Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

CHUYẾN TÀU ĐÊM (1).

Chuyến tàu đêm cuối năm con gà đưa tôi từ vùng đất văn chương nghệ thuật bay bướm nhưng hết sức lè phè của Paris trở về với nước Đức triết học kỷ luật chặt chẽ lý luận thâm sâu. Văn chương bay bướm hay triết học khô khan vốn từ lâu không thích hợp với những người Sài Gòn xuề xòa đơn giản thích ca vọng cổ: Thương em chẳng biết để đâu, để trong khẩu súng lâu lâu anh bóp cò.

Tàu chạy êm ru nhưng không thể ngủ được vì còn nhớ cảnh bạn bè cũ kỷ già chát chia tay lưu luyến run rẩy vì lạnh giá trên sân Gare de l’Est. Không thể ngủ được cũng vì khách đang ngồi tại băng ghế phía đối diện là hai anh chàng “rệp” mà xem ra dáng vẻ cũng chẳng được đàng hoàng. Mắt họ cứ láo liên nhìn lén tôi. Nhớ hôm còn ở Paris một người trong đoàn khi đi chơi phố một mình đã bị lấy mất chiếc điện thoại tại một trạm metro, người này kể lại có mấy người da màu làm bộ chen lấn lên tàu rồi ra tay móc túi. Cũng may không mất hộ chiếu, người này tự an ủi mà mặt buồn xo.

Một con mắt của tôi lim dim nhớ về những ngày xưa cũ, một con mắt lim dim để ý tới hai con “rệp” ngồi đối diện. Tôi rơi vào trạng thái triết học “song nhãn, nhị trùng”.

Nhìn mặt người mà bắt hình dong rồi suy ra tâm địa con người là không nên, nhưng biết làm sao bây giờ. Mấy người nhập cư da màu lúc này tung hoành làm ăn dữ lắm từ Pháp sang Đức. Tiếng Pháp của bọn chúng tôi khá lơ mơ, tiếng Đức thì mù tịt, còn tiếng Anh đủ để nghe và nói chớ viết thì hơi mệt. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì mà phải trình báo với cảnh sát bằng văn bản tiếng Anh thì sẽ rất lôi thôi vì có khi làm cho cảnh sát hiểu nhầm: Mình bị móc túi mà cảnh sát tưởng mình là thằng móc túi.

Nhìn hai con “rệp” rồi nhớ lại hồi nhỏ còn đi học ở Sài Gòn tôi cũng không được bạn bè tôn trọng lắm do cái dáng vẻ bên ngoài không hay. Thuở ấu thơ nghịch ngợm bị té nên lưng tôi gù. Tự an ủi: Coi lù đù vậy chớ lớn lên thường vác lu chạy tới chạy lui.

Năm lớp tám lớp chín bạn bè đọc được cuốn tiểu thuyết Pháp dịch ra tiếng Việt của nhà văn Victor Hugo nên trêu chọc tôi là “thằng gù ở nhà thờ Đức Bà Paris”. Mấy chục năm sau tình cờ có dịp gặp lại họ vẫn đùa như vậy nhưng tôi chẳng hề buồn, lại thấy nó hay hay. Dễ gì giống được một nhân vật trong tiểu thuyết Pháp suốt mấy chục năm dài như vậy?

Lên lớp 12 được học môn triết tôi có thêm cái tên khác là “Kant”. Kant một triết gia người Đức. Không phải tôi học giỏi môn triết như ông Kant, chẳng qua họ thấy hình dáng lúc đang tuổi dậy thì của tôi giống con Căng-gu-ru bên xứ Úc Châu, nên gọi tắt là Kant. Tôi cũng chẳng biết giận hờn, cũng chẳng thèm buồn. Ai muốn gọi tôi là “Thằng gù” cũng được mà gọi “Kant” cũng được.

