầu hết những nhà văn nhà thơ này vì không có bản sắc riêng, họ dễ dàng bị thời gian đào thải. Chỉ số ít người vượt thoát được sự đồng dạng, đồng phục ấy, bằng tài năng vượt trội, bằng nỗ lực khai phá thực sự, mới tồn tại được.

Kẻ thứ hai, gã giang hồ trong Cao Đông Khánh, như tôi đã trình bày, là một tay chơi đúng nghĩa, một tên bạt mạng thượng thừa.

Vì cảm tình riêng, tôi lệch lạc nghĩ, con người thứ hai này quan trọng hơn, thắm thiết hơn,nghĩa tình hơn. Dù tôi hiểu rất rõ hai con người này luôn bổ túc, hổ tương cho nhau, làm nên nhân cách người, cũng như nhân cách thơ Cao Đông Khánh.

Trong nghĩa ấy, Cao Đông Khánh và thơ và rượu, là một.

*
Chị Ngọc Anh,

cho tôi chân thành gửi lời chia buồn đến chị. Lẽ ra, tôi phải sang với anh ấy ngay khi nghe hung tin. Nhưng khổ nỗi, trước anh ấy một tuần, tôi cũng đã vào nhà thương vì “tai nạn” giống như anh ấy. May mắn, “tai nạn” của tôi không đến nỗi trầm trọng, tuy nhiên, sức khoẻ chưa hồi phục hẳn, đi xa, khó khăn quá. Không đi được, đành ngồi đây, gõ những dòng này, xin chị xem bài viết như nén tâm hương, tôi bùi ngùi thắp trước bia mộ anh.

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ, trong nhiều trận nhậu, chị ngồi cạnh khi Cao Đông Khánh đọc thơ, thỉnh thoảng anh ấy vấp váp ngập ngừng vì quên. Chị nhanh nhẹn và nhỏ nhẹ nhắc chậm từng chữ, từng câu. Hình ảnh thực âu yếm, cảm động.

Hẳn nhiên, chưa có ai thuộc thơ anh ấy bằng chị, mê thơ anh ấy bằng chị. Và cũng hẳn nhiên, trân trọng yêu mến con người cùng tài năng của anh ấy bằng chị.

Thơ ca, văn học, nghệ thuật Việt Nam thành tựu, tồn tại đẹp đẽ như ngày hôm nay, một phần rất lớn, nhờ những người đàn bà, những người vợ như chị.

Cảm ơn chị, cảm ơn những người vợ nghệ sĩ đa phần bất hạnh nhưng cực kỳ trân quí, như chị... Chị đã "chịu đựng" anh ấy bằng tấm long thủy chung và rộng lượng của một người vợ yêu chồng. Cao Đông Khánh làm việc kiếm tiền dở, nhưng rong chơi lại rất giỏi. Mọi chuyện, từ kinh tế đến tề gia nội trợ, nuôi dạy con cái, một tay chị gánh vác!

Tôi lẩn thẩn nghĩ, hàng năm, ở mọi nơi trên thế giới, người ta thường tổ chức trao giải thưởng văn xuôi, thơ ca, hội họa, âm nhạc...cho những thành tựu xuất sắc của các tác giả. Lẽ ra, bên cạnh những giải thưởng này, phải có thêm một giải thưởng nữa, cho những đóng góp âm thầm của các bà vợ, như chị. Không có những bà vợ như chị, có lẽ những nỗ lực của các tác giả, sẽ gian nan hơn.

