Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

NHÀ THƠ " SAY " VŨ HOÀNG CHƯƠNG CUỘC ĐỜI TÙ ĐÀY & CÁI CHẾT


( Ông rời cõi tạm ngày 6 tháng 9 năm 1976)

Bài viết thay Một nén hương tưởng tiếc người thi sĩ tài hoa..
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa…
Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5 tháng 5 năm 1916 tại Nam Định. Chinh quán của ông ở làng Phù Ủng tỉnh Hưng Yên. Thủa nhỏ ông theo hoc Albert Sarrault ở Hà Nội, đỗ tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào trường Luật nhưng chỉ được một năm thì lại bỏ đi làm Phó kiểm soát sở hoả xa Đông Dương. Năm 1941 ông bỏ sở hoả xa đi học toán tại Hà Nội, rồi bỏ dở để đi dậy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng viết thơ, viết kịch. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Sài Gòn, tiếp tục sáng tác không ngừng...
Nhà văn Song-Thao ( là một cựu học sinh Chu-văn-An) mô tả Ông trong tập truyện “Chốn cũ”:
"“Thầy đi quanh lớp bằng những bước chân nhẹ nhàng, đầu nghểnh cao, mắt xa vắng, giảng bài bằng cái giọng nhừa nhựa thanh thanh. Có những lúc mắt thầy như nhắm hẳn lại, đầu lắc lắc từng chặp. Những lúc đó thầy như thoát hồn bay về một trời thơ nào đó. Thầy say thơ. Thầy ngâm thơ như một người đồng thiếp. Như không còn thầy. Như không có trò. Như không phải là một lớp học. Chỉ có một cõi thơ lồng lộng bát ngát. Chúng tôi cũng thấm thơ. Vô cùng nồng nàn là những dòng thơ đất Việt. Chỉ có tiếng chuông báo hết giờ học mới có thể kéo thầy trò ra khỏi cơn mê văn chương…”
Làm thơ đã hay, dạy học thì say mê như thế, Vũ-hoàng-Chương không hề làm chính trị. Hồi toàn quốc kháng chiến  năm 1946, Ông cũng chỉ  tản cư khỏi thành phố một thời gian rồi  lại hồi cư, chứ không ra bưng. Từ năm 1954 khi di cư vào Saigon, Ông cũng không tham gia một đảng phái nào. Thế nhưng cuộc đổi đời ” tháng tư đen” đã đưa Ông vào tù  và chỉ được tha về khi kiệt lực gần chết.
Năm 1975 Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam .
Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Sau đó có vài lần Vũ Hoàng Chương được mời hội họp với các văn nghệ sỹ nổi tiếng từ miền Bắc vào và một số văn nghệ sỹ nằm vùng.Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.
“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian,thời gian, chân lý cuộc sống.”
Sau vài lần gặp gỡ không thuyết phục được ông như Cách mạng mong muốn, có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và  Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.
Vũ-hoàng-Chương bị bắt vào khám Chí hòa, giam chung cùng một số nhà trí thức khác. Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm thiếu thuốc phiện thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bẹp trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976.

☆ Bài sưu tầm
( FB Nguyễn Thị Ca Dao )

Ảnh nhà thơ Vũ hoàng Chương.

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018

NGÀY CŨ. @11

Người Mỹ đến dạo chơi đất Đông Dương khá sớm. Tổng trấn thành Gia Định Lê văn Duyệt từ năm 1819 đã có dịp gặp gỡ làm quen với vài người Mỹ làm nghề thương mại hàng hải ghé ngang Sài Gòn. Việt đãi tiệc Mỹ, rủ Mỹ xem xiếc chung rất vui vẻ, nhưng lúc nào cũng có mặt vài thông dịch viên. Rồi tới lúc cần hàn huyên tâm sự kín đáo giữa người Mỹ và quan tổng trấn, thì họ đóng cửa phòng lại chia động từ “tu-quơ”.

Người Mỹ nhận xét về Lê văn Duyệt: Ông Duyệt tuy già nhưng còn khỏe mạnh sáng suốt, tóc không bạc trắng, mắt tinh anh không cần đeo kính cận. Hiểu biết mọi việc và rất cương quyết. Tiếc rằng ông Duyệt xứng đáng làm vua nhưng không được làm vua mà chỉ làm tới chức quan tổng trấn.

Mấy người Mỹ đó không biết rằng vào thế kỷ 19 người Việt Nam chưa biết đeo kính. Những nhà buôn Mỹ, các nhà hàng hải người Mỹ suốt thời Pháp thuộc cũng đôi lần ghé Việt Nam trên đường đi buôn bán. Lúc đó người Pháp đón tiếp người Mỹ chớ ít khi nào cho người Việt chen chân vào. Mà có chen chân vào thì chắc cũng chỉ biết chia động từ “tu-quơ” thôi.

Phe Việt Minh tiếp xúc với tình báo quân đội Mỹ tại biên giới Việt Trung vào cuối thế chiến thứ hai. Ông Hồ Chí Minh vào năm 1945 có gởi thơ cho tổng thống Mỹ đặt vấn đề xin giao hảo nhưng không được phía Mỹ trả lời. Lúc đó chắc viên tổng thống người Mỹ chưa hình dung ra được nước Việt Nam, chắc ông ta chỉ biết xứ Đông Dương thuộc Pháp mà thôi.

Và nếu ngày đó tổng thống Mỹ có viết thư trả lời ông Hồ Chí Minh thì cũng không chắc chắn rằng nước ta đã tránh được ba mươi năm chiến tranh 1945- 1975 như nhiều người sau này tiếc nuối: Phải chi hồi đó tụi Mỹ chịu chơi với mình thì mình đã đi theo đường lối chính trị tư sản của Mỹ rồi, làm gì có chuyện Quốc Cộng đánh nhau.