Chương trình lớp 12 trung học ở Sài Gòn trước năm 1975 có dạy môn triết học (tư sản), đến sau năm 1975 thì chính quyền mới đã loại bỏ các môn học đó. Tùy theo từng ban A (sinh hóa), B (toán lý), C (văn chương), D (cổ ngữ)… mà số giờ triết học được dạy nhiều hay ít. Triết học hồi đó được phân ra các môn: đạo đức học, lý luận học, tâm lý học, siêu hình học. Hai thầy dạy triết năm 1974- 1975 tại trường VTT là thầy Nguyễn Phúc Lộc dạy lý luận và đạo đức, thầy Nguyễn Đình Sinh dạy tâm lý.

Môn siêu hình học chỉ dành cho học sinh lớp 12 ban C và ban D nhưng trường VTT vào niên khóa 1974- 1975 không đào tạo ban D, chỉ còn một lớp ban C rất ít học trò (khoảng mười lăm người). Mỗi lần tới giờ siêu hình học thì trường VTT gởi học trò ban C sang trường Petrus Ký (trường Lê Hồng Phong bây giờ) học nhờ vì tại trường VTT không có thầy dạy môn này.

Thú thực hồi trước 1975 học triết thì học cho sang vậy chớ chẳng học trò nào cùng lớp với tôi hiểu được gì. Hình như chương trình triết học lớp 12 là rập khuôn theo đúng chương trình của người Pháp để lại sau năm 1954 nên thuật ngữ triết học bằng tiếng Việt không được quen thuộc dễ nghe lắm với học trò trung học người Việt, nó lai giữa Tàu và Pháp. Học trò Pháp có tư tưởng triết học từ lâu, còn học trò Việt như bọn tôi hồi đó chắc chưa có.

Các thuật ngữ như: Bản ngã, tha nhân, nguyên nhân đệ nhất, hiện sinh, nhị trùng, siêu hình, phản đề, chính đề, tam đoạn luận… được đưa vào các đoạn văn dài lê thê rất khó nuốt. Nhà in in sai cũng nhiều chắc do thợ sắp chữ cũng không quen với mấy chữ lạ này.

Nếu để dành mớ sách vở triết học in trước năm 1975 cho tới tuổi bốn mươi chăm chú đọc lại thì may ra có thể hiểu được chút chút. Nhưng mà sau năm 1975 sách vở triết học in ở Sài Gòn bị coi như bất hợp pháp nên chắc chẳng học trò Sài Gòn nào dám giữ lại. Mà giữ lại chắc cũng chẳng ích lợi gì, chẳng thể hiểu thêm gì. Nhất là với hoàn cảnh cơm áo gạo tiền khó khăn sau năm 1975 thì việc đọc sách quả là xa xỉ.

Niên khóa 1974- 1975 trong chương trình lớp 12 còn có thêm được hai giờ Việt văn, trong khi ở các niên khóa trước thì lớp 12 chưa được học Việt văn. Thầy dạy môn Việt văn năm đó là thầy Lý Đức Cửu. Việt văn lớp 12 của niên khóa 1974- 1975 khác với các lớp dưới, có thể tạm gọi là “văn-triết”, tức pha giữa văn chương và triết học. Khổ nỗi, văn chương Việt vốn nghèo nàn còn triết học Việt thì coi như chưa bao giờ có, nên chương trình “văn-triết” là cái chi chi thì không trò nào hiểu được, mà chắc các thầy cũng bối rối chẳng biết phải dạy cái chi. Nhưng học trò phải ráng mà học gạo, vì cuối năm lớp 12 phải đi thi Tú tài, mà trước năm 1975 hễ thi cử thì phải thi đủ các môn chớ không phải chỉ thi ba hay bốn môn chính như thời bây giờ.

Ba thầy Lộc, Sinh, Cửu đều là người Bắc di cư đã tốt nghiệp trường Đại học Văn khoa và trường Đại học sư phạm tại Sài Gòn. Họ ăn nói rất lưu loát (người Bắc nhiều lý luận mà), trình độ sư phạm khá cao nhưng nói chung không thể nhét các thuật ngữ triết học hay văn triết lạ hoắc nửa Tàu nửa Tây vào đầu học trò được.