KHÁNH TRƯỜNG
(Hợp Lưu số 57 tháng 2&3 năm 2001)

Cao Đông Khánh vẽ bởi Đinh Cường

****
Các nghệ sĩ ăn nói kỳ thú lắm
Một nhà văn đi uống bia chỉ ngồi quay mặt vào tường không cùng ai cả
Tôi thấy vậy hỏi một ông nhà thơ là ông đó sao vậy
Ông này nói đó là cái thú riêng mếu như ông ấy trèo lên cây uống cũng vậy thôi
Lại có một lần ông nhà văn ấy đang độc ẩm bia có một chàng bặm chợn khó chịu khoe doạ mình mới mãn hạn mười hai năm tù
Ông khẽ trả lời là cậu tù it hơn tôi nhiều
Tôi đã tù 70 năm nay rồi

Hoàn Đỗ

****

Lần gặp nó lần cuối trong một buổi đọc thơ ngồi uống rượu bàn chót ..lặng lẽ nó rót cho mình một ly.. tới phiên tao ...nó lên đọc thơ ... xuống uống .
Mày có. biết tại sao tại sao tao đọc lớn không ...không ..tụi nó chê thơ tao dở..
Mày có biết tao là ai không...không !
Tao là L.A .. bạn mày... Nó quì xuống sàn lạy Tao lậy mày...bạn tao mày mới mang tao về nhà mày uống rượu ..tao điên rồi..
Thẳng bạn học hay chửi đù mẹ
Con Cao Đồng Hưng chuyên bán rễ nhàu ...

Lê Anh Phong



Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

Bài Học Từ Người Quét Rác

Một bài học tuyệt vời!

Bài Học Từ Người Quét Rác - Nguyễn Mạnh Hùng

“Nếu không gặp được Allen - người quét rác 10 năm về trước có lẽ giờ này, tôi đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền”, Giám đốc Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ quan điểm sống của mình.

Học là việc của cả đời. Ngày tốt nghiệp đại học tôi mới mới bắt đầu sự nghiệp học hành của chính mình - học từ cuộc sống. Biết bao người thầy sau này đã dạy cho tôi vô vàn kiến thức. Họ là các giáo sư, tiến sĩ, các chủ tịch, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Tuy nhiên tôi không thể nào quên được một người thầy đặc biệt của mình - thầy Allen.

Hằng ngày từ ký túc xá trên phố Mountain - Sydney (Australia), tôi khoác ba lô đi học hay lên thư viện. Mỗi buổi sáng, tôi đều bắt gặp một anh công nhân vệ sinh thu dọn quanh khu nhà. Anh luôn tươi cười và kèm theo là lời chào rất thân thiện “Hello, how are you” (Chào bạn, bạn khỏe chứ?). Anh làm như vậy ngay khi gặp tôi. Về phần mình tôi luôn lẳng lặng bước đi, khuôn mặt lạnh tanh và khó chịu. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên một ý nghĩ duy nhất “Thằng cha này thấy sang bắt quàng làm họ. Hắn thấy tôi có chức vụ, có tiền bạc, có học thức nên muốn bắt quen đây. Hắn thì có khác gì mấy cô công nhân vệ sinh hay đi dọn rác trước cổng nhà mình ở phố Thái Hà, Hà Nội”.

Ngày tiếp theo, anh công nhân vệ sinh vẫn cười tươi, vẫn chào tôi hết sức niềm nở. Tôi vẫn khó chịu và đút hai tay vào túi quần đi thẳng. Khuôn mặt vênh váo. Ngày thứ ba vẫn vậy, anh quét rác lại chào tôi rất vui vẻ, khuôn mặt và thân hình thể hiện sự thân thiện với tôi. Tuy nhiên, trong lần này, để cho xong chuyện tôi đã trả lời anh ta một cách miễn cưỡng: “I am fine, thank you. And you?” (Tôi khỏe, cám ơn anh. Thế còn anh?) Tôi nói xong và chợt nhận thấy rằng mình đã cười. Tôi đã cười mà không biết, điều này không như trong kế hoạch ban đầu của một người coi thường anh công nhân dọn vệ sinh. Thú vị hơn tôi phát hiện ra khuôn mặt tươi tỉnh của chính mình, rằng hình như mình vui hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn, thư giãn hơn.

