Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

LŨY BÁN BÍCH


    Năm 1999 người ta gắn bảng tên Lũy Bán Bích cho con đường dài hơn 4 kilômét chạy theo hướng bắc-nam ở quận Tân Phú. Cái tên ngồ ngộ này khiến "một bộ phận không nhỏ" bà con ta "tâm tư". 
    Lũy là gì? Là công trình bảo vệ một vị trí: thành lũy, chiến lũy, lũy tre làng... 
    Bán Bích là sao? Theo Hán tự: bán là nửa, người phương Nam kêu là "phân nửa", bích là bức tường. 
    Từ cuối TK18, vùng đất Sài Gòn sừng sững hiện lên một thành lũy đắp bằng đất, rất chi là hoành tá tràng. Mặt cắt của lũy có hình thang vuông, phía ngoài thẳng đứng, phía trong thoai thoải có bậc tam cấp lên xuống, trông như nửa bức tường, nên gọi thế. Tên chữ là Bán Bích Cổ Lũy hay Lũy Tân Hoa. Tuy thế, Trịnh Hoài Đức lại bẩu: Vì lũy uốn cong ôm lấy vùng đất hình bán nguyệt, giống như nửa viên ngọc bích, nên gọi thế. Chẳng biết ai đúng. Kệ! Chỉ biết là nay ứ còn tí tì ti vết tích nào. 
   TK18 có giai đoạn nước ta rộng bát bao la ngát, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Campuchia cơ đấy. Thế rồi quân Xiêm sang quấy phá. Ng.Cửu Đàm cầm quân uýnh đuổi chúng chạy một hơi về tận… Thái Lan. Sau khi cắt cử quan cai trị theo phương châm “dùng người Khmer trị người Khmer”, ông rút quân về củng cố vùng đất Gia Định. Năm 1772 được chúa Ng.Phúc Thuần OK, ông cho xây một chiến lũy dài 8.600 mét, xuất phát từ chùa Cây Mai bên bờ kênh Tàu Hủ (nay thuộc ph.16, q.11) băng qua đường Trường Chinh và sân bay Tân Sơn Nhất, vòng xuống Cầu Bông ở q.Bình Thạnh, tạo thành vòng cung ôm kín 3 mặt phía tây, tây bắc và bắc của Sài Gòn. Lũy Bán Bích đấy!
    Thành phố là gì? Là có thành và có phố. Thế mà cũng hỏi!
    Ai tạo ra Thành phố Sài Gòn? Ng.Cửu Đàm chứ ai! Từ khi vùng dân cư này được ông khép kín bằng 3 mặt sông Sài Gòn, Bến Nghé, Tàu Hủ và 1 mặt thành là cái lũy Bán Bích, tạo nên thể thống nhất về cả địa lý kinh tế, xã hội và bố phòng. Thế mới gọi là Thành phố.
    Ng.Cửu Đàm là ai? Ba đời họ Nguyễn Cửu nhà ông này đều có công gây dựng và bảo vệ vùng đất phương Nam. Này nhé: danh tướng, nhà doanh điền Ng.Cửu Vân (có tên đường ở q.Bình Thạnh) sinh ra Ng.Cửu Đàm (có tên đường ở q.Tân Phú) và Ng.Thị Khánh, tức Thị Nghè (có tên kênh, tên chợ, tên phường và thương hiệu thịt chó nức tiếng gần xa). Con của Ng.Cửu Đàm là nhà doanh điền nổi tiếng Ng.Cửu Phú (có đường ở q.Bình Tân).
    Để lấy đất đắp lũy Bán Bích, lại vừa tạo thêm giao thông đường thủy, Ng.Cửu Đàm cho đào 1 con kênh nối kênh Lò Gốm với kênh Tàu Hủ. Kênh này có tên Ruột Ngựa vì nó thẳng tưng như… ruột con ngựa, 2 bờ kênh nay là 2 đường Phú Định và Mễ Cốc ở q.8. 
    Sau khi đánh chiếm nơi này, Pháp phá lũy Bán Bích, nạo vét hào nước bao mặt ngoài lũy, thế là có kênh Vòng Thành (xem ảnh) và biến một đoạn lũy ở phía tây thành đường đi, gọi là Hương lộ 14, nay là đường Lũy Bán Bích. Kênh Vòng Thành nay cũng ứ còn dấu tích gì.
(Chuyện cũ viết lại)

Fb Hữu Thọ
Ps/ Khả năng là dã sử (viết lại có hư cấu thêm)

GIA ĐỊNH QUÁN VỚI BẠN BÈ TA


      Tặng các đồng môn HNC 

Ta ghé lại nơi quán chiều hội ngộ 
Rót tràn ly nghe thương nhớ đong đầy 
Bạn bè ta đã bao thằng xanh cỏ  
Đứa còn đây cũng tóc trắng lay  bay.

Thuở mới lớn hồn xanh như chiếc lá 
Tưởng đưa tay với tới được thiên đường 
Ngồi trong lớp mơ bao khung  trời lạ 
Vội xa người nên lỡ mấy yêu thương. 

Đời cứ vậy như dòng sông tuôn chảy 
Cuốn ta đi chưa biết bến bờ nào 
Ngoảnh mặt lại hơn nửa đời đứt gãy 
Nghiêng bên nào cũng cảm thấy chênh chao.

Con đường cũ nắng vẫn còn trong lắm 
Nhưng chạnh lòng những chiếc lá vàng rơi 
Sân trường vắng giữa mùa hoa phượng thắm 
Chẳng còn ai để nhủ một đôi lời. 

Chia tay nhé đồng môn ơi tạm biệt 
Nhắc đến nhau xin nhớ phút giây này 
Ta có được những tháng ngày  thân thiết 
Cứ an vui bước tiếp khoảng đường dài. 

LÊ HÀ THĂNG

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

Chuyện hôm qua như mới bắt đầu..."