Sau năm 1975 tôi thấy chương trình triết học Mác-Lê và các chương trình lịch sử, kinh tế chính trị được dạy trong các trường đại học cũng vấp phải các khó khăn tương tự, do nguyên nhân và kết quả khá giống nhau: Cả thầy lẫn trò chắc chẳng ai hiểu được con mẹ gì hết để mà dạy và học!

Với lại... tại các nước khác như bên Nga hay bên các nước Đông Âu người ta đã từ bỏ hết, đoạn tuyệt hết với các môn học cà chớn kiểu đó lâu rồi, chỉ có nước mình là thích làm chuyện khác người ráng mà giữ lại. Nhiều người nói do đã mấy chục năm đào tạo ra quá nhiều giáo viên dạy mấy môn đó, nay bỏ đi thì số người dư dôi này biết nhét vô đâu?

Hồi học đại học sau năm 1975 mỗi lần thi các môn triết Mác-Lê hay lịch sử mới, kinh tế chính trị… bọn sinh viên chỉ mong được năm điểm, thầy giáo thường coi mặt mà bắt hình dong chấm điểm, thằng nào vào lớp chăm chỉ và tính tình dễ thương thì cho ngay năm điểm. Có thầy còn chấm điểm chữ đẹp và viết sạch nữa. Việc quay cóp viết bài thi y như trong sách cũng khá bình thường, các thầy biết hết nhưng làm lơ. Có thầy còn nói: Phải viết cho giống trong sách, đứa nào tự sáng tác mà sai quan điểm là coi chừng!

Bốn chục năm qua đường đời trắc trở, bọn học trò VTT niên khóa 1974- 1975 chỉ còn một ít ở lại Sài Gòn, số nhiều đã tìm cách qua Mỹ và Châu Âu sống. Cả thầy lẫn trò cũng có người hát “Ok, mình chia tay” với trần thế từ lâu lắm rồi, nhất là chết chìm ngoài biển trong thời gian có phong trào vượt biên. Thầy Lộc mất sớm vì ung thư, thầy Sinh và thầy Cửu hình như còn tiếp tục đi dạy nhưng xuống làm giáo viên cấp hai. Tôi cũng không gặp lại các thầy ấy sau năm 1975 vì phải bỏ Sài Gòn đi lao động kiếm cơm ở vùng xa khá sớm.

Học triết suốt một năm lớp 12 mà tới giờ tôi chỉ nhớ được một hai câu dễ nhớ. Đó là: “Triết học là môn học để đi tìm nguyên nhân đệ nhất” và “Chẳng ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”. Năm 1985 bắt đầu làm nghề sông nước, ngày nào cũng chuổng cời tắm sông, có khi tôi tắm trên cùng một dòng sông tới mấy chục lần, nên chẳng hiểu tại sao người xưa dạy học trò cái câu chi mà lạ vậy?

Câu hỏi “nguyên nhân đệ nhất” hay những câu hỏi “tại sao” đeo bám cuộc đời của mỗi người học trò cho tới chết: Mình là ai? Là người hay là con Căng-gu-ru? Tại sao trên cuộc đời này lại hiện hữu cái mặt mốc xấu quéc của mình? Mình có thể thay đổi số phận và nhan sắc được không? Khi chết đi thì mình sẽ thành cái con gì? Trí thức có linh hồn thiêng liêng cao quí hay nói như Mao: Trí thức là cục cứt?

Năm nay đã sáu mươi rồi, những câu hỏi đó mình không thể tự trả lời mà cũng chẳng ai trả lời giùm, nên cứ thắc mắc và chắc chắn là thắc mắc cho tới chết. Lim dim nhìn hai con “rệp” lại tự hỏi: Ta sao ta với mi rất khác nhau? Tại sao ta nghi ngờ mi sẽ móc túi ta trong khi ta với mi cũng cùng là con người?

Những câu hỏi đó quả thực là những câu hỏi triết học, nó cùng với những câu hỏi đời thường chẳng ai giải thích được hay đã từng được giải thích nhiều lần rồi mà chẳng ai đồng ý với ai.