Vừa đi tôi vừa nghĩ về mình rồi lẩm bẩm: “Ta thật là ngu dốt”. Quả thật, từ trước đến nay, trong suốt bao nhiêu năm qua tôi đã có một suy nghĩ không đúng, rằng khi cười với ai đó tôi mang lại niềm vui cho họ. Khi bắt tay ai tôi luôn nghĩ mình ban ơn cho họ. Khi gần gũi ai, tôi luôn nghĩ họ được lợi từ tôi. Và, tôi thấy mình thật sai lầm. Bởi, khi tôi cười với anh công nhân quét rác này người được lợi đầu tiên không phải là anh ta mà là chính tôi.

Và tôi chợt nhận ra rằng anh ta đâu có biết tôi là ai. Anh không hề biết tôi có bao nhiêu tiền, làm chức vụ gì, có học thức đến đâu. Trong mắt anh ta tôi từ ký túc xá bước ra tức tôi là sinh viên, là người đi học. Dù có học tiến sĩ, thạc sĩ hay đại học vẫn là người đi học, là sinh viên. Mà thậm chí anh cũng chẳng quan tâm tôi có là sinh viên hay không.

Trên thực tế tôi chỉ là một người châu Á da vàng, mũi tẹt. Nhưng anh ta cũng chẳng để ý đến chuyện ấy. Anh chỉ cười và chào tôi như đã và đang làm việc đó với tất cả những ai từ ký túc xá bước ra. Tất cả mọi người là bình đẳng. Tất cả chúng ta là con người. Tôi thấy xấu hổ và tôi đã nhận ra vấn đề. Tôi đã được học một bài quý giá. Từ đó đi đâu, gặp ai tôi cũng chào và cười. Không chỉ cười mà là cười rất tươi. Cười từ trái tim mình, từ đáy lòng mình.

Một bữa nọ khi từ thư viện về tôi phát hiện ra Allen - người quét rác đang ngồi uống cà phê trong quán. Anh ăn mặc rất lịch sự, vừa nhấm nháp ly café vừa đọc sách. Ngạc nhiên và tò mò, tôi lại gần làm quen, cùng uống café, cùng nghe nhạc với anh. Tôi không ngờ rằng người mặc bộ quần áo bảo hộ, đi lau nhà, quét rác mỗi sáng bây giờ lại biến thành một người lịch lãm, trí tuệ thế này. Anh đọc sách say sưa và đọc khá nhanh. Bài học nữa tôi đã học được: Mỗi lúc chúng ta đang đảm nhận vai diễn nào đó, lúc đóng vai nào phải làm tốt vai đó. Hơn nữa, không nên coi thường người công nhân quét rác. Anh ấy cũng đọc sách, cũng nghe nhạc, cũng thưởng thức café và các món ăn.

Allen đã kể cho tôi nghe vanh vách về Kim Tự Tháp ở Ai Cập, về những gì còn sót lại từ vườn treo Babillon ở Iraq, về vùng đất lạnh và băng giá Siberie của nước Nga. Anh nói về thời kỳ La Mã, về chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ, về cuộc sống của người Eskimo. Đặc biệt anh nói về Việt Nam khi biết tôi là người Việt (Sau này anh kể rằng anh cứ ngỡ tôi là người Thái hay Indonesia).
Hóa ra Alen đam mê đi du lịch. Anh đi du lịch qua sách. Những hiểu biết của anh làm tôi kinh ngạc. Hóa ra anh rất hiểu biết và có trí nhớ và sự tưởng tượng tuyệt vời. Allen hỏi tôi khu vực Hạ Long có bao nhiêu hòn đảo? Khi đó, vì không biết, tôi đã nói đại rằng quãng 1.000 hòn. Allen đã giảng giải về các hòn đảo, về địa lý, khí hậu, thảm thực vật và thủy sản cũng như tính chất vùng biển của 1.960 hòn đảo, (chứ không phải con số 1.000 như tôi nghĩ) trong vùng diện tích 1.553 km2 này. Nhờ Allen mà tôi, có lẽ, đến chết không quên được những con số này.