"
Buổi tựu trường đâu tiên vào năm học mới , hắn oai phong với chiếc xe suzuki m12 mà hắn mới có đi đến trường.. Nhìn quanh cả khu để xe chỉ có vỏn vẹn 6 chiếc xe gắn máy, còn toàn là xe đạp .. Nổi bật hơn xe suzuki của hắn sơn màu vàng.
Hắn nhìn quanh một vòng xem có đứa bạn nào từ trường cũ chuyển về đây cùng hắn không, cuối cùng chẳng có ai.. Hắn xin chuyển về ban Văn Sinh ngữ ( khối c hồi xưa) mà bây giờ là khối B, khối A là Văn Sử Địa, khối C là Toán Vật lý , và khối D là Hóa sinh.... Ngày trước học trường cũ hắn học khối B là toán lý, hắn từng đứng đầu bảng trong lớp về môn vật lý , hắn lý giải rất tốt, hắn cũng giỏi về hình học không gian... Thế nhưng sau những biến cố gia đình và đất nước thay đổi chỉ vài tháng thôi , hắn đã chuyển hướng học khối B...
Trong năm học ấy hình như hắn quậy nhiều học chữ thì ít, và quen với những thằng bạn từ các trường khác chuyển về , chứ không nguyên thủy là hs của trường HNC trước. Vì đa phần học sinh cũ của HNC học giỏi đại đa số là ở khối C ( Toán lý) hoặc khối D( Hóa sinh). Còn lại là những hs ở trường khác chuyển về mới vô A B vì khối A cũng ít hs và khối B cũng ít nên trường chỉ có 1 lớp AB. Lên 12 cũng vậy. ..
Vậy đó mà hắn học sao bê bối quá bị thi lại, vì đi học nghỉ nhiều không đủ tiết học nên bị thi lại...
Hắn thi lại và năm 11 vẫn bị ở lại lớp..học lại một lần lớp 11 nữa ... Hắn tức quá xin chuyển lại về khối C ( toán lý) lúc ấy hắn mới cố gắng học nghiêm chỉnh cho dù học tài thi lý lịch ,mãi cố gắng mới thi được vào bách khoa....thật khổ cực cho hắn.
Từ khi vào học 11 , gia đình hắn được đánh giá là giai cấp tư sản mới , có nghĩa là mới có tài sản thôi chứ không phải tư sản cũ là thành phần địa chủ, nhưng cũng là những đối tượng phải đi kinh tế mới để biết thế nào : lao đông là vinh quang... Hắn sợ chứ , mẹ hắn cũng sợ lắm,  vì hắn sinh ra ở sài gòn nên chưa hề biết gì về xa thành phố này ,mẹ hắn chỉ có mình hắn thôi mà... Còn cha hắn giờ đã bay xa rồi. Gia đình hắn chỉ còn mẹ , bà vú , hắn và một chị họ con ông bác , sống đùm bọc lẫn nhau. Lúc ấy gia đình bác 2 anh của mẹ hắn cũng ở gần đó nhưng ai cũng sợ bị đi KTM vì bác của hắn còn 7 người con lận, nên mạnh gia đình nào lo gđ đó thôi.. 
Mẹ hắn vội dẹp quán hàng cafê xoay sang bán trái cây tươi ,Thơm dứa mua từ vựa cầu ông lãnh về bán... Còn hắn sau giờ học, cũng tập tành sửa xe gắn máy và vá xe trước cửa nhà cho phù hợp với đời sống lao động.
Học xong lớp 11 là nghỉ hè vào thời điểm nghỉ hè , học sinh phải về địa phương đăng ký sinh hoạt hè... Sinh hoạt hè thời ấy chỉ là đi đào kinh Lê Minh Xuân... Đó là một kỷ niệm thời hs thế nào mới biết lao động đó
Tập hợp khu hắn ở được khoảng hơn 40 học sinh vừa xong lớp 11, từ đó hắn mới để ý đến các bạn bè hàng xóm hay gần nhà hắn ở... Bên cạnh nhà hắn có cô bạn tên Quỳnh Hương , dễ thương dáng người tròn trịa tóc dài hết lưng , học Trưng Vương...còn trong đội hắn còn có bạn Mai Trâm là một trong những hoa khôi của Trưng Vương...
Chẳng biết hắn có tài gì nhưng cô bạn Mai Trâm rất quí hắn , trong đội lại có cô bạn Thúy Châu cũng con nhà Nobles học M.C. Cô nàng này đánh piano rất truyền cảm. Hắn cũng có biệt tài chơi guitar classic khá hay và thổi harmonica truyền cảm.. Mà vốn dĩ hắn là trưởng ban văn nghệ lớp , bây giờ về khu phố vẫn được chỉ định làm trưởng ban văn nghệ nữa.. Thật mệt mỏi cho hắn , hắn không thuộc nhạc mới không biết đệm đàn nhưng vẫn phải làm....
Những lần đi lao động đào kênh Lê Minh Xuân , bạn Mai Trâm luôn luôn đồng hành với hắn như một cặp đôi , khiến bạn bè trong đội cứ tưởng hắn có tình đầu rồi ...nhưng thực sự Trâm và hắn chỉ là bạn thôi , hắn lại mê cô láng giềng Quỳnh Hương.... Nhưng hắn cũng thỉnh thoảng lấy cớ văn nghệ đến nhà cô nàng Thúy Châu để nghe đàn piano... 
Nội những ngày hè ngoài những thời gian phải đi lao động ngoài trời là hội diễn văn nghệ mới mỗi tuần ,hắn chạy lung tung đến những người bạn trong khu vực biết chơi đàn và tập dượt nhạc... Vậy mà hắn cũng kham nổi. Hầu hết các bạn hoa khôi trong đội đều yêu quí hắn khiến mấy thằng bạn cùng trang lứa cùng cấp lớp không ưa... Trong đó có tay H M Đức ( bây giờ làm đài truyền hình)là bạn chí tình với hắn mà cũng đổ ghen hắn vì tên này thích bạn Mai Trâm. Đối với hắn , hồi đó cù lần lắm chẳng biết tình yêu là gì cả... Rõ ràng nam nữ ở bên nhau rất thân làm sao là bạn bình thường được , như vậy đó...