28/02/2018.
Momentatary

RẤT HAY... VỀ CHIẾC ĐIỆN THOẠI

Có thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị kẹt chìa khoá ở trong xe , mất chìa khoá xe vẫn lái xe đươc , hết pin vẫn sử dụng điện thoại được..v.v.v.

Chiếc điện thoại di động (ĐTDĐ) ngày nay đã trở thành một điều cần thiết cho mỗi người chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày. Thế nhưng, khi sở hữu một chiếc ĐTDĐ người ta chỉ biết 2 chức năng chính là nhận cuộc gọi hoặc gọi đi, cùng lắm là “lướt” Web, chơi game, chat với bạn bè…


Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu cho hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ.




Trường hợp phổ biến nhất là lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin. ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó.


Đơn giản thôi, chỉ cần bấm: 3370#  và bạn sẽ thấy pin của bạn lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng!


50% là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là "Third Hidden Battery Power" để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book... Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy.




Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn.


Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó. Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn!




Trường hợp xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo.


Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau:


-      Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn.


-      Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe.


-      Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa.


Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường. Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ!




Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím #06# (xin nhắc lại: hoa thị (), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau. Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra.


Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng. Ở Việt Nam có các công ty như Mobifone, Vinaphone, Viettel, FPT… Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng.


Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Việt Nam thì không biết như thế nào nhưng ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử.


Nhiều trường hợp người đang sử dụng đã mua của một kẻ khác nên cảnh sát đã phanh phui được cả một đường dây tội phạm trộm cắp điện thoại. Nếu bạn đi ra Chợ Trời (Flea Market) để mua lại ĐTDĐ đã qua sử dụng, hãy nhớ bấm phím #06# để lấy ra hàng 15 con số. Yêu cầu người bán ký nhận có bán cho bạn cái máy điện thoại với hàng số đó để nhỡ có ai đi truy tìm thì bạn không phải là người ăn cắp!




Làm thế nào để biết nguồn gốc nơi sản xuất ĐTDĐ của bạn? Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng:


- Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm!


- Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt.


- Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt.


- Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Để tránh những trường hợp này, nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua!


- Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất.


*


Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không bạn!!!

Vinh Diệp

Translate

Có nhiều comment cho biết đây có thể là thông tin giả vì nhiều người thử mà ko được

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

ĐẤT NƯỚC TÔI.

Nguyễn Huy Cường
.

Đất nước tôi
Thưa hẳn giọt đàn bầu
Bao điệu dân ca
Đang chầm chậm rơi vào quên lặng
Nơi kẻ xưng Vương âm thanh là một tên bố nhắng
Tìm tụng xưng của đám trẻ thất thần
Đói khát thanh âm
Ngập tràn nhiễu loạn.
.
Đất nước tôi

Đàn cháu nhỏ không còn theo bắt nắng
Qủa bóng lá xanh ngần, đuổi bắt những buổi trưa…
.
Bê tông, tôn sắt sáng ngời
Đồng ruộng dần thưa
Công nghiệp hóa.

Đất nước tôi
Đã đến thủa không ai nằm nôi
Tuổi ấu thơ đã ép vào khuôn nhựa
Khóc cũng thế và hát càng như thế
Vòng tay mẹ ầu ơ thay bởi nhà trẻ cuối phường
.
Mẹ cất vội tình thương
Gửi con xong, chạy ào vào xưởng
Nơi mẹ cũng như con, được đánh số rõ ràng
.

Đất nước tôi
Thay đổi từ trường làng
Thày giáo thôi không còn là cha nữa
Những áng hùng văn được truyền bằng lửa
Cũng thưa rồi
*
Đất nước tôi…
Các em học tác dụng bao cao su
Và đánh bạn nhừ đòn khi truyền hình trực tiếp.
Dù chúng không ngu!.
.
Mỗi ngày ba buổi học suốt hè –thu
Con cháu trở thành đàn phu chữ
Thả sức nhét nhồi cho đến ngày mệt lử
Buổi trửa về, gặp mẹ, chỉ máy môi