Họ quên mất vấn đề “ý thức hệ” đang là xu hướng thời thượng cho các phong trào giành độc lập tại các thuộc địa. Chuyện quan trọng là phía Cộng sản luôn muốn một mình làm chủ chính quyền từ Bắc chí Nam theo chế độ chuyên chính độc đảng, còn phía Quốc gia thì muốn giữ lại ít nhất là miền Nam theo thể chế Quốc gia Cộng hòa đa đảng, rồi sau đó cũng tìm cách thống nhất Bắc Nam áp dụng chế độ đa đảng kiểu tư sản.

Thời đó, với tham vọng “ý thức hệ” ai cũng muốn được làm chủ chính quyền từ Bắc chí Nam, phe Quốc gia hay phe Cộng sản cũng vậy, chính quyền Sài Gòn hay chính quyền Hà Nội cũng vậy. Cuộc chiến tranh 1954- 1975 có mục đích là để một bên nào đó có thể thắng và rồi thống nhất đất nước. Trong thâm tâm ông Bảo Đại, ông Ngô Đình Diệm hay ông Hồ Chí Minh không có việc chấp nhận chia cắt lâu dài Nam Bắc, hay chẳng có ai chịu để mất Nam Bộ. Họ chỉ chấp nhận tạm thời thực trạng đấu tranh nội bộ hay phân rẽ lãnh thổ do bị phía bên ngoài ép buộc mà thôi. Kẻ bên ngoài sẽ có lợi nhất và giữ được sĩ diện nhất khi Việt Nam rơi vào tình trạng Bắc Nam phân rẽ từ năm 1954 chính là chính quyền Trung Quốc của Mao Trạch Đông.

Cuối cùng, chiến tranh Quốc Cộng chấm dứt năm 1975 và Mỹ đã rời bỏ Việt Nam 43 năm rồi. Mấy chục năm qua số lượng Việt Kiều ở Mỹ, ở Úc, ở Tây Âu tăng nhanh do vượt biên, do việc bảo lãnh viên chức và sĩ quan chế độ cũ, do chính sách đoàn tụ gia đình… và nếu quan sát cho kỹ, số lượng Việt Kiều tự lo giấy tờ xuất cảnh xuất phát từ các vùng có ảnh hưởng của Cộng sản trong ba mươi năm chiến tranh trước đây đã tăng đột biến. Nhất là trong vòng mười mấy năm trở lại đây, Việt Kiều gốc Cộng tăng nhanh ở Mỹ ở Canada cùng với số người Hoa lục địa di dân.

Người ta tự hỏi: Vậy chiến tranh gây chết chóc thương tật cho quá nhiều người để làm gì? Để rồi sau này có quá nhiều người vùng ngoài cùng con cháu họ lại tìm mọi cách sang Mỹ, hay là họ muốn giải phóng luôn nước Mỹ? 

Ông Nguyễn Cao Kỳ, người nhiều lần trong thập kỷ 1960 đòi “Bắc tiến” vài năm trước khi chết có nói bộc trực: Chiến tranh hai mươi năm để mà làm gì? Là để một bên nào đó, dù Quốc gia hay Cộng sản, có thể thắng và thống nhất đất nước. Bây giờ đừng nói tới ý thức hệ nữa, ở Việt nam bây giờ có còn gì là ý thức hệ đâu? Tôi cũng đã từng muốn chiến thắng miền Bắc để thống nhất đất nước nhưng đã không làm được. Nếu mấy người ngoài Bắc đã làm được chuyện đó thì mình trong miền Nam phải chấp nhận là mình đã thua, sao còn mãi cay cú hận thù? Và khi đã thống nhất được là chấm hết chiến tranh, không nên tranh cãi chia rẽ thù hận làm gì nữa. Chẳng có chuyện ai mất nước ở đây, dù ai đã thắng thì người đó cũng là người Việt Nam cả.

Từ xưa tới giờ tôi ít khi coi trọng tư cách cá nhân của ông Kỳ, bởi đối với nhiều học sinh trong Nam ông Kỳ thuộc loại cao bồi bổ bả ruột ngựa, rất kém kiềm chế trong lời nói và hành động, lại ưa làm điệu làm dáng trước đàn bà đẹp ngay cả trong những lúc tình hình của Sài Gòn vô cùng bi thảm. Nói chung ông ta hay bỏ mặc dư luận, thích gì làm nấy, chẳng cần biết người ta ghét hay thương.

Ông Kỳ cũng chẳng giỏi làm chính trị, vì nếu ông Kỳ giỏi thì đã không bị ông Nguyễn văn Thiệu hất cẳng cho ngồi chơi xơi nước suốt tám năm 1967- 1975. Những ngày cuối cùng của Sài Gòn ông Kỳ lái trực thăng bay vòng vòng, có lúc đáp xuống sân nhà thờ tụ họp giáo dân Công giáo lại rồi tuyên bố chắc như bắp: Tất cả sẽ được cấp phát vũ khí chống Cộng sản xâm lược, tôi sẽ sát cánh bên anh em tử thủ Sài Gòn như bên Nga có mấy trăm ngày đêm tử thủ Stalingrad.

Cuối cùng, những người tin lời ông Kỳ qua hôm sau chẳng còn thấy mặt ông Kỳ đâu cả. Ông Kỳ đã làm lỡ làng chuyện sắp xếp di tản qua đất Mỹ của nhiều gia đình người Sài Gòn đã lỡ tin lời phát biểu tử thủ của ông. 

Chuyện về nước liên tục của ông Kỳ từ năm 2004 để làm kinh tế riêng cũng làm nhiều người Sài Gòn cũ đang sống ở nước ngoài cảm thấy hết sức khó chịu. Họ càng khó chịu hơn khi thấy ông Kỳ tay bắt mặt mừng cười hể hả với các quan chức Cộng sản.