Những ngày hè lại đến với tuổi mới lớn.. Hắn luôn ôm cây đàn guitar ngồi dựa gốc cây xoài trong vườn nhà hắn hát vọng lên...cho cô nàng bên cạnh nhà nghe. Vì hai nhà chỉ cách nhau một bức tường cao 2m là trong sân vườn nhà hắn chỉ cần một cái ghế đẩu là đưa nguyên cái đầu lên nhìn qua lối đi vào của nhà bên cạnh rồi,hoặc ngược lại nhà bên cạnh chỉ cần 1 cái ghế đứng lên là ló cả khuôn mặt nhìn vô sân nhà hắn. Hắn và cô láng giềng vẫn thường đứng với nhau hàng giờ vào buổi tối, nói chuyện bâng quơ của tuổi mới lớn... Hắn bắt đầu cảm động và để ý đến cô bạn láng giềng từ khi sinh nhật hắn , có mời Quỳnh Hương đến tham dự. 
Từ đó cứ tan học về hắn chạy từ chợ Bà Chiểu lên đến cổng Thảo cầm viên để chờ đón cô nàng Trưng Vương... 
Cũng có vài lần hắn bị bọn hs Võ Trường Toản hỏi thăm nhưng vì hắn đứng ở cửa TCV nên không bị ăn đòn.. Có lẽ nếu đi vào sâu hơn nữa thì mệt đó , cứ thế tháng ngày lẽo đẽo theo sau cô nàng TV hàng xóm đi theo về đến nhà mà không nói gì , không gợi ý gì, thỉnh thoảng hắn lại gặp cô bạn Mai Trâm gần nhà thế là cả ba, bốn đứa cùng về lúc ấy hắn mới dám mời ăn chè ....
Cô bạn M Trâm là con một nhà văn tên Sĩ Trung viết tiểu thuyết thời bấy giờ ... Ông bà sanh ra những đứa con gái tuyệt đẹp, và chỉ có 1 cậu con trai.. Hắn chơi thân với Trâm , đi đâu cô nàng cũng đi với hắn , thậm chí cô nàng hẹn hò với bạn trai , hắn cũng đưa đi rồi đến giờ về hắn đón... Nên cha mẹ Trâm lúc nào cũng tưởng đi với hắn.. Mẹ của Trâm cũng là bạn mẹ hắn , hai người cùng tuổi nên rất hợp. Nên bất kể chuyến phiêu lưu li kỳ nào của M Trâm đều có hắn đỡ cho nàng không bị cha mẹ bực bội la rầy.
Hắn và Trâm hay đi chơi bên nhau , tình như những kẻ đang yêu...nhưng thực tế cả hai đứa khi bên nhau chỉ nói chuyện về người thứ ba của hắn hay của Trâm... Nhiều khi Trâm ôm hắn như một người yêu , hắn vẫn vô tình như một bạn trai với một bạn trai vậy...Cả hai đứa đều thích đi chơi xa , những ngày nắng đẹp hắn chở Trâm đi chơi xa vài chục cây số ra ngoại ô cắm trại , chơi bên nhau ngoài trời rất thú vị...
Cho đến một ngày kia hắn dẫn một thằng bạn qua nhà Quỳnh Hương chơi... Cô nàng đã rung động trước thằng bạn hắn.. Anh chàng tên Sơn ,học Lê Quí Đôn , tên sao người vậy cao 1,75cm đẹp trai như tài tử hk vậy.... Rồi một tối nọ, hắn bình thường qua nhà cô láng giềng tán dóc , hắn tự nhiên mở cửa đi vào lối vào nhà cô nàng đi song song qua sân nhà hắn... Bỗng dưng trong bóng tối hắn nhìn thấy hai người ôm nhau , đang hôn nhau...hắn giật mình choáng váng và nhẹ nhàng quay ra cửa...
Hắn quá sốc về nhà..hắn mở một chai rượu ruhm ông già , hắn nốc một hơi gần nửa chai rượu..từ đó hắn biết say và đắng cay là gì...hắn đã bị ngu.
Hôm sau là ngày chủ nhật , còn say men ngất ngây chưa tỉnh giấc , hắn đã nghe tiếng M Trâm gọi ở cửa , bà vú mở cửa cho nàng vào...cô nàng hỏi chuyện , hắn kể cho Trâm nghe, rồi hắn ôm Trâm khóc òa như một đứa trẻ con , đây lại một lần ngu nữa của hắn.. Có lẽ sau này lớn hơn hắn mới hiểu.
Sau lần say ấy , hắn không buồn gặp Q Hương nữa , còn MTrâm cũng ít qua chơi, nhưng vẫn thân tình... Rồi lại đến một ngày một thằng bạn học HNC đến chơi , hắn rủ MTrâm đi cùng , vì M Trâm đẹp lắm thằng bạn hắn say đắm thích cô nàng... Và bạn hắn thường đến nhà nàng tỏ bày tâm sự.. Nhưng cô nàng trả lời là đã có người trong mộng rồi nên từ chối. Rồi M Trâm lại kể cho hắn nghe... Hắn im lặng hình như chẳng quan trọng gì hay lay động gì trong hắn , phải chăng hắn lại ngu thêm lần nữa không ...Hắn ngồi bên nàng hát đàn nghêu ngao.. đùa giỡn rất hồn nhiên, ôm nàng như hai đứa trẻ lên 5 vậy...
Rồi cứ thế trôi đi hai tâm hồn hắn và Trâm luôn là hai đứa bé chơi đùa học hành quấn quít bên nhau ,đói bụng mà đạp xe chở Trâm từ nhà ra đến Bến Bạch Đằng, đi ngang mua bánh mì Ba lẹ ra cầu tầu ngồi ăn nhìn xuống sông Bạch Đằng, lúc đó sao hắn khỏe quá , chở nàng bằng xe đạp mà chạy như bay...
Cho đến một ngày gần hè cuối lớp 12 , bạn Trâm đã nói với hắn lời từ biệt " Trâm theo gđ đi sang Pháp định cư", vì mẹ Trâm có lai Pháp, đến đời Trâm cũng còn thoang thoảng nét Tây.. mới đầu hắn chưa tin nhưng sau đó hắn ôm nàng như mình sắp mất một điều quan trọng ..... rồi vài ngày sau hắn không còn thấy Mai Trâm nữa , nàng đã đi rồi: " từ nay cách xa nghìn trùng ..."
Sau này hắn mới hiểu..

Hòa da vàng

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

NGOẠI TÌNH

Đàn ông ngoại tình vì tình dục.
Đàn bà ngoại tình vì tình cảm.
Nhưng
Đàn ông 10 thằng ngoại tình, 9 thằng không bỏ vợ.
Đàn bà 10 cô ngoại tình thì cả 10 cô đòi bỏ chồng.
Bởi đàn bà ngoại tình rồi mới nhận ra ngoài kia có nhiều thằng tốt hơn chồng của mình. Còn đàn ông không bỏ vợ vì bên ngoài chả có con nào tốt với mình bằng vợ mình..

Quynh Bui st

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

TAM TÔNG MIẾU

Đọc để biết thêm 

Chùa Tam Tông Miếu. Đã “chùa” sao lại còn “miếu”?

(Tác giả Phạm Hoài Nhân)

Nghe 3 chữ “Tam Tông Miếu” mọi người ở miền Nam, đều nghĩ ngay đến một loại lịch dùng để xem ngày tốt xấu. Một số ít người khác biết thêm rằng đây là tên một ngôi chùa ở đường Cao Thắng, Sài Gòn, nơi biên soạn và phát hành những bộ lịch này trước 1975.

Ấy, xin dừng lại một chút ở cái tên Chùa Tam Tông Miếu. Đã “chùa” sao lại còn “miếu”? 

Nói thiệt, cho tới gần đây, tui vẫn nghĩ Tam Tông Miếu là một ngôi chùa, tức là nơi thờ Phật. Nhưng đi tới nơi rồi, tìm hiểu thêm thì mới biết không phải. Tam Tông Miếu đâu phải là ngôi chùa Phật giáo! Vậy Tam Tông Miếu là gì?

Tam Tông Miếu là cơ sở tín ngưỡng của Minh Lý đạo, và tên chính thức Minh Lý đạo gọi nơi đây là: Thánh Sở Tam Tông Miếu.

Sự hình thành Minh Lý đạo

Minh Lý Đạo hay Đạo Minh Lý, nói tắt là Minh Lý, là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, gồm: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân. Tuy nhiên, trong ngũ chi này hiện nay dường như chỉ còn Minh Lý tồn tại độc lập (?).

Bắt nguồn từ đầu những năm 1920, ông Âu Kiệt Lâm (1896 – 1941), người gốc Minh Hương, cùng một số thân hữu vốn là trí thức, công chức đã tập trung và cùng nghiên cứu, tìm hiểu về giáo lý của tam giáo: Thích – Lão – Nho, mua sách từ Pháp nghiên cứu về nhân điện. Đến năm 1924, những người đó đã giác ngộ chơn lý của đạo và sáng lập tôn giáo lấy tên là Minh Lý đạo.