Đất nước tôi
Những khoảng cách xa xôi
Được tạo nên ngay trên bàn nhậu.
*
Nơi bên này hai người thầm thì về gió bão
Và vụ sau coi thiếu giống, thiều người
Thì bên kia tràn ngập tiếng cười
Chứng minh cái văn minh của khách sạn nhiều sao
Và xe hơi nhiều chấm
Đến từ khi bốc được dự án Bê ô Tê…
.
Đất nước tôi
Như một chú lính chì
Cái hào sảng phải thêm vào từ bao nhiêu lời kể
Về bao nhiêu chiến công, mấy lần dâu bể
Cái đúng, cái sai lẫn lộn tùng phèo
*
Chú lính chì mím miệng, mắt nheo
Hoài nghi cả người đang ngợi ca mình ban nãy
Đâu bom đạn điên cuồng, đâu quân thù múa nhảy
Mấy lần đau kể cả lúc thời bình?.
*
Cái thời hết lửa binh
Rồng rắn một hàng tên bao tướng lãnh
Bước lên đài nhận lon, chưa một bận siết cò
Ai xin
Và ai cho?
.
Đất nước tôi
Thong thả những quê làng
Thong thả những lời ru mình bằng bao nhiêu thành tích
Đo đếm quê cha bằng bao nhiêu chiều kích
Làng nhỏ êm đềm xưa
Nay ba bốn chục con nghiện hêrôin
Nơi hai chữ “niềm tin”
Thấp thoáng chìm dần khỏi trang từ điển Việt.
.
Đất nước tôi khát khao mong ước
Tường minh
Công chính
An bình.
.
Lũ mới qua rồi, xóm nhỏ điêu linh
Chờ mỏi mòn chuyến hàng cứu trợ
Từ bên kia đại dương nay còn xếp xó
Chờ chia phần cho lá lành trước lúc xuất kho.
.
Đất nước tôi
Ai cũng xin.
Ai cũng cho.
Đôi trăm triệu một xuất làm thư lại.
Khi người bán lộn tùng phèo không ai trả lại.
Người mua đành chày cối mấy chục năm
Kéo cày cho đến lúc về hưu với hơn triệu bạc
Mỏng tang phận tép nửa đời người.
.
Đất nước tôi, nhìn thoáng những quê làng
Yên ả đấy nhưng máy đo môi trường lóe đỏ
Lượng oxi thưa dần, nay hòa trong gió
Độ đậm than, chì, lưu huỳnh, kẽm, xyanua…

.
Đất nước tôi có người bán, kẻ mua
Sự bất an cho cả từng giấc ngủ.
.
Đất nước biến bao trái tim kẻ sỹ
Chỉ còn mong một lần để được đôi giầy
Dưới chân mình phải, trái thẳng ngay
Mà thấy khó.
.
Tôi hôm nay mất còn cũng dần dần minh tỏ
Chẳng con gì cho em.
.
Chỉ còn những năm tháng nhọc nhằn
Học cách nhìn xuyên thấu đêm
Tìm Đức tin trong chiều dài thời gian đang cạn kiệt!
Tìm niềm vui trong trang sử Việt
Sau thời mười hai sứ quân.
* * *
.
Stt ghi trong những ngày kháng BOT.

Nguyễn Huy Cường

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

FACEBOOK VÀ TIỀN NHÂN

Các Đức/Đấng/Vĩ nhân xưa nếu vào Facebook sẽ nói gì?

.

Khổng Tử hỏi: "Thế nào là người TRÍ, thế nào là người NHÂN ?"
.
Tử Cống trả lời: "Người TRÍ là người làm người khác SHARE mình, người NHÂN là người làm người khác LIKE mình"
.
Tử Lộ đáp: "Người TRÍ là người SHARE người khác, người NHÂN là người LIKE người khác"
.
Nhan Hồi thưa: "Người TRÍ là người tự SHARE mình, người NHÂN là người tự LIKE mình"
.
Khổng Tử lại dạy: "Điều mình không LIKE thì đừng mang câu LIKE người khác" (Thị lai huyễn ngã vật thi ư nhân)
.
Shakespear thì viết stt: "Likes Lie Like Night Light" (Những cái like dối trá giống như ánh sáng màn đêm, hơi ngọng l n)
.
Marx viết trong Câu Like Luận: "Đối với bọn ngàn like thì để có like sẽ bỏ qua thuần phong mỹ tục, like tăng gấp đôi sẽ bất chấp cả luật pháp, còn tăng gấp ba thì bị treo cổ vẫn sẽ làm"
.
Một thiền sư trên đường giác ngộ góp ý: "Lai Như Không Lai, Không Lai Như Lai"
.
Đức Phật dạy: "Câu view câu like là nguồn gốc vô minh". Người còn răn: "Đừng cầu like vì nhiều like thì tâm sinh ngạo mạn"
.
Còn Chúa Jesus lại phán rằng: "Phúc cho những kẻ không thích mà like"
.
Haizz… !!!!