Thế nhưng phát biểu của ông Kỳ về kết thúc cuộc chiến tranh hai mươi năm tương tàn giữa những người Việt Nam như đã viết ở trên theo tôi là khá thực tế theo hướng “lương tâm lịch sử”. Mỗi khi muốn nhào vào đánh nhau, phải biết rõ khi tàn cuộc chiến cuối cùng bên yếu kém chắc chắn phải chịu thua. Mà giữa người Việt với người Việt thì cũng không nên giữ mãi tâm lý thua cay cú hay thắng huênh hoang mãi. Người Việt nào đã trải qua chiến tranh phải hiểu rõ tình cảnh của những nước nhỏ, chiến tranh hay hòa bình là do những ông lớn bên ngoài quyết định chớ chúng ta không có kí lô nào hết. Trên bàn cờ, chúng ta chỉ là những con “chốt” mà thôi.

Lúc nào đó khi ta đã trưởng thành hay đã già, khi nghĩ lại phải biết xấu hổ vì cứ mãi buồn rên than khóc căm hận hay vui vẻ ca hát lãng nhách suốt ngày… như mấy chục năm qua ta cứ diễn trò khỉ mãi. Trong lúc những chuyện rất cần làm thì lại chẳng ai chịu làm.

Tiếc cho ông Kỳ hay những người đồng ý với phát biểu của ông Kỳ là như vậy đó.   

Từ năm 1954, người Mỹ không ủng hộ quốc trưởng Bảo Đại (vì họ nghĩ ông Bảo Đại là người của Pháp) nhưng người Mỹ ủng hộ chính phủ của ông thủ tướng Ngô Đình Diệm. Sau khi ông Bảo Đại bị phế truất, họ viện trợ kinh tế quân sự trực tiếp và dồi dào cho chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của ông Ngô Đình Diệm.

Nhưng cũng chính người Mỹ kích động ủng hộ Phật giáo tranh đấu và quân đội nổi dậy làm đảo chính lật đổ và giết chết ông Diệm vào cuối năm 1963. Suốt các năm 1965- 1971 quân đội Mỹ đóng vai chủ động trên chiến trường, họ chiến đấu trực diện với Việt Cộng trong các trận đánh lớn tại miền Nam và dùng không quân ném bom miền Bắc lúc nhiều lúc ít. Quân đội Sài Gòn đóng vai trò dự bị, thường chiến đấu trên các chiến trường nhỏ lẻ, chủ yếu lo trị an đối phó với bộ đội Cộng sản địa phương mà thôi. Chuyện lớn đã có người Mỹ lo.

Từ năm 1969 trở đi, người Mỹ muốn chuyển giao dần dần vai trò chiến đấu trực tiếp cho quân đội Sài Gòn, họ chỉ còn muốn yểm trợ quân đội Sài Gòn bằng phi pháo mà thôi. Đầu năm 1973 Mỹ chính thức không tham chiến trực tiếp tại miền Nam và cũng hết ném bom miền Bắc, họ rút quân về hết và cũng thôi không yểm trợ phi pháo cho Sài Gòn tuân thủ đúng theo các qui định của Hiệp định Paris 1973.

Họ giảm dần viện trợ kinh tế lẫn quân sự và tới tháng tư năm 1975 hoàn toàn rút chân ra khỏi Việt Nam cũng như Lào và Campuchia.

Mỹ lúc trước rất hăng hái bước vào đất Việt Nam mà rồi cũng nhanh chóng khăng khăng quyết định cởi áo ra đi cho sớm. Bốn mươi ba năm qua họ vẫn chưa thèm trở lại đất này, chỉ có chúng ta đang bay vòng vòng qua bên đó tìm kiếm họ mà thôi.

Tiền và tài sản, viện trợ kinh tế và quân sự, vật lực và nhất là nhân lực… của người Mỹ đã đổ vào miền Nam suốt hai mươi năm 1954- 1975 rất lớn và rất nhiều, đôi lúc không thể đếm, không thể đo lường xuể được.

Sự thất bại của người Mỹ tại miền Nam Việt Nam cuối cùng được lý giải không phải là do Mỹ và chính quyền miền Nam thiếu “ý thức hệ” hay do thiếu “chính nghĩa”. Vì chỉ vỏn vẹn mười lăm năm sau hòa bình, vào năm 1990 thì thành trì “ý thức hệ” vững chắc cũng chẳng còn gì nữa khi các nước Đông Âu và Liên Xô hoàn toàn tan rã. Họ đã nhanh chóng từ bỏ “ý thức hệ” mà chắc đã bỏ từ lâu rồi, còn ta cứ tưởng họ còn.

Sau này đọc báo chí kinh tế của Mỹ, tôi tạm đoán: Chắc Mỹ bỏ đi là do họ đã không thể kiểm soát được, không quản lý được, không thể ngờ được chuyện mất mát và mất cắp quá thường xuyên và quá lớn… khi đổ vào miền Nam Việt Nam một số lượng khổng lồ tiền và của cải cùng với nửa triệu binh sĩ viễn chinh. 

Mười mấy năm trước, vài hôm trước khi chết vì bệnh ở Canada, ông thầy dạy sử của tôi thời trung học có viết vài câu bâng quơ trên internet, mà rồi làm tôi nhớ mãi cho đến hôm nay: Trong trái tim của mỗi con người sống trong một nước nhược tiểu chậm tiến như nước Việt Nam luôn luôn có một thằng ăn cắp. Mà miền Nam ngày đó dân số có tới mười mấy triệu người. Mỹ có tiền rừng bạc biển thì cũng không đủ đem qua đây để cho quá nhiều người không lo chiến đấu mà tối ngày chỉ lo… Nửa triệu lính Mỹ thì có thấm thía gì so với mười mấy triệu người nhược tiểu Việt Nam.

Người xứ mình từ Bắc chí Nam, thời bây giờ bỏ đi ra nước ngoài sinh sống kiếm cơm nhiều lắm. Không giết người, không đánh bom khủng bố, cũng không đóng góp sáng tạo ra được con mẹ gì hết cho xứ sở người ta… mà chỉ nổi tiếng do lâu lâu bị cảnh sát nước ngoài bắt giữ vì tật hay ăn cắp vặt. Bọn cảnh sát nước ngoài cũng ác, mỗi lần có chuyện lại cho đăng báo lên đài ầm ầm cho thiên hạ biết. Khi mới bước ra ngoài mà cầm cái hộ chiếu Việt Nam thì đã bị hải quan sân bay của họ soi rồi.