Đêm 27/11 Giáp Tý (23/12/1924) (thuộc tháng Bính Tý, ngày Bính Tý, giờ Mậu Tý), Minh Lý Đạo Khai Minh tại Thiên Bàn nhà Ngài Âu Minh Chánh.
Trong tên Minh Lý Đạo, Minh có nghĩa là thông hiểu nhận biết rõ ràng, Lý là lẽ phải tuyệt đối. Minh Lý là thông hiểu đến sự tuyệt đối đạt tới lẽ phải mà thành đạo.

Sáu vị chức sắc khai đạo Minh Lý gồm có ông Âu Kiệt Lâm (pháp danh Minh Chánh), ông Nguyễn Văn Xưng (Minh Giáo), ông Nguyễn Văn Đề (Minh Đạo), ông Lê Văn Ngọc (Minh Truyền), ông Nguyễn Văn Miết (Minh Thiện), ông Võ Văn Thạnh (Minh Trực). Trong 6 vị này, sau ngài Âu Minh Chánh (chủ trì từ đầu đến 1938) thì ngài Minh Thiện (chủ trì từ 1938 đến khi quy tiên năm 1972) là người góp công sức lớn nhất cho việc phát triển Minh Lý đạo.

Xây dựng Tam Tông Miếu

Sau khi khai đạo cuối năm 1924, Minh Lý đạo chưa có nơi để tụ tập lễ bái, tu học… Chư vị sau đó được trụ trì Linh Sơn Tự (đường Cô Giang) cho mượn chùa làm nơi lễ bái, tụng kinh. Cũng chính do mượn chùa, các đạo hữu phải tránh các ngày rằm và mùng Một – nhường cho gia chủ – nên lệ cúng hằng tháng vào các ngày 14 và 30 âm lịch còn giữ đến nay.

Nhờ ông bà Trần Kim Ký hiến đất vùng Bàn Cờ (lúc ấy trước chùa chỉ là một con hẻm đất, sau mới mở thành đường Cao Thắng) cùng một số vị khác giúp một phần tài chánh, ngày 10/8/1926 ngôi chùa của Minh Lý đạo đặt viên đá đầu tiên. Cuối tháng 1/1927 việc xây dựng hoàn tất. Ngày 2/2/1927 khai buổi cúng đầu tại chùa mới.
Theo tư liệu của Minh Lý đạo, khi chuẩn bị xây dựng, Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng đàn ban đạo hiệu chùa là Tam Tông Miếu. Trong đó:

Tam: là Tam thể đồng nhứt; Tam giáo đồng nguyên.

Tông: là thừa kế, tiếp nghiệp của Tổ truyền.

Miếu: là tòa ngự của các Đấng Thiêng Liêng tại thế.

Ngôi Tam Tông Miếu có dáng như ngày nay được trùng tu năm 1957.

Một số đặc điểm của Minh Lý đạo

Minh Lý đạo có một số điểm tương đồng với đạo Cao Đài, tuy nhiên không phải Minh Lý đạo chịu ảnh hưởng của Cao Đài (dù rằng xét về quy mô số tín đồ Minh Lý đạo nhỏ hơn rất nhiều so với Cao Đài), mà ngược lại. Minh Lý khai đạo năm 1924, còn Cao Đài khai đạo năm 1926. Ngũ Chi Minh Đạo, trong đó có Minh Lý, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.

Những điểm tương đồng giữa Minh Lý đạo và đạo Cao Đài là:

Cùng hình thành vào khoảng giữa thập niên 1920, do những vị khai đạo là trí thức, công chức (cho chính quyền Pháp). 
Kinh sách, các lời dạy của Đạo được Ơn trên (các đấng thiêng liêng) ban cho bằng cách giáng cơ (cơ bút, cầu cơ – Minh Lý đạo phân biệt khá kỹ các dạng cầu huyền cơ, đại ngọc cơ, xin phép không ghi lại đây). 
Minh Lý đạo chủ trương Tam giáo đồng nguyên (Phật – Nho – Lão), Cao Đài cũng vậy, nhưng thêm cả Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. 
Kinh của Minh Lý đạo hoàn toàn dùng tiếng Việt để người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc. Bộ kinh được chia làm 5: Kinh Bố cáo, Kinh Sám hối, Kinh Tịnh nghiệp vãn, Kinh Nhựt tụng, Kinh Giác thế. Một số bài kinh của Minh Lý đạo được đạo Cao đài sử dụng như bài Niệm hương, Bài Khai kinh, Kinh sám hối…
Không giống Phật giáo, Minh Lý đạo không thờ thánh tượng hoặc hình ảnh mà chỉ thờ bài vị. Gian chính của Tam Tông Miếu không gọi là chánh điện mà là bửu điện. Bửu điện của Minh Lý đạo là Thiên bàn có 5 cấp: Cấp thứ nhất thờ bài vị Diêu Trì Kim Mẫu; cấp thứ hai thờ bài vị Ngọc hoàng Thượng đế, Hồng quân Lão tổ; cấp thứ ba thờ Tam Giáo tổ sư (Phật Thích Ca, Thái Thượng Lão quân (Lão tử), Khổng tử); cấp thứ tư thờ Tứ đại Bồ tát (Địa tạng Bồ tát, Văn Thù Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Quan Âm Bồ tát); cấp thứ năm thờ 7 bài vị của Ngũ đẩu Tinh quân và chư Phật, chư Tiên.

Đạo phục của Minh Lý đạo là: nam mặc áo dài đen, quần trắng, khăn đóng đen; nữ mặc áo dài đen, quần đen (Cao Đài là áo trắng, quần trắng). Môn sanh (không gọi là tu sĩ) cũng vẫn để tóc, không cạo đầu như đạo Phật.

Phạm Hoài Nhân.


SAIGON 1965 - Chùa Tam Tông Miếu, số 82 đường Cao Thắng - Photo by Bruce Baumler

#Saigonvivu

Viết FB để làm gì?

Viết FB để làm gì?
Ai bắt tôi viết FB ? 