Bạn ta Tửu Hậu Trà Dư sưu tầm
Bạn ta Cong Le góp ý :

Vừa Share,vừa Like=xuống hố cả nút...

VŨ CA

5/1/2017

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

NHỮNG "MỤ" HUẾ VANG BÓNG XƯA NAY...

Mới tháng trước, cộng đồng facebook hỏi nhau tiếng Huế “mụ” nghĩa là chi? Nghe hỏi mà giật mình. Ui chao, giọng Huế thì ai cũng thích nghe, nhưng quả có nhiều ngữ nhiều từ người nghe nơi khác không tài nào hiểu hết.

"MỤ" LÀ CHI RỨA ?
“Mụ” tiếng Huế có nhiều nghĩa:

- Phần lớn người Huế dùng từ “Mụ” đề chỉ người chị gái hay em gái của ôn mệ (ông bà) nội, ngoại. (Ví dụ: Em kế mệ nội tui là mụ Diễm…);- Gọi chị hay em gái “mụ chị”, “mụ dì”. Hò Huế có câu “Đây vốn thiệt là con mụ chị, cháu gọi thiếp bằng dì/ lẽ chi cháu nằm cháu khóc mà mụ dì lại không ru?”. Lại gọi “mụ o” chỉ bà cô - người phụ nữ là chị hay em của bố.

-“Mụ gia”: từ chỉ tên gọi bà sui gia (bà sui), mẹ chồng hay mẹ vợ. Ca dao Huế: “Mụ gia ba bảy mụ gia/ Thương chồng phải khóc mụ gia, gẫm tui với mụ có bà con chi!”.

- “Mụ vợ”, từ để chỉ bà vợ. “Mụ vợ tui”, tức là “người vợ của tôi”, một số nơi gọi là “nhà tôi”. “Mụ mi” từ dùng để chồng gọi vợ (ví dụ: Mụ mi ơi ra đây tui nói cái ni). Các vùng trong Nam gọi là “mình ơi”.

- “Mụ mối”: từ chỉ người làm mai làm mối cho người ta nên vợ nên chồng thưở xưa. Mụ mối là người có danh phận đàng hoàng trong xã hội cũ.

- “Mụ tra”: chỉ người phụ nữ lớn tuổi.

- “Mụ vú”: từ chỉ người phụ nữ lo việc săn sóc sản phụ và trẻ con khi vừa mới sinh.

- “Bà Mụ”, là tên gọi nữ thần phù hộ cho con nít mới sinh, thường trẻ em tròn 1 tháng tuổi người Huế tổ chức cúng đầy tháng, gọi là “Cúng Mụ”.

- Mụ (Mệ): Ngày xưa trong dòng hoàng phái, bên cạnh việc gọi người đàn ông là “mệ”, đôi khi cũng gọi là “mụ”.

- Mụ nớ: chỉ người phụ nữ ngôi thứ 3 - mụ kia. (ví dụ: Mụ nớ thiệt thà lắm).

- Mụ cô mi: cụm từ dùng để chửi rủa…

Vậy, từ “mụ” trong tiếng Huế đa phần là đại từ chỉ người phụ nữ có quan hệ thân thiết trong gia đình. Từ “mụ” khi dành để gọi người phụ nữ ngoài xã hội cũng là cách gọi trân trọng. Cũng có những từ ghép có chữ “mụ” dùng để chửi rủa, miệt thị… Từ “mụ” nhiều khi được dùng như từ “bà” ở các nơi khác (mụ nớ, bà kia)...