Tật bệnh đó không mới, ngày xưa người Mỹ đùng đùng kéo hàng đoàn người vào rồi mấy năm sau lật đật cuốn gói bỏ đi cho lẹ, chắc chỉ vì họ chịu không nổi sự mất mát quá lớn do nạn ăn cắp và nạn tham nhũng ở Sài Gòn.

Và tật bệnh đó cũng chưa hề cũ… Hiện nay tại Việt Nam, nếu chúng ta ra sức lao động kiếm được mười đồng hay đầu tư vào một công trình nào đó mười đồng, thì lập tức ngay lúc ban đầu chúng ta đã bị hao hụt hết sáu hay bảy đồng, thậm chí mất trắng tới chín đồng. Chắc do mỗi người trong chúng ta luôn có một thằng gì đó ngọ nguậy ở sẵn trong tim.

MOMENTARY

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ AI?


Vũ Viết Tuân
« … »
Các nhân vật như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nhất Linh... Những ai có tấc lòng ôn cố tri tân đều hiểu rằng chúng ta đã để quá lâu những bụi mờ, những nhầm lẫn và thiên kiến che khuất họ.
« … »

Nguyễn Văn Vĩnh là một trong bốn trí thức Tây học lớn của nước ta đầu thế kỷ 20 gồm "Quỳnh - Vĩnh - Tố - Tốn" (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn).

Theo nhà sử học Chương Thâu, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, người đầu tiên dịch Truyện Kiều từ chữ quốc ngữ sang tiếng Pháp và người đầu tiên đưa Truyện Kiều lên màn hình chớp bóng những năm đầu thế kỷ 20.

ông Nguyễn Lân Bình - cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh - chia sẻ:
"Nguyễn Văn Vĩnh không nhận làm thượng thư, không nhận Bắc Đẩu Bội Tinh, không nhận Kim khánh của vua Khải Định. Thậm chí ông còn mỉa mai trên báo rằng: "Họ muốn tặng tôi Kim khánh, tôi cám ơn. Tôi xin lỗi để tôi giữ cái ngực của tôi cho nó được còn trinh". Một người như vậy mà bị quy kết theo giặc, phản dân thì có ai chấp nhận được không? Chế độ nhà Nguyễn, chế độ thuộc địa, những người theo chủ nghĩa vô sản đều rất ngại nói đến Nguyễn Văn Vĩnh...
« Tôi rất đắc chí vì ông nội tôi không cần danh, càng không cần lợi mà cần phúc".

Những đóng góp lớn của Nguyễn Văn Vĩnh cùng Phạm Quỳnh đều bị xóa khỏi các sách văn học nước ta suốt những thập kỷ 1950-1960 là không công bằng.

Nhà phê bình văn học Mai Anh Tuấn (Đại học Văn hóa) chia sẻ thêm: không chỉ nhiều sinh viên chưa biết đến Nguyễn Văn Vĩnh là ai mà còn rất nhiều người có chung câu hỏi này.

Giáo sư sử học Phan Huy Lê cũng đồng tình Tân Nam tử là một trong những nhà tư tưởng dân chủ khai sáng ở Việt Nam gắn liền với văn học, văn hóa, báo chí, chữ quốc ngữ...

Chưa vội tính đến những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trên lĩnh vực báo chí, dịch thuật, văn học cho nước nhà, chỉ cần thấy những nỗ lực truyền bá học chữ quốc ngữ và lấy thứ chữ này làm mục tiêu quan trọng trong việc canh tân đất nước, lý ra một người học xong tiểu học hôm nay cũng đã phải biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai.

Ấy vậy mà, vì nhiều lý do, tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh chưa được nhìn nhận, đánh giá, chưa được tôn vinh một cách xứng đáng. Dĩ nhiên, không cứ "biết" đã là "hiểu", là nhận chân được các giá trị mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại" - nhà phê bình Mai Anh Tuấn trăn trở.

Theo ông, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nỗi buồn chẳng của riêng ai này. Một phần bởi thời gian dài chúng ta thường xét một con người theo lý lịch, nhân thân. Những ai đã từng cộng tác với thực dân Pháp đều bị quy là "có vấn đề".

Nguyên nhân khác là do chúng ta chỉ đề cao truyền thống hoặc những anh hùng đánh giặc, anh hùng cầm súng chống ngoại xâm mà có khi xem nhẹ, hoặc chưa thể hiện sự tôn vinh đúng mực những "anh hùng văn hóa", những trí thức hiền tài.
Họ lựa chọn cách kiến tạo giá trị, thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng, dân tộc theo cái cách không thể đếm thành hai năm rõ mười. Vì thế, lịch sử thường chậm hơn trong việc hiểu họ.
...
Đoàn làm phim vào TP.HCM. Máy quay lia vào bảng tên đường Nguyễn Văn Vĩnh. Đạo diễn Trần Văn Thủy hỏi một, hai, ba người: Nguyễn Văn Vĩnh là ai mà được đặt tên phố này? Cả ba lắc đầu "không biết". Hỏi nữa thì nhận được câu trả lời: "Hình như... ông là liệt sĩ chống Pháp".
( FB Son Lyngoc )

VĂN CAO 1923-1995


Nguyễn Đình Toàn (Trích)

Chúng ta chưa có một cuộc trưng cầu ý kiến chính thức nào, nhưng qua các cuộc dọ hỏi: "Bài hát nào, theo ý bạn, có thể coi là hay nhất của nhạc Việt Nam từ trước đến nay?" thì, trong các câu trả lời, thế nào người ta cũng có nhắc tới Thiên Thai của Văn Cao.