Tôi viết mỗi ngày như một thói quen , để dần dần cải thiện tư duy, ngôn ngữ và học cách diễn đạt dễ hiểu. 10 năm trước tôi viết rất chán. Cụt ngủn không dấu. Đọc lại mà cười rũ rượi, chắc chả ai hiểu tôi viết gì. Giờ đây mỗi sáng thức dậy,  nghĩ ra một chủ đề, nhìn một tấm ảnh gợi cảm hứng, 10 phút là viết xong được một bài dài lằng nhằng 😉

Kệ, đầy người nghĩ viết lách vô bổ chả ra tiền, có bạn còn ghét , vì mình viết lắm thế,  khoe ảnh lắm thế, có người hỏi thẳng, sỗ sàng ,  viết có được nhiều tiền không mà viết, ai bắt viết?  Tôi chỉ cười và nói thật rằng, tôi viết để tập cho chính tôi kỷ luật. Tôi rất vui khi mình biết cách diễn đạt một ý,  làm cho người khác hiểu điều mình nghĩ. Tôi rèn luyện mỗi ngày, đọc và viết, lắng nghe và xem, để viết giản dị ,   dễ hiểu, càng giản dị ,  càng cụ thể càng tốt. Viết cũng làm cho tôi đọc ra tâm trí của chính tôi và của người khác dễ dàng. Tôi chả cần ai khen ai thích, tôi tự thích tôi, tự khen tôi tiến bộ là đủ rồi. Tôi chả quan tâm mấy đến người đọc mà tôi chỉ viết ra điều chứa trong lòng, tôi không  viết gì để câu like hay chiều lòng ai. Tôi rất tự do, không ảo tưởng sức mạnh, không tưởng bở là ý kiến của mình quan trọng, đôi khi nhận được vô số quà tặng và lời khen, tôi chả bao giờ nghĩ mình viết hay . Tôi thấy tôi chăm, tôi cố gắng, tôi thích, là đủ rồi. 

Tôi viết cho tôi, con tôi, bạn bè tôi. Tôi nghĩ sao viết vậy, không cầu kỳ màu mè. Chả ai trả nhuận bút, tôi vẫn vui vẻ viết. 

Tôi lấy cảm hứng viết lách từ những câu chuyện thật, cuộc đời thật, nhìn thấy quá nhiều buồn khổ, tôi muốn ai đọc tôi viết,  họ sẽ tìm thấy niềm vui nhẹ nhàng, sự bình an tự thân.

Tôi viết để thay đổi chính mình, trở thành bà mẹ biết suy nghĩ, hiểu biết, có giá trị.  tôi muốn xứng đáng với con tôi, bố mẹ tôi, xứng đáng với người yêu tôi. 

Tôi tin rằng viết lách là một cách tập thể dục lành mạnh có ích cho trí não. Tôi tự thấy bản thân tôi lưu loát hơn tự tin hơn,  nhờ viết ra được điều mình nghĩ. Được viết  Rất sướng:-) 

Bạn hãy tập viết tập nói đi, không cho ai xem cũng được.  Hãy làm điều đúng, điều mình thích, có ích cho bản thân mình dù ai ý kiến ý cò kệ họ. Đừng hỏi để làm gì có ra tiền không, khi làm việc mình thích là mình làm ra tiền rồi. Thế giới này được vận hành nhờ những khao khát tốt đẹp. Chứ không phải để nhiều tiền hơn. 

Hãy tự viết cho mình hay con mình một lá thư, thường xuyên. Chả để làm gì cụ thể. Chỉ để mình tốt hơn chính mình mỗi ngày thôi..

LAM PHƯƠNG
13/5/2021

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

18 THÔN VƯỜN TRẦU

"Giết Phủ Ca", "Chặt đầu Phủ Ca"

Mấy thập niên cuối của thế kỷ 19, dân chúng Bà Điểm, Hóc Môn thường gánh trầu xuống Gia Định bán. Họ đi thành đoàn hai, ba chục người để khỏi bị cọp vồ. Những năm sau đó, có xe ngựa chở trầu, cau và đồ hàng bông xuống bán ở Sài Gòn. Những ai từng cư ngụ trên đường Lê Văn Duyệt hồi những năm đó chắc sáng sớm sẽ bị đánh thức bởi tiếng vó ngựa lọc cọc trên mặt đường, hoặc tiếng xe bò cót két của người Hóc Môn, Bà Điểm chở trầu cau và đồ hàng bông xuống chợ. Vùng này , theo sách cổ, có đến 18 thôn chuyên canh trầu cau, nên gọi là "Thập bát phù viên", tức 18 thôn vườn trầu.

Theo bản án của Toà Án Gia Định xử vụ Quản Hớn khởi nghĩa, giết vợ chồng Đốc Phủ Ca, có kể tên 18 thôn liên hệ phải bồi thường số tài sản thiệt hại do cuộc khởi nghĩa này gây ra. Các thôn đó là:

1. Bình Hưng
2. Vĩnh Lộc
3. Tân Thới Thượng
4. Tân Đông Thượng
5. Trung Chánh (Quán Tre)
6. Tân Thông Tân
7. Tân Thông Tây
8. Tân Thới Tam
9. Tân Thới Nhì
10. Tân Thới Tứ
11. Tân Đông
12. Tân Thành
13. Tân Đông Trung
14. Xuân Hoá
15. Bình Hưng Đông
16. Bình Nhạn
17. Mỹ Hạnh

Hóc Môn là nơi hội tụ của những cuộc đời tao loạn miền Ngoài, tìm đến cuộc đất mới ấm no. Họ lập thành làng xóm trong cùng chung một hoàn cảnh, tạo ra một sắc thái riêng biệt của con người Hóc Môn: Giàu nghĩa khí (Nguyễn An Khuơng, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Ninh), giàu lòng yêu nước như Phan Công Hớn, Nguyễn Văn Quá. Trong quá trình hình thành Hóc Môn, Bà Điểm, ban đầu họ lập các thôn xóm như Cây Lài, Bàu Xiêm…rồi dần xuống Hóc Môn, Bà Điểm, trở lên Củ Chi…

Năm 1982, tôi có lần lên thăm người bạn ở Suối Đá, tức quận lỵ của một quận mới: Dương Minh Châu. Đang lúc đó mùa khô, có phong trào làm thủy lợi, đắp con đê vòng quanh lòng hồ của đập Trị An. Sáu tỉnh xung quanh Sài Gòn đều phải gởi người đến làm sưu, tự túc cơm gạo. Bạn tôi kể, có một lần vào giờ giải lao, một người dân Hóc Môn vừa đốt điếu thuốc, nhả khói lên trời rồi ra câu đối:

“Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc”.
Lập tức bên cạnh có người đáp lại:
“Gái Gò Công vừa gồng vừa co”

Dưới thời Gia Long (1802-1820), Hóc Môn là lỵ sở của huyện Bình Dương. Phạm vi huyện này lan rộng xuống tới Sài Gòn, và cả huyện Cần Giờ ngày nay. Hồi đàng cưụ, Trần Tử Ca (1823-1885) làm xã trưởng Hạnh Thông tới Gò Vấp. Sau Ca được thăng làm phó tổng Dương Hoà Thượng. Ban đầu Trần Tử Ca là một phú hộ, nhờ có chút ít học vấn nên được cử làm xã trưởng Hạnh Thông, chớ không phải là người xuất thân khoa bảng. Hồi đó Trần Tử Ca chưa theo đạo Thiên Chúa.