Allen đề nghị tôi phân tích về nhạc Việt Nam, nhất là vấn đề đặc biệt của loại nhạc 5 nốt này. Tôi ngạc nhiên vì chưa bao giờ biết đến nhạc của đất nước mình lại chỉ có 5 nốt. Tôi luôn nghĩ nhạc gì thì nhạc, đã là nhạc thì phải là 7 nốt chứ. Cuối cùng tôi đã phải há miệng ra nghe Allen nói về chèo, về cải lương, về chầu văn, và về các loại nhạc cụ của Việt Nam, đất nước nơi tôi sinh ra và lớn lên. Allen đã dạy cho tôi bài học quý giá về tính tìm tòi khám phá, rằng tôi phải đọc nhiều hơn, tìm hiểu nhiều hơn, quan sát và ghi nhớ nhiều hơn.

Chính từ bài học quý giá này mà ngay sau khi về Việt Nam tôi đã quyết định lái xe làm một chuyến xuyên Việt. Tôi cũng quyết đi tham quan toàn bộ đất nước mình, không bỏ sót tỉnh nào. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã bỏ qua rất nhiều điều quan trọng, rằng tôi đã đi đến tận 39 quốc gia nhưng lại chẳng hiểu được nhiều thứ đang diễn ra ngay tại đất nước mình.

Ngày tôi đến thăm nhà của Allen, tôi lại học thêm được một bài học quý giá nữa. Allen có khoảng gần 1.000 cuốn sách. Là người học nhiều, đi nhiều, thường xuyên mua và đọc sách nhưng tủ sách của tôi cũng chỉ có quãng 3.000 cuốn. Còn Allen, một công nhân vệ sinh đã có một tủ sách quá vĩ đại. Anh đam mê sách và đã bỏ một khoản tiền lớn ra mua, trưng bày sách. Anh nói đã đọc hết những cuốn sách này. Thậm chí có những cuốn đọc đến 2-3 lần. Tôi nhớ khi đó tôi có mong muốn quỳ dưới chân anh xin nhận anh làm thầy.
Cũng tại những lần đến thăm anh, tôi đã được học cách nấu ăn. Làm sao nấu đơn giản, đủ chất, ngon miệng mà không quá cầu kỳ. Một tình bạn thân thiết đã nảy mầm giữa một doanh nhân với một anh quét rác. Chuyện này tôi không thể tưởng tượng được trước đó một vài năm. Từ ngày gặp Allen tôi bỏ hẳn các tính xấu của mình: kiêu ngạo, soi mói, coi thường người khác. Tôi cũng trở nên điềm đạm hơn, nói nhỏ hơn, ít nóng tính hơn. Tôi cũng không còn “bệnh” nhìn hình dáng bên ngoài mà kết luận con người nữa. Tôi luôn niềm nở và giúp đỡ mọi người. Tôi quyết định chọn sứ mệnh “sẻ chia” của mình từ ngày đó.

Cũng nhờ Allen và những người thầy khác sau này tôi đã hiểu và thực hành nguyên tắc “cho mà không đòi hỏi, cho mà không cần nhận”. Tôi cũng đã triển khai mỗi ngày, mỗi giờ cách sống “pay it forward” - đáp đền tiếp nối. Cũng từ ngày đó cuộc đời của tôi luôn hạnh phúc, bình an và chan chứa yêu thương.

Gần chục năm đã trôi qua. Bây giờ nghĩ lại, nếu không gặp được Allen, chắc tôi vẫn đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền, không chút nghỉ ngơi, không dành thời gian để hiểu và sống hạnh phúc với những người xung quanh, trong đó có các bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm. Tôi thật biết ơn thầy tôi, bạn tôi - Allen.

Ps: Từ email chị Diep Tran. Em cám ơn chị thật nhiều

Chia sẻ từ fb Phạm Kim Thuận (Salut Saigon)
21/04/2019

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019

Ai là người Việt Nam đầu tiên biết đến và truyền bá thuyết đa trí tuệ?