Không phải mọi người đều đồng ý như thế.
Nhưng hình như cũng không ai phản đối.
Người ta chỉ do dự một chút giữa những bài được coi là hay nhất khi người này hay người khác đưa ra ý kiến. Song nếu không chọn Thiên Thai người ta cũng khó đưa ra một bài nào khác.

Trong cuốn biên khảo "Việt Nam xưa và nay", viết bằng Anh ngữ, xuất bản cách đây khoảng 40 năm, tác giả Thái Văn Kiểm đã cho in lại bản Thiên Thai. Hẳn ý ông cũng cho rằng, Thiên Thai là một ca khúc tiêu biểu cho nền tân nhạc Việt Nam, để giới thiệu với thế giới.

Các nhà phê bình cho rằng, Thiên Thai tuy được viết vào thời kỳ tân nhạc Việt Nam còn phôi thai, nhưng cho đến nay, hình như cũng chưa có một ca khúc nào khác vượt qua được, về cả hai phương diện giai điệu và lời ca.

Biến đổi tiết tấu và thang âm của ca khúc, hiện tại, nghe lại vẫn thấy mới. Cái thế giới thần thoại của cổ tích không phải chỉ được Văn Cao minh họa bằng những màu sắc tuyệt vời mà hình như ông còn tạo dựng bằng pha lê nữa. Mọi góc cạnh đều rắn, chắc. Màu sắc của nó còn có thể biến đổi tùy thuộc chủ quan của người thưởng ngoạn nữa.

Nhỏ bé hơn, nhưng Buồn Tàn Thu cũng đầy những nét sắc sảo của một bậc thầy. Nhiều thế hệ đã hát Buồn Tàn Thu nhưng trước và sau, không ai hát Buồn Tàn Thu hay hơn Thái Thanh.
Có lẽ tuổi của bà, những kỷ niệm về Hà Nội còn sót ở trong bà, những năm xa cách nhớ tiếc, độ dày của quá khứ làm nên độ dày của tiếng hát, mới có được tiếng hát như thế để hát Buồn Tàn Thu.

Coi Thiên Thai là ca khúc hay nhất của chúng ta, có thể là điều nhiều người chưa hoàn toàn đồng ý.

Nhưng nếu coi Văn Cao là một trong những tác giả lớn nhất của chúng ta thì chắc không ai phủ nhận.

Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài viết nhạc, làm thơ, ông còn là một họa sĩ nữa. Ở lãnh vực nào ông cũng tỏ ra là một tài năng khác thường. Vì đa tài nên cũng đa sự. Người ta được nghe nhiều chuyện về ông. Ông tham gia cách mạng, vào ban ám sát, nhập đảng rồi chống đảng. Chúng ta chẳng biết thực hư thế nào. Nếu ông chống đảng, tại sao người ta lại dùng một ca khúc của ông làm quốc ca như hiện nay?

Thế nhưng, nếu ai đã có dịp coi cuốn video về ông được thực hiện trước khi ông mất, sẽ thấy, ông chẳng có vẻ gì là người được sủng ái, sung sướng cả. Hãy nhìn ông ngồi trước chiếc đàn dương cầm, mái tóc bạc trùm vai, rối bù, cong người, ngả người, đổ bóng trên hàng phím. Văn Cao đàn bằng những ngón tay, bằng bàn tay, bằng cả khuỷu tay nữa. Nhìn ông như thế để hiểu ông. Dự đoán thôi. Và, đã gọi là dự đoán thì đến ngay đài khí tượng còn có khi nhầm huống hồ chúng ta.

"Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca
Trái đất còn riêng ta"
Bằng cái giọng ồ ề run vì rượu, Văn Cao đọc mấy lời ca ấy, chứ không hát những lời ca ấy, của ông. Người ta thấy một Văn Cao còm cõi, khô héo, uống rượu và đọc thơ như khóc.
"Anh Trương Chi!
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung
Anh thương nhớ
Oán trách cuộc từ ly não nùng"
Nhìn Văn Cao già cỗi dù mới qua tuổi 60 như vậy, nhiều người nghĩ rằng, nếu được gặp lại và hỏi Trương Chi một câu, có lẽ chỉ nên hỏi thế này: "Mỵ Nương đâu?"

Văn Cao viết hai loại nhạc: Tình Ca và Anh Hùng Ca. Những hành khúc hùng tráng của ông, đến nay vẫn là vô địch và cũng không ai viết được nhiều hơn ông: Không Quân Việt Nam, Chiến Sĩ Anh Hùng, Gò Đống Đa…

Phần tình ca của Văn Cao ít hơn, nhưng mỗi bài đều có thể xếp vào loại kiệt tác: Đàn Chim Việt, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu, Trương Chi, Cung Đàn Xưa…

Một trong những sáng tác hay nhất của Văn Cao là bài Trường Ca Sông Lô được viết trong thời kháng chiến chống Pháp. Sau đó, ông không viết được gì nữa. Người ta nói ông bị cấm viết. Để sống, ông phải viết nhạc cho phim ảnh, viết nhạc không lời và vẽ bìa sách, bìa báo, cho các nhà xuất bản.

Ông biết nhiều sự thật nhưng ông không nói ra. Những sự thật ấy Văn Cao đã mang theo xuống nấm mồ của mình.

Trường Ca Sông Lô có vẻ đẹp của một bức tranh hoành tráng. Thiên Thai đẹp cái đẹp tinh vi của điêu khắc. Và chỉ có Văn Cao mới viết nổi những lời ca tương xứng với thứ nhạc như thế.
Ông tự nhận là một người nhút nhát đối với phụ nữ. Một người nhút nhát đối với phụ nữ mà viết được những ca khúc như Bến Xuân, hay Suối Mơ quả là một điều kỳ lạ. Đó là phép lạ của tình yêu hay tài năng?

Ước gì chúng ta có thể yêu nhạc Văn Cao (và nhiều người khác nữa) mà không phải thắc mắc một chút gì khác ngoài nhạc của họ.