Năm 1860, đồn Chí Hoà bị hạ. Pháp chiếm luôn các vùng lân cận như Hóc Môn, Trảng Bàng, Tây Ninh. Lúc đó huyện Bình Dương còn dưới quyền tri phủ Hồ Huân Nghiệp, đang chỉ huy nghĩa quân kháng chiến. Đến năm 1865, Hồ Huân Nghiệp bị bắt và đem hành hình tại Phú Thọ rồi tri huyện Lưu Đình Lễ ở Hóc Môn cũng bỏ chạy. Pháp cử tên Lucien de Grammond lên trấn nhậm Hóc Môn. Tên nầy có râu quai nón, rất dài, mỗi khi giận, hắn nhai râu “trạo trạo”, dân chúng gọi là “ông nhai râu”. Trần Tử Ca dẫn vài tên nghĩa quân ra hàng để chuộc tội. Pháp cần người bản xứ ra cộng tác , nên thâu dụng Ca, cho hắn cai trị Hóc Môn, báo cáo tình hình và giữ an ninh. Thấy Ca khôn ngoan lanh lợi, thạo đường đi nước bước, Pháp cho Trần Tử ca dẫn đường để chúng đi kinh lý các tỉnh miền Tây. Tháng tám năm 1867, Ca cùng Giám Đốc Nội Vụ Paulin Vial xuống tàu ở Gò Công, bắt đầu xuống Bến Tre. Tình hình ở đây cũng mới tạm yên. Rồi họ xuống Trà Vinh, quân Pháp còn giao tranh với nghĩa quân tại Cầu Nang. Tên chỉ huy ở đây đã báo cáo:”Có làng tất cả dân chúng đều theo nghĩa quân.” Sau đó phái đoàn Pháp xuống Sốc Trăng, lên Rạch Giá, Long Xuyên. Chuyến đi thị sát vùng mới chiếm cho Pháp có ý niệm vững chắc về tình hình mấy tỉnh miền Tây cũng như địa thế của nó. Khi về, để củng cố lòng tin cậy của Pháp, gia đình Ca xin rửa tội theo đạo Công Giáo. Thấy địa vị khá vững, Ca bắt đầu công việc làm ăn của mình. Trong lúc tình hình vùng mới bình định chưa hoàn toàn yên ổn. Ca tìm những gia đình giàu có bắt bớ để tra khảo vì nghĩ họ giúp đỡ tiền bạc cho nghĩa quân. Bắt họ, có lợi trước mắt là khi đánh đập, gia đình sẽ đem tiền đến chuộc. Mặt khác Ca lo củng cố an ninh, kiểm soát dân cư cựu trào, phân loại theo thành tích mà hắn biết rõ trước đây. Thấy Ca làm được việc, Pháp cho Ca giữ chức Phó tổng lúc trước.

 Hồi năm 1983, có một lần ăn cơm trong một gia đình ở Chợ Lớn, tôi được nghe một vị bô lão, năm đó 81 tuổi, nhắc chuyện xưa về Phủ Ca:"Phủ Ca là người khôn ngoan, có lối làm việc theo kiểu đàng cựu. Mỗi lần bắt nạn nhân để khảo của, hắn vừa uống trà vừa hỏi cung, để cho dân chúng bu xung quanh xem. Mỗi khi nạn nhân bị đánh đập tàn nhẫn, rên la, thân nhân đứng bên ngoài cũng đau đớn, xin đem tiền đến nạp để cứu người thân. Nhiều người quá nghèo, nhưng vì thương chồng, con, phải bán nhà cửa, trâu, heo đến chuộc mạng, rồi sau đó bỏ làng trốn đi. Với phương pháp này, Ca làm giàu nhanh chóng, cất nhà gạch ở chợ Hóc Môn đầu tiên."
Một nho sĩ xu nịnh lúc bấy giờ đã mô tả hình dung Phủ Ca như sau:
"Ca thường bịt khăn nhiễu điều tứ cú, mặc áo lót song khai. Trấn nhậm tại xứ Hóc Môn, tục danh Mười Tám Thôn Vườn Trầu. Đang thuở ấy, bốn phía xứ Hóc Môn, nhân dân phong tục nhiều người ngang ngạnh, phần thì liền với Trảng Bàng, đất gò rộng minh mông vô hạn, quân giặc giã, trộm cướp hay quần tụ ra vào."

Dựa thế lực của chồng, vợ Ca cũng tác quái nhiều việc. Bà độc quyền mua trầu cau rồi dùng xe bò chở xuống Gia Định bán. Bà còn sắp xếp việc mua bán trong chợ Cầu. Trước đó ở đây có chợ Bến Nọc. Năm 1871, Ca được thăng tri huyện, thế lực càng lớn, dân chúng nơm nớp lo sợ, coi ông như cọp. Đến năm 1879, Ca được thăng đốc phủ sứ, mở tiệc ăn mừng bắt quan làng, dân chúng đóng góp. Năm đó, Ca cất dinh quận, bắt dân phu phục dịch cả năm trời như tội nhân lao động khổ sai. Bà vợ, để mở mang công việc làm ăn, cũng cho cất mới ở tại chỗ Chợ Cầu bây giờ. Chỗ đó về sau, dân địa phương gọi là "Chợ Quan Lớn Ca". Trước bữa khai thị hai hôm, Ca cho dán bố cáo:

"Mốt tới, coi chợ mới, tốt"
Sáng sớm hôm sau, bên cạnh thông cáo đó, có một câu đáp của một sĩ phu, chơi xỏ Ca:
"Mai lên thấy con Mên" (Miên lai)

Hồi trước ở trong Nam, người Việt sống chung đụng với người Miên nhưng kỳ thị họ, coi họ kém văn minh. Khi nói đến "Cao Mên, Con Mên…" là có ý nghĩa khinh khi họ.
 
CUỘC KHỞI NGHĨA 30 TẾT

Vợ chồng Ca là người vừa tham vừa tàn ác. Sẵn quyền lực, được Pháp tin cậy, Ca không từ chối bất cứ biện pháp làm tiền dã man nào. Giữa thập niên 1880, dân chúng Hóc Môn trải qua những giấc mơ hãi hùng. Lúc nào họ cũng bị ám ảnh bởi :”nửa đêm thúc thuế trống dồn”. Bài “Vè Quản Hớn” nói lên tình cảnh ấy:

“Đêm năm canh giấc ngủ chẳng an
Ngày sáu khắc, lo xâu cùng thuế (1)
Qua năm Dậu (1885) gẫm âu quá tệ,
Khổ người dân như khúc gỗ tròn …”

(1) xâu : tức là sưu, hình thức đóng thuế bằng cách ra sức làm những công việc nặng nhọc như đắp đường, làm cầu, cất dinh…không được trả công.

Qua bốn câu đó, ta thấy tình hình bất mãn lên đến cực điểm vào cuối năm 1884. Hổ phụ sinh hổ tử. Hai người con của Phủ Ca cũng là những tên cường hào ác bá. Một tên gọI là Phủ Luông vừa gian ác, vừa hiếu sắc. Một tay hắn phá nát không biết bao nhiêu gái trinh tiết.