Trong bối cảnh giáo dục trường học ở Việt Nam gặp khủng hoảng và cả giáo viên và phụ huynh bị cuốn vào cơn sóng thần bằng cấp và thành tích, thuyết đa trí tuệ (nhiều trí thông minh) có nguồn gốc từ phương Tây đã được quan tâm và lan truyền ở Việt Nam.
Trên wiki tiếng Việt có hẳn một mục viết về “thuyết đa trí tuệ”. Ở đó wiki viết “Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner. Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau ‘là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa’ và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ”.
Cũng theo thông tin ở trang tham khảo mở này thì năm 1983, H. Gardner xuất bản “cuốn Frames of Mind (tạm dịch Cơ cấu của trí tuệ), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences)”.
Đọc ở đây, có vẻ như người ta có hàm ý nhấn mạnh rằng Gadner là ông tổ của thuyết đa trí tuệ và người Việt chỉ biết đến ông này.
Nhiều cuốn sách về lý thuyết này của H. Gadner, Amstrong… cũng được dịch ở Việt Nam và gây được ảnh hưởng nhất định.
Rất nhiều người ở Việt Nam có thể kể ra các loại hình trí thông minh được đề cập trong các cuốn sách trên như:
  • Trí thông minh ngôn ngữ
  • Trí thông minh logic toán họcTrí thông minh hình ảnh không gian
  • Trí thông minh âm nhạc
  • Trí thông minh vận động thể chất
  • Trí thông minh tương tác cá nhân
Tuy nhiên, có phải thực sự người Việt chỉ biết đến học thuyết về đa trí tuệ này trong khoảng 10-20 năm trở lại đây không?
Nếu bạn nghĩ như vậy thì bạn đã lầm to! Người Việt thực ra đã biết đến và truyền bá học thuyết này trước cả H. Gadner!
Ai? Khi nào? Chứng cứ đâu?
Người đó là Nguyễn Triệu Luật (1903-1946), bút hiệu: Dật Lang, Phất Văn Nữ Sĩ. Một nhân vật có cuộc đời sống động với cái kết buồn. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, nhà báo và cũng là một nhà chính trị.
Ông là một trong số những người hiếm hoi ở Việt Nam dùng sở học của mình (Tây học) để quan tâm tới tâm lý.
Ai là người Việt Nam đầu tiên biết đến và truyền bá thuyết đa trí tuệ?
Ông là người đã viết, biên dịch khá nhiều về tâm lý và đề cập đến những khái niệm-nội dung tâm lý học vẫn còn mới cả với rất nhiều sinh viên Việt Nam hiện nay. Thậm chí đọc tài liệu ông viết, dịch chúng ta có cảm giác nó còn sâu hơn, dễ hiểu hơn cả giáo trình tâm lý học-giáo dục học đang dùng cho sinh viên hiện nay. Chẳng hạn từ năm 1924-1926, trên tạp chí Nam Phong ông đã giới thiệu về:
  • Tính chất các hiện tượng về tâm lý
  • Thân thể và tinh thần
  • Thuyết Maudsley và Huxley
  • Đời tiềm thức
  • Chú ý
  • Nhân tính(quan niệm về bản nghã, nguyên tố cái bản ngã)
  • Phân loại các hiện tượng tâm lý và các tính người
  • Thế nào là tình tự
  • Khổ lạc tình
  • Cảm động tình
  • Duy tha hoạc vong kỷ khuynh hướng
  • Thế nào là trí?
  • Tri giác
  • Tưởng tượng…
Đặc biệt nhất, ông đã giới thiệu bằng cách biên dịch về thuyết đa trí tuệ. Xin trích nguyên văn:
Tính đa trí (hoặc gọi là tính thông minh)
Thông minh cũng có nhiều cách. Nhà tâm lý học xét theo máy cái óc người ta thì sành mà thường không hiểu nổi cái máy xe đạp, không cầm nổi ván tổ tôm. Nhà bác học tìm được định lệ phiền phức của vũ trụ mà đến việc tiền nong tính toán thì không hiểu gì. Bởi thế chớ có cho rằng người cờ cao là cầm quân giỏi.
Trong bọn học trò trong trường mà nói rằng có người giỏi khoa học, có người giỏi văn chương thì thật là sai lầm. Có người học trò, làm được cái tính thường ra ở lớp – người đó tức là người giỏi tính – mà nếu cho học môn số học cao thì không sao hiểu được. Có người, ông giáo cho là giỏi văn vì bài làm ít sai ít “phốt”, dịch “tem” Latin giỏi, nhưng vị tất óc người ấy đã đủ cái mềm mại, cái tưởng tượng, cái tư chất văn chương.
….
Mỗi cái thông minh xét ngoại vật một khác…
…Tính thông minh nhiều vô cùng, không sao kể cho hết được.
Có cái thông minh “rộng rãi” (étendu); có cái thông minh có giới hạn, hoặc gọi là thông minh “chuyên môn” (spécialisé); có cái “sâu sắc” (pénétrant); có cái “phù phiếm” (superficiel); có cái “sáng khởi” (inventif); có cái “thụ cảm” (réceptif), nghĩa là chỉ biết bắt chước; có cái “đúng mực” (juste), có cái “sai lầm” (faux); có cái “sáng suốt” (clair); có cái “mập mờ” (confus); có cái “quan sát” (observateur); có cái “trừu tượng” (abstrait), v.v..
Ai là người Việt Nam đầu tiên biết đến và truyền bá thuyết đa trí tuệ?
Nhà văn Nguyễn Triệu Luật với các nam sinh tại Vinh
Ông viết (biên dịch) những nội dung trên và cho đăng trên Nam Phong tháng 11/1924-8/1926 (Phụ lục “tâm lý hoc toàn đồ”, phần nội dung tôi chép lại ở trên lấy từ Nguyễn Triệu Luật, Tác phẩm đăng báo, Nguyễn Triệu Căn sưu tầm, NXB Tri thức, 2014(bạn đọc có thể tra cứu trên Nam Phong).
Như vậy, chúng ta thấy Nguyễn Triệu Luật ít nhất đã đi trước người bây giờ cả gần thế kỷ!