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Ở ĐÂU VUI

Có ở đâu vui như chốn này
Người, ngựa xe, ăn chơi tít cung mây
Đố em tìm được anh trong đó
Hay đã lạc vào.... trong tim ai

Có ở đâu vui như ở thiên đường
Hít mà không chết có nhà thương
Lãnh đạo đi thăm phong bì cứng
Mà ngẻo rồi đời vẫn cứ lên hương

Có ở đâu vui như ở miền tây
Trồng lục bình ta kiếm ít xu này
Ngày mai lại dẹp chơi tiền tỉ
Biệt phủ lầu cao vô tư xây

Có ở đâu vui như saigon
Xây hải đăng để...gìn giữ nước non
Nay mai các xếp lên lầu ngắm
Đậu ma ma tưởng mất...hoá ra còn

Có ở đâu vui như ở xứ tây Lào
Vé số trà đá giờ là thu nhập cao
Bao nhiêu bộ trưởng và đại biểu
Bỏ chức từ quan đâu có sao

Có ở đâu...nói nữa lại hết hồn
Bài thơ giờ đã chuyển sang vần ôn
Tổ cha mấy đứa tao lẹo lưởi
Hát nữa đâm ra mỏi cái.......
....

.....
Mồm

TRẦN PHONG VŨ
19/9/2018



Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

LAN MAN CHUYỆN BẮT GIAM ĐÀO TẤN BẰNG

Ngày trước, khi Vũ Nhôm chưa bị khởi tố, Thư có "trò chuyện" cùng Vũ Nhôm Phan qua messenger. Thật bất ngờ, đằng sau vẻ đẹp trai hào hoa, Vũ bộc lộ một con người cộc cằn và dung tục. (có chứng cứ)

Trên fb của mình, khi Thư đăng lại loạt bài viết của tác giả Lê Hồng Hà viết về ĐN:
- 3 kỳ "Chuyện chưa kể về chủ tịch ĐN Trần Văn Minh"
- 3 kỳ "Văn Hữu Chiến, cựu chủ tịch ĐN, một thời "oanh liệt" "
- 4 kỳ "Đào Tấn Bằng, kẻ du côn ngồi ghế Chánh VP Thành uỷ Đà Nẵng
- 3 kỳ "Sói "bạc" Trần Thanh Vân, trưởng Ban Nội chính thành uỷ ĐN".

Thì gần như ngay lập tức , trong hộp thư của fb mình, đủ các loại tin nhắn được gởi vào.

Động viên có, chửi mắng có, hăm doạ có..
Lũ "quan tham" có chung một đặc điểm, và "quan tham" ở Đà Nẵng cũng không ngoại lệ:

Đó là bất chấp pháp luật và đạo lý, là phản bội lại đồng đội, đồng chí và đồng bào đã cưu mang, đặt để niềm tin vào mình.

Đó là lối sống hưởng thụ trên mồ hôi, máu và nước mắt của bao nhiêu người đổ xuống trên quê hương đã đi qua bão đạn và nhọc nhằn.

Đó là cố tình phá vỡ những nguyên tắc cơ bản của "đạo làm quan", làm sai nguyên tắc và coi thường kỷ cương phép nước, để "kiếm ăn", chia chác những khoản tiền "béo bở".

Đó là biến quyền lực thành tiền, vơ vét, là bán tất những gì có thể, là đem thành quả lao động của cả xã hội về nhà mình. Biệt phủ xa hoa, xe hơi đắt tiền, con cái cho đi du học và định cư nước ngoài, những tài khoản bí mật với "số dư" không ai "đo đếm" nổi...

Vì thế, những ai muốn điều tra chúng, ai lên án chúng, ai viết về chúng, về gia đình chúng, thì chúng quyết "không đội trời chung".

Chuyện Đào Tấn Cường, anh trai Đào Tấn Bằng, đe doạ giết chủ tịch HĐT và phó chánh vp UBND TĐQ là một ví dụ.

Có một nhà báo "gây tiếng vang" ở ĐN, tưởng như mình đã lên hàng "số má", cũng can thiệp với Thư. Nhà báo này (xin được giấu tên) đã yêu cầu Thư gỡ những stt viết về Văn Hữu Chiến, vì "ông ấy tốt", "ông ấy không tham nhũng, không đáng bị chỉ trích"...

Thư đã trả lời "cơ quan điều tra đã khởi tố thì mọi việc đã rõ", Văn Hữu Chiến "không tham nhũng" ư ? Không tham nhũng thì tiền đâu mua nhà mặt tiền, đất vàng? Không tham nhũng tiền đâu "cung phụng" cho bồ nhí hàng chục tỷ?

Mà "nhà báo" này có quan hệ gì với Văn Hữu Chiến, và lấy cái quyền gì để áp đăt lên người khác nhỉ?

Đào Tấn Bằng khi mới về làm Bí thư quận uỷ Ngũ Hành Sơn, đã câu kết phe nhóm, "nâng" kẻ này, "diệt" người kia.

Ngày NBT  còn sống, đi đâu Bằng cũng reo rao mình là "đệ tử ruột" của anh Bá. Khi NBT  qua đời, Đào Tấn Bằng quay sang bắn tin mình là "anh vợ" Thủ tướng (!) (còn nữa)

Ảnh: Đào Tấn Bằng

Fb Nguyễn Hồng Thư ở Đà Nẳng

NGHỆ THUẬT CHÍNH TRỊ KỲ DỊ VÀ ẢO DIỆU CỦA DONALD TRUMP

Nghệ thuật chính trị của Donald Trump là một điều gây kinh ngạc cho nhiều người. Có thể nói ông là một nhà chính trị kỳ dị và ảo diệu. Những nhà quan sát chính trị truyền thống đều hầu như dự đoán sai về ông. Ông như là một nhà ảo thuật. Có nhiều lúc người ta dự đoán ông sẽ thất bại hoàn toàn với những bước đi “không giống ai”, với những hành động, những việc làm kỳ quặc, phi truyền thống phi nguyên tắc, chắc chắn ông sẽ nắm chắc phần thua, nhưng kỳ lạ thay, kết quả cuối cùng thường là rất tốt đẹp.