“Thêm công tử Phủ Luông mỹ hiệu,
Bởi bội ước hồn phi yểu yểu…”

Trong “Vè Quản Hớn”, dân gian dị nghị hai người con Phủ Ca như sau:

“Hai chàng con đốc phủ Ca,
“Xóm làng bắt hết, khảo tra sự tình”
“Ai ai đều cũng thất kinh,
“Trẻ già lo sợ như hình cò ma.”
"Ngỡ là con trả thù cha,
"Nào hay bán máu, đổi ra bạc tiền.
"Làm oai: kẻ trói, người xiềng,
"Dẫn về trường bố, cho liền cửa quan"
"Ai mà muốn chối tai nàn,
"Bạc cây đem nộp, mới an thân mình.
"Kẻ làm thì dạ ưng tình,
"người không cũng bắt, hành hình dữ thay.
"Kẻ thì kết án lưu đày.
"người thì chém giết xứ này Hóc Môn"

Bài "Vè Quản Hớn" đã tố cáo hành vi tàn ác của hai người con Trần Tử Ca. Tuy không giữ chức vụ gì, nhưng dựa lịnh cha, họ cũng bắt người tra tấn để khảo của , bất luận oan hay ưng. Ngoài ra, theo lịnh Pháp hồi đó, dân chúng đóng thuế dầu phộng để đốt đèn. Theo lịnh Ca, dân nạp dầu phộng nhiều, Ca cho lính ép lấy dầu, giữ lại một phần lớn, còn ít thì nạp vào kho. Tiếng dữ được loan truyền trong dân chúng:

"Dân bần tiện lòng kia chẳng tưởng,
"Ép lấy dầu nộp thiểu , thâu đa…"

Bao nhiêu tiền của, do công lao, sức lực của dân nghèo, gia đình Ca đều tóm thâu gần hết. Gặp cảnh khổ của người dân, Ca cũng không động lòng. Trong lúc mọi người oán hận Ca thì Ca thản nhiên tổ chức lễ mừng lục tuần rình rang, bắt lính tráng, dân phu phục dịch suốt tuần lễ. Để giúp vui, Ca cho tổ chức đua ngựa, rước gánh hát bội về diễn , nhưng dân chúng phải góp tiền để trả. Các hương chức hội tề chia nhau gánh vác, đóng góp vàng lụa "mừng quan"

"…Khai lục tuần địch thể giá vua,
"Theo tân trào phá miếu đốt chùa"

gây thêm khích động. Một người có tâm huyết, đứng về phía dân chúng là Phan Công Hớn tục gọi là Quản Hớn, đang coi việc an ninh trong làng. Hớn cùng Nguyễn Văn Quá âm thầm chuẩn bị gươm, dao, mác và bí mật chiêu tập một số nghĩa quân chờ cơ hội. Dân chúng quá bất mãn vì bị bóc lột tàn nhẫn nên họ theo Quản Hớn rất nhiều. Như thường lệ, những ngày giáp Tết Ất Dậu (1885), người tụ tập ngoài đường, nơi vắng vẻ, luyện tập. Chiều 30 Tết, trong khi mỗi gia đình lo cơm nước, rước ông bà, quét dọn nhà cửa sạch sẽ , tươm tất. Gần đến giờ Giao Thừa, giờ phút thiêng liêng mà mọi người đang trông đợi như chậm lại. Nhà nhà đều mở cửa. Trên mỗi bàn thờ, đèn, nhang nghi ngút, sáng trưng. Bỗng môt hồi mõ hiệu lịnh nổi lên:

-Có biến động! Mõ hồi một!

Nhiều nhà hốt hoảng. Cửa đóng. Đèn tắt. Ngoài đường, tiếng chân người chạy sầm sập. Chỉ phút chốc, một đoàn người cầm đuốc, gươm dáo vừa tiến về dinh quận Hóc Môn, vừa la ó:"Giết Phủ Ca", "Chặt đầu vợ chồng Phủ Ca"!

Rồi quân khởi nghĩa chia nhiều tốp, vừa phá cổng, vừa bắn giết nhóm giữ cửa, trong khi các nhóm khác leo tường lọt vào bên trong. Hồn phi phách tán, vợ chồng Phủ Ca bị nghĩa quân bắt trói trước sân đình quận. Phẫn uất, chúng liền chặt đầu, rồi sau đó đem bêu phơi trước dinh quận. Quân khởi nghĩa dưới quyền lãnh đạo của Quản Hớn thành công như nước vỡ bờ. Bao nhiêu thù ghét được dịp bùng nổ. Họ đốt phá, bắn giết những người trong gia đình Phủ Ca. Chỉ một vài người đàn bà, con nhỏ, gia nhơn chạy thoát được.

Sáng mùng một Tết, dân chúng Hóc Môn ăn mừng. Tết rất lớn. Họ đem bánh tét, trà, thuốc đãi nghĩa quân, rồi reo hò . Trong khi đó, Quản Hớn vẫn chia quân phòng thủ. Khoảng 3 giờ chiều, toán quân tiếp viện đầu tiên tới. Họ giao tranh với nghĩa quân, nhưng không chiếm lại được dinh quận, vì họ cố thủ. Rồi quân Pháp từ Gia Định kéo lên, vây bốn mặt. Đi tới đâu, quân Pháp bắn giết tới đó để dằn mặt. Dân chúng bắt đầu bỏ nhà chạy trốn vào rừng. Tuy quân số đông, nhưng chỉ là ô hợp, họ chiến đấu vì sự phẫn nộ lâu ngày như phá vỡ sự đè nén, chớ không biết cách chiến đấu. Lại nữa, súng đạn ít, gươm, dao không thể đương đầu với võ khí của Pháp nên cuộc chiến đấu chậm dần. Một số người bị thương, tử trận, một số bỏ trốn. Giặc Pháp kéo vô dinh quận bắt được Quản Hớn, Nguyễn Văn Quá, và hơn hai mươi người còn lại. Cuộc khởi nghĩa đã bị dẹp rất nhanh chóng.

Trước đó chừng mười hôm, Đề Bường (Nguyễn Văn Bường) cũng chuẩn bị khởi nghĩa ở Phú Nhuận. Ý định của Đề Bường là tấn công chợ Xã Tài (Phú Nhuận) rồi kéo sang đốt chợ Đất Hộ (Đa Kao), liên lạc với nghĩa quân Hóc Môn để họ tiếp trợ. Đề Bường cho người liên lạc với một nhóm tù bị giam tại khám lớn, hẹn đến đêm đó nổi lửa đốt khám, nghĩa quân sẽ đến giải cứu. Tuy nhiên khám vẫn nổi lửa đốt lên đúng hẹn, làm cho Pháp bỏ chạy , nhưng đợi mãi không có quân đến tiếp cứu vì Đề Bường đã bị bắt trước khi ra tay. Thế là cuộc khởi nghĩa của Đề Bường chỉ gây được tiếng vang mà thôi.