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

Mạt pháp

Hoàng Hưng: Mạt pháp Phật giáo Việt Nam, cái sảy nảy cái ung?

Những vụ “Cúng sao giải hạn” hằng năm làm tắc đường Hà Nội của chùa Phúc Khánh, rồi “trả nghiệp theo giá ra của Vong” ở chùa Ba Vàng quá trắng trợn phản Phật pháp gần đây, cùng với hội chứng start-up đua nhau xây chùa to để buôn thần bán thánh, chỉ là bước “cái u” biến thành “ung thư” của tình hình Phật giáo nước nhà.

“Cái u” đã được cảnh báo từ lâu, bởi không ít thiện trí thức. Ngay ít lâu sau khi mới về nước, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gửi tới Chủ tịch Nguyễn Minh Triết bản kiến nghị 10 điểm, trong đó có điểm yêu cầu cải tổ tổ chức Phật giáo đã bộc lộ nhiều sự suy thoái. Tức là đã mọc “u”. Bản chất của “cái u” đó và liệu pháp cho nó là gì? Hãy nghe phân tích của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong thư 7 điểm gửi trực tiếp cho Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005. Điểm đầu tiên chính là: Tách Giáo quyền ra khỏi Chính quyền:

“Ngày xưa vua Lý Thái Tổ đã yểm trợ đạo Phật xây dựng cơ sở giáo hội, và thiền sư Vạn Hạnh đã chỉ bày thêm cho vua về các đường lối kinh tế, văn hóa, đạo đức và chính trị. Nhưng vua không chen vào để kiểm soát Phật giáo và thiền sư cũng không nhận trách vụ gì trong guồng máy chính trị. Nhà nước bảo đảm là từ nay các vị xuất gia sẽ không bị mời làm dân biểu quốc hội, trở nên thành viên hội đồng nhân dân các cấp và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam hoặc trở nên đảng viên của bất cứ một đảng phái chính trị nào. Xen vào lãnh vực chính trị như thế các vị xuất gia sẽ phạm giới, làm mất uy tín của giáo đoàn Phật giáo và cũng làm cho chính quyền mang tiếng là sử dụng những vị ấy để kiểm soát tôn giáo. Từ nay các vị xuất gia sẽ không còn nhận huân chương của chính quyền”.