Thí dụ như vấn đề Triều Tiên. Ban đầu người ta thấy những bước đi của Trump chẳng có chút gì là của một nhà chính trị bản lĩnh, khôn ngoan, thậm chí còn có phần ngây ngô. Khởi đầu là những màn đấu khẩu như trẻ con rất không xứng đáng với vị thế của một tổng thống nước lớn, rồi sau đó là những hành động ngoại giao kỳ quặc bất nhất. Những tuyên bố thay đổi chóng mặt, hôm trước đe dọa hôm sau tâng bốc, hôm nay vui vẻ thân mật nhận lời đàm phán ngày mai hờn dỗi rút lời, hôm nay nói A ngày mai nói B... Những nhà quan sát chính trị lúc ấy hầu như đều kết luận ông mười phần thất bại cả mười trong ván cờ chính trị này. Nhưng ông đã làm được điều kỳ diệu mà nhiều đời tổng thống Mỹ chưa ai làm nổi là đàm phán với lãnh đạo Triều Tiên trong không khí vô cùng thân mật. Và sau đó tình hình Triều Tiên ngày càng ổn hơn. Cho đến nay thì chính ông Kim Jong Uh lại thiết tha gửi cho Trump đến 2 lá thư mong mỏi một cuộc gặp thượng đỉnh lần 2.

Cho nên những vấn đề mà Trump làm, những cách mà Trump nghĩ, nếu với một cách nhìn nhận đánh giá truyền thống thì khó mà cảm hết ông. Nhất là với những nhà chính trị bảo thủ như McCain hay nhà báo chỉ biết hùng hục đánh đấm như Bob Woodward thì càng không hiểu Trump.

Một điều gây ngạc nhiên khác cho các nhà quan sát chính trị là khả năng vượt qua sóng gió các cuộc khủng hoảng một cách phi thường mà hiếm có người thứ hai nào làm được như Trump. Bằng cách đắm mình trong niềm tin rằng mọi việc Trump làm đều đúng, Trump luôn tìm được lối ra cho trạng thái tinh thần, không bị cuốn vào cuộc khủng hoảng và bị đánh chìm bởi sự tuyệt vọng của chính mình.

Chúng ta nhớ lại hồi ông tranh cử, ngay trong những thời khắc khó khăn nhất mà người bên ngoài hầu như nghẹt thở, thì ông vẫn giữ được những sắc thái tỉnh táo lạ thường để mà chiến thắng. Ngay cả khi nhiều tinh hoa của Đảng Cộng Hòa gào lên yêu cầu ông rút lui, thì ông vẫn không thèm trả lời trả vốn mà lừng lững bước đi như một con tê giác oai hùng cho đến phút cuối cùng đăng quang khiến ai nấy sững sờ kinh ngạc. Ngay cả khi ông thắng phiếu bầu rồi có người trong Đảng Cộng Hòa vẫn còn ngái ngủ kêu gào tìm cách ngăn không cho ông làm tổng thống.

Trump kỳ dị và ảo diệu như thế đấy!

Là Trump, cũng có nghĩa là không bao giờ thừa nhận sai lầm. Có những việc ông làm, các nhà quan sát bảo là sai nhưng ông nói là đúng. Ví dụ việc ông sa thải giám đốc FBI James Comey. Với những người chống đối ông thì cho rằng ông đã dùng chiến thuật chuyển bại thành thắng để tự tâng bốc mình và công kích những người chê bai ông. Chẳng hạn như bình luận viên Josh Dawsey của Washington Post. Nhưng dù nói như vậy đi nữa nhưng họ cũng phải công nhận là cuối cùng ông lại thành công và đây cũng là một điểm mạnh kỳ lạ của con người Trump.

Từ ngày Trump ra ứng cử tổng thống Mỹ cho đến nay, chưa bao giờ sóng yên gió lặng với Trump. Điều mà người ta đòi hỏi ở một tổng thống Mỹ có lẽ là sự chỉn chu mực thước, nhưng đó là điều mà với Trump là quá xa xỉ. Là tổng thống, phải “ăn xem nồi ngồi xem hướng”, phải rào trước đón sau đủ điều nhưng với Trump thì quá khó. Trump sẵn sàng nói sẵn sàng dọa sẵn sàng ra lệnh nổ súng. Trump như một nghệ sĩ cháy lên hết mình trên chính trường vốn nghiêm ngặt như chốn giáo đường. Vì lẽ đó mà người Mỹ lo ngay ngáy về Trump và không ngừng gây khó khăn cho Trump, dù Trump đang là vị tổng thống của họ.

Thiên tài Trump có lẽ không dành cho những suy nghĩ mực thước và truyền thống, sự bảo thủ và cố chấp. Nhưng thiên tài Trump chắc chắn sẽ làm được những điều kỳ diệu mà một trong số đó là đánh tan tành âm mưu thôn tính toàn thế giới của tay chơi có hạng Tập Cận Bình.

*

# Tôi sẽ cập nhật và phân tích liên tục các vấn đề liên quan chính trường Mỹ hiện thời và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, vì vậy các bạn nhớ bấm nút theo dõi trên fb tôi để không bỏ sót thông tin nhé.

Fb Trần Đình Thu

****

LỆNH NỔ SÚNG GIỮA TÂM BÃO

Nghe cứ như một bộ phim hành động mọi người nhỉ! Nhưng thực tế là như vậy chứ không phải do tôi làm phim mà tôi đặt tựa theo kiểu như vậy.

Lệnh áp thuế 200 tỷ USD được ông Trump ban ra vào ngày 13, nhưng đến nay truyền thông mới được biết. Ngày 13 là lúc 2 cơn bão hoành hành ở nước Mỹ. Một cơn bão chính trị của phe “đảo chính” và một cơn bão của trời đất vô tình.