Mặc dầu không có sự liên lạc, nhưng trước cuộc khởi nghĩa Hóc Môn, nghĩa quân ám sát tên Trần Bá Hựu, chủ quận Long Thành, em ruột của Tổng Đốc Trần Bá Lộc, khiến người Pháp có cảm tưởng rằng "phong trào Cần Vương lan rộng vào Nam", làm cho họ ráo riết chuẩn bị đối phó. Ngoài ra ở làng Long Hội, giáp ranh giữa Mỹ Tho và Gò Công, có Nguyên Soái Hiền, phó Nguyên Soái Trần Công Chánh, cũng chiêu tập được hàng trăm người , đồng loạt nổi lên phá nhà việc làng. Họ kêu gọi dân chúng cùng đứng lên giết giặc. Cũng như nhiều nơi khác, nghĩa quân chỉ chiến đấu với lòng căm thù, nhưng thiếu tổ chức và võ khí, nên bị đàn áp nhanh chóng. Trong việc đem quân trở lại Long Hưng, Pháp bị chết mấy người lính làm cho họ càng thêm dã man, gặp ai nghi ngờ, chúng giết lập tức. Cuối cùng, những người cầm đầu như Nguyên Soái Hiền, Phó Nguyên Soái Trần Công Chánh đều sa vào tay giặc. Trước phong trào chống Pháp lên cao, Thống Đốc Nam Kỳ dùng biện pháp phạt tiền nguyên cả làng đó vì đã "chứa chấp bọn phiến loạn."

HẬU QUẢ:

Sau tất cả các biến cố đó, tỉnh Gia Định bị giới nghiêm vào ban đêm hàng tháng trời. Pháp áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát an ninh, dập tắt các phong trào mới nhen nhúm. Những vụ khởi nghĩa nầy, Pháp đều đưa ra xử tại toà án Bình Hoà, Gia Định. Hồi đó, hạt Sài Gòn còn gồm luôn Gia Định. Từ năm 1875, dinh tham biện (Toà Bố) đặt tại làng Bình Hoà, nên gọi hạt Bình Hoà. Đối với người Pháp, họ rất khó phân biệt giữa "Bình Hoà" và "Biên Hoà" nên họ đổi ra Gia Định cho khỏi nhầm lẫn. Từ năm 1889, họ đổi danh từ "hạt" ra "tỉnh". Phiên xử nghĩa quân ám sát Trần Bá Hựu, có một án tử hình dành cho người cầm đầu và ba án khổ sai chung thân. Vụ Đề Bường mưu toan khởi nghĩa ở Phú Nhuận và phá khám lớn bị bắt lúc chưa xảy ra, nên Thống Đốc Nam Kỳ áp dụng biện pháp hành chánh, ký lịnh lưu đày ngày 21 tháng Hai năm 1885. Nguyễn văn Bường chung thân khổ sai, biệt xứ ở Côn Lôn, còn những người khác bị từ năm đến mười năm. Năm sau, Đề Bường bị bịnh chết ở Côn Đảo.

Sáu tháng sau, tỉnh Bình Hoà nhóm để xử vụ Hóc Môn. Vụ án liên quan đến nhiều người nên phiên xử kéo dài nửa tháng. Sau đó, thực dân tuyên án: 14 người tử hình trong đó có Phan Công Hớn, Nguyễn Văn Quá. 16 người khác tù khổ sai có thời hạn. Phiên toà Bình Hoà xử vụ Quản Hớn kết thúc ngày 31 tháng Tám 1885. Thực dân muốn áp dụng hình phạt thật nặng nề để dằn mặt dân bản xứ. Tuy nhiên, bản án về tới Pháp, Tổng Thống Pháp được báo cáo dư luận dân chúng Gia Định bất mãn, nên hạ bản án xuống: chỉ 2 người cầm đầu tử hình, còn lại 12 người khác bị khổ sai chung thân.

Sau đó chừng một tháng, ta thấy dưới bến tàu nhiều chiếc khởi hành chở tù đi đày ở các hải đảo xa xôi hằng ngày . Trong dư luận bấy giờ, dân chúng có câu ca dao:

"Ngó ra ngoài biển mù mù,
"Thấy tàu ông Thượng chở tù về Tây"

Về Tây là về phía Tây. Đi gần có Côn Nôn. Đày xa có Đại Hải hay đảo Bourbon tức đảo Réunion thuộc Ấn Độ Dương sau nầy. Cũng có một số ít bị đày sang đảo Tahiti, hay Cayenne Nam Mỹ như các nạn nhân trong vụ binh biến kinh thành Huế năm 1885. Sáng sớm ngày 30 tháng Ba 1886, tại chợ Hóc Môn, dân chúng chứng kiến cuộc hành quyết hai lãnh tụ cuộc khởi nghĩa "18 thôn vườn trầu" là Phan Công Hớn và Nguyễn Văn Quá. Vẫn theo bản án của tòa Bình Hòa, 18 thôn liên hệ đã kể trên phải liên tục chung góp để bồi thường cho gia đình Phủ Ca số bạc gần hai vạn đồng. Thời đó, số tiền ấy quá lớn, nhiều người chịu không nổi cảnh chung góp trả nợ phải bỏ làng trốn đi nơi khác. Theo một nguồn dư luận khác, cuộc khởi nghĩa sở dĩ thành công nhanh chóng một phần do lòng phẫn nộ của dân chúng, và một phần do trong quân lính tham dự có một số theo Thiên Địa Hội, dùng bùa phép để trở nên gan dạ. Dầu sao cuộc khởi nghĩa ấy cũng biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, và cũng là một cách để dằn mặt bọn thực dân. Qua vụ giết Phủ Ca, dư luận Hóc Môn phản ánh qua bài "Vè Quản Hớn":

"Quản Hớn dầu chết cũng rạng danh,
"Vì trừ được tham quan ô lại
"Quan đốc phủ thác đà cũng phải
"Khai lục tuần địch thể giá vu
"Theo tân trào phá miếu phá chùa,
"Thuở cựu trào làm cai phó tổng
"Ở một ngày một lộng
"Lầu ba từng lại có võ môn
"Nhựt nhựt thường kiểng đổ trống rung
"Xe song mã sướng đà quá sướng
"Dân bần tiện lòng kia chẳng tưởng
"Ép dầu nộp thiểu, thâu đa..."

Sau vụ nầy, Pháp đưa Phủ Ngôn từ Gò Công tới thay thế. Phủ Ngôn ở một thời gian ngắn, Phủ Lê Tấn Đức kế nhiệm. Ông Đức cũng nổi tiếng cường hào ác bá ở Bạc Liêu, dân chúng, hương chức đều kêu ca hành vi của ông. (Xem thêm bài "Cà Mau tiền rừng bạc biển, nhưng cuộc sống khó khăn" cùng tác giả trong sách "Nam Kỳ Lục Tỉnh tập I", Văn Hóa tái bản lần thứ nhất năm 1993). Từ đó, ở Hóc Môn có lưu truyền hai câu ca dao:

"Mừng xuân có pháo, có nêu,
Có đầu quan phủ bêu nơi cột đèn"
 
---------------------------

Hứa Hoành

http://www.namkyluctinh.com/a-lichsu/huahoanh/huahoanh-giaithoai[5-vuontrau].htm