Vì sao khẳng định: cái U gốc của bệnh ung thư Phật giáo hiện nay chính là việc nhập nhèm giữa chính quyền với giáo quyền?

Khỏi cần truy lại lịch sử xa xưa, khi Phật giáo là quốc giáo vào thời Lý, Trần. Vua trở thành sư, Sư làm quốc sư. Có thể nói Phật giáo đã cho dân tộc sức mạnh tinh thần để giữ được độc lập, chiến thắng ngoại xâm. Nhưng rồi, với cái lọng che quá lớn của thế quyền, Phật giáo cũng thoái hoá, bị lạm dụng, trở thành nơi “trốn việc quan”, để rồi chính quyền phải ra tay… dọn dẹp, và sau đó là mất địa vị quốc giáo suốt các triều đại kế tiếp.

Cho đến thế kỷ 20. Sau thời gian Việt Nam trở thành thuộc địa, đạo Ki tô được chính quyền thực dân tạo thuận lợi để phát triển, thế lực vượt trội so với Phật giáo. Một phong trào chấn hưng Phật giáo đã được các thiện trí thức phát động, nằm trong công cuộc phục hưng tinh thần dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước để đòi lại độc lập. Có thể nói, đó là tiền đề để sinh ra ý tưởng “chính trị hoá” Phật giáo của Đảng Cộng sản sau Cách mạng 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và thôn tính miền Nam, cũng như của cả những lực lượng Phật giáo không CS chống lại Ngô Đình Diệm và Ki tô giáo được gia đình ông Diệm bảo trợ.

Các đảng viên Cộng sản khoác áo thầy chùa, cũng như các thầy chùa trở thành đảng viên CS, các ngôi chùa trở thành cơ sở cách mạng là chuyện rõ như ban ngày. Gần đây, không ít vị cao tăng đã công khai thân phận “đảng viên lão thành” của mình khi lâm chung.

Mặt tích cực của Phật giáo “nhập thế” có thể được biện minh trong công cuộc toàn dân đánh giặc để giành độc lập. Nhưng cái “sảy” cũng sinh ra từ đó, để rồi “nảy cái ung”.

Cái “sảy” này xuất phát từ việc nhà cầm quyền CS, thấy được sự lợi hại của tôn giáo trong việc dắt dẫn quần chúng, bèn quyết nắm chặt lấy Phật giáo là tôn giáo của đa số nhân dân và có truyền thống yêu nước, đi cùng với mình trong hai cuộc chiến, trong khi Ki tô giáo vẫn bị coi là “ngoại đạo” gắn với kẻ xâm lược cũ và họ khó lòng thâm nhập. Nhưng bây giờ, mục đích không còn là để hướng Phật giáo “nhập thế” cứu nước, mà là để giữ vững “ổn định chính trị”, nói trắng là giữ cho chặt quyền thống trị của mình.

Chính trị hoá Phật giáo với khẩu hiệu trắng phớ “Dân tộc, Đạo pháp và Chủ nghĩa xã hội”, với tổ chức Phật giáo nằm trong sự khống chế của các Đảng viên và nhất là công an khoác áo thầy chùa không có gì là bí mật. Những nhà lãnh đạo Phật giáo tốt nghiệp trường Đảng, từng là cấp tá công an, tướng quân đội… có thể thấy ở nhiều ngôi chùa lớn.

Bản thân tôi đã có thời gian học thiền ở một ngôi chùa lừng danh có vị Phó Viện trưởng được giới thiệu là nguyên đại tá an ninh, vị Tri khách tự giới thiệu là nguyên Thiếu tướng quân đội.