Như vậy là tôi đánh giá chưa hết về con người ông Trump. Hay nói cách khác là tôi chưa đủ tầm “đọc” ông. Vì tôi nghĩ sớm lắm cũng phải giữa tuần sau, khi mọi thứ đã tạm lắng xuống. Nhưng không, Trump mãnh liệt hơn nhiều. Trump đã hạ lệnh nổ súng ngay giữa lòng bão tố, bất chấp những gì bủa vây quanh ông.

Hàng trăm doanh nghiệp Mỹ kiến nghị những lời khẩn thiết lên Trump mong ông dừng lệnh. Nhưng ông khuyên họ hoặc là về Mỹ hoặc là đi nước khác. Với ông, không có Trung quốc ở trong mọi khái niệm hòa bình.

Vì Trung quốc đồng nghĩa với hiểm họa toàn cầu.

Bây giờ thì đạn đã lên nòng. Khi chúng ta biết tin tức về lệnh nổ súng thì ông Tập đã biết từ lâu qua mạng lưới tình báo của ông ta. Biết, nhưng không có cách chống đỡ. Đó là tình huống bi kịch trong chiến tranh.

Nhưng không điều gì thiếu tử tế tồn tại mãi trong vũ trụ này.

Câu này dành cho ông Tập.

Fb Trần Đình Thu
15/9/2018

****

Chiến tranh Mỹ - Trung:

CẦN NHỚ RẰNG MỸ LÀ NƯỚC DỘI BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG PHE PHÁT XÍT ĐỂ KẾT THÚC THẾ CHIẾN II

Cuối cùng thì gói 200 tỷ đã được kích hoạt, xóa tan mọi nghi ngờ cũng như lo âu về sự chùn tay của nước Mỹ, mở ra một thời kỳ khốc liệt trên bàn cờ trật tự thế giới, cho thấy một nước Mỹ chưa bao giờ chùn tay trong bất kỳ cuộc chiến nào.

Tám mươi năm trước, vào năm 1939, Thế chiến II nổ ra do sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít. Ban đầu Mỹ cố gắng tránh can dự vào cuộc chiến nhưng tình thế buộc Mỹ phải tuyên bố chiến tranh do sự quá quắt của phát xít Nhật. Khi Nhật tấn công tiêu diệt toàn bộ hạm đội Mỹ đóng tại Trân Châu Cảng một cách vô cớ, Mỹ phải tham chiến và sau đó để kết thúc một cuộc chiến tốn nhiều xương máu của nhân loại, Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản.

Gác qua yếu tố tang tóc, nhìn ở góc độ kết thúc chiến tranh, sự kiện ném bom nguyên tử cho thấy 2 vấn đề, một là Mỹ chỉ ra tay khi những thế lực ma quỷ đã trở nên quá quắt không thể chịu đựng thêm nữa, hai là khi Mỹ đã ra tay nghĩa là phải có dấu chấm hết đối với các thế lực ma quỷ đó.

Sau khi kết thúc thế chiến II, đáng tiếc là thế giới phải chia làm 2 phe, vì thế nhân loại phải chịu đựng thêm một cuộc chiến tranh nữa, gọi là Chiến tranh lạnh, kéo dài cho đến 1989, làm mất nhiều cơ hội phát triển cho nhiều nước. Sau 1989, Chiến tranh lạnh không còn nữa, những tưởng từ đây nhân loại vui hưởng thái bình nhưng thật đáng buồn, nhà cầm quyền Bắc Kinh dã tâm muốn gây lũng đoạn thế giới một lần nữa. Và nước Mỹ, sau một thời gian dài nín nhịn chờ sự cải tà quy chính của lãnh đạo Bắc Kinh không xong, buộc lòng phải phát động cuộc chiến tranh kinh tế.

Chiến tranh kinh tế không đổ máu nhưng có những khốc liệt đặc thù của nó. Đó là những đất nước bị tấn công trực diện sẽ chìm sâu vào hỗn loạn kinh tế dẫn đến suy thoái, nghèo nàn, lạc hậu. Với các nước có liên quan sẽ có những ảnh hưởng nhất định. Càng liên quan chặt chẽ thì càng ảnh hưởng nặng nề.

Và khi Mỹ đã phát động chiến tranh, nghĩa là không có vấn đề dừng lại để đàm phán. Những cuộc đàm phán chỉ là những thao tác làm màu trong cuộc chiến. Cuộc chiến tranh này chỉ kết thúc khi Trung quốc không còn gì nữa, tả tơi ra từng mảnh mà thôi.

Đó là điều đáng buồn cho nhân dân Trung quốc nhưng là điều mà nhân loại mong chờ.

Trở lại vấn đề kỹ thuật của cuộc chiến. Một thắc mắc là vì sao Mỹ chỉ áp thuế 10% trong năm 2018. Đó có phải là một sự nhượng bộ không? Xin thưa hoàn toàn không có vấn đề nhượng bộ mà đó là tính toán chiến lược của các chiến lược gia Mỹ. Là bởi vì, lượng hàng hóa Trung quốc hiện lưu hành trên thị trường Mỹ quá lớn, nên nếu đánh thuế 25% ngay lập tức, đồng nghĩa với việc chặn đứng ngay dòng hàng hóa này vào đất Mỹ, sẽ gây nên một sự thiếu hụt lớn hàng hóa cho người tiêu dùng Mỹ cũng như cho nền kinh tế Mỹ. Vì vậy giải pháp 10% là để hàng Trung quốc vẫn có thể nhập vào Mỹ trong thời gian vài tháng là thời gian đủ để hàng hóa thay thế từ các nước khác vào Mỹ.

Trong những ngày tới đây, mùi chiến tranh sẽ tỏa ra tang tóc ở đất nước ông Tập. Có cách nào để Trung quốc tránh cuộc chiến này không? Câu trả lời là có nhưng chắc có lẽ ông Tập không đời nào chấp nhận giải pháp quy hàng ấy.

***
18/9/2018