Cũng đã từng được một sĩ quan an ninh đến theo dõi ở một ngôi chùa lớn ở Ấn Độ. Vị này rất thành thạo kinh sách, rất siêng năng trong vai một tín đồ thuần thành, tin kính, rất mẫu mực. Sau này, anh ta thật thà khoe về quá trình rèn luyện rất gian khổ để đi vào lòng Phật giáo, từng có thời gian luyện du hành khắp các chùa bên Tàu chỉ với một bao gạo, một lon nước và cái bật lửa!

Ít năm sau, vị Sư trụ trì này khi về nước báo cho tôi một tin giật gân: – Cái anh theo dõi mình hồi đó giờ đã lên… tướng!

Tôi không lên án tất cả các vị đảng viên và công an khoác áo thầy chùa. Rất có thể nhiều người trong đó có đạo đức, có lương tâm, họ thành thực nghĩ rằng họ nên đóng vai trò đảm bảo để Phật giáo không bị lôi kéo vào những âm mưu chính trị chống lại chính quyền. Tôi cũng chưa muốn chê trách đại đa số trong Giáo hội Phật giáo chính thống lâu nay hầu như luôn “sống chung hoà bình” quá ngoan ngoãn với chính quyền, không hề cất một tiếng dù chỉ là kêu thương cho dân lành chịu bất công oan khuất trong đời, tức là vứt bỏ tinh thần “nhập thế” tích cực của chính mình trong thời giành độc lập!

Nhưng vài chục năm may, một khi bản thân chính quyền đã tha hoá, biến chất, bộ phận phản bội ngay lý tưởng “vì dân vì nước” của các bậc tiền bối đã đông đảo như nấm mọc sau mưa, thì đương nhiên những kẻ “ăn theo” trong “ngành” Phật giáo tội gì không… vứt bỏ mũ ni áo chùng để thoải mái ăn thịt, uống rượu, chơi đồng hồ xe hơi xịn hay hơn thế nữa…

Dựa vào tình trạng mất lòng tin hoàn toàn vào “lý tưởng” bánh vẽ, vào công lý xã hội, vào chính quyền, cộng với óc mê tín sâu nặng vốn là truyền thống của người dân ở xứ sở kém phát triển, “một bộ phận không nhỏ” thầy chùa bắt đầu đua nhau… kinh doanh “tâm linh”, buôn thần bán thánh!

Một câu hỏi: Tại sao không thấy tình trạng buôn bán nhảm nhí như thế ở những ngôi chùa thuộc các tổ chức “phi quốc doanh” như “tàn dư” của Giáo hội Phật giáo VN thống nhất (miền Nam cũ) hay giáo phái Làng Mai (Bát Nhã, Lâm Đồng). Tại sao có sự trùng hợp: trong khi những ngôi chùa này đều bị nhà nước quyết triệt bỏ, thì những ngôi chùa buôn thần bán thánh linh đình đều được sự ưu ái của các quan chức cao cấp (như những gốc cây kỷ niệm, những bức hình chụp đã thừa sức tố cáo) và cũng “tiên phong” trong việc biến các lãnh tụ chính trị thành “Phật” để thờ cúng trong chùa?

Hỏi là đã trả lời.

Cái “u” thuở nọ nay đã thành “ung thư”: sự gắn kết giữa một hệ thống Phật giáo với chính quyền vì mục đích chính trị nay đã “chuyển hoá” thành sự lợi dụng của bọn “đậu phụ nhà” kết cấu với bọn tham quan và gian thương biến chùa chiền thành nơi ô uế, phá hoại Phật giáo, chỗ dựa tinh thần cuối cùng của dân tộc.

Tội ác này, bệnh ung thư này phải trị tận gốc: Trả lại Phật giáo cho các Phật tử chân chính. Chấm dứt việc chính trị hoá tôn giáo, chính quyền-công an thọc tay vào Giáo hội. Tôn trọng thực sự quyền tự do tôn giáo bằng cách tôn trọng các tổ chức tôn giáo độc lập!

https://baotiengdan.com/2019/03/24/mat-phap-phat-giao-viet-nam-cai-say-nay-cai-ung/