VÀI "MỤ" NỔI TIẾNG TRONG DÂN GIAN HUẾ
“Mụ”, “Mệ” nổi tiếng trong chốn cung đình thì nhiều, ở đây nhớ đến vài “mụ” mà dân gian nhắc mãi, như mụ Cửu Ới, mụ Liếc, mụ Rớt, mụ Đợi…

- Mụ Liếc đi vào trong tâm thức dân gian Huế là người phụ nữ mập mạp, to lớn hơn người. Có lẽ mụ là người đàn bà nặng nhất Huế xưa nay. Mụ làm nghề thầu bến đò Thừa Phủ, chuyên ngồi trên bến thâu tiền chứ không dám xuống đò vì sợ đò... chìm.
Xưa có câu đố:
“Mụ chi vóc dáng đẫy đà
Khuôn trang đầy đặn thịt thà nở nang
Ăn làm răng nói làm răng
Xích lô sợ chạy, đò ngang sợ chìm?”.

Trả lời:
“Mụ Liếc vóc dáng đẫy đà
Nặng gần hai tạ ngó mà sướng ghê
Phần trên phía dưới đề huề
Ngồi xe, xe xẹp, ngồi ghe, ghe chìm”.

- Mụ Rớt là danh nghệ chủ nhân món bún bò giò heo Huế nổi tiếng những năm 1960,1970 ở vùng Gia Hội. Hồi đó qua cầu Gia Hội, về sau lưng chùa Diệu Đế có một căn nhà nhỏ bán bún bò. Quán không đề tên bảng hiệu, vậy mà lúc nào cũng đông người tìm đến ăn bởi “tiếng lành đồn xa”. Bún bò mụ Rớt nấu rất khéo, tô bún ở hàng 'ngon nhất trần gian'. Tô bún ý nhị với những sợi bún trắng, miếng giò heo đầy đủ da, nạc, xương, cộng thêm vài lát thịt bò xắt mỏng nổi bật những đường gân trắng ngà, ớt đỏ, hành ngò xanh, chan thêm vá nước dùng trong vắt mà rất thấm đượm. Tô bún không quá lớn đúng kiểu ăn thanh cảnh của người Huế, dễ cho người ăn vừa bưng, vừa húp, vừa và xì xà xì xoạp, miệng hít hà ớt cay, vô cùng khoái khẩu.

Trong nỗi nhớ quê nhà từ phương xa, nhiều người Huế nhớ hình ảnh tô bún Mụ Rớt như niềm thương nhớ món ngon mẹ hiền xưa… Học giả Vương Hồng Sển có lần ăn xong về da diết nhớ. Trong bài “Lai rai nhớ lại những món ăn Huế”, ông kể: “Cái mụ buôn bán lạ kỳ: ăn một tô chưa thấm tháp vào đâu, vì tô có một chút nhéo. Kêu thêm tô thứ nhì, ăn lưng lửng biết mùi, kêu tiếp tô thứ ba, mụ trả lời cộc lốc: “Hết rồi”!... Một người nướng thịt biệt tài dường thế, chết thật uổng”.
Dân gian Huế có câu đố:
“Mụ chi nổi tiếng ầm ầm
Chưa đi đã té, chưa cầm đã rơi
Ngày nay mụ đã qua đời
Mà trong thiên hạ lắm người mượn tên”.
Trả lời:
“Mụ Rớt nổi tiếng ầm ầm
Ngự Viên, Gia Hội ai nhầm được tên
Tiếc thay phần số không bền
Chu du thiên cảnh sống miền thiên thai
Thế gian thương mụ nhiều tài
Bún bò tên mụ ăn hoài chẳng no”.

- Mụ Cửu Ới nổi tiếng cái món thuốc lá Cẩm Lệ những năm 1960. Không chỉ dân Thừa Thiên đều hút thuốc của mụ pha chế, ngay dân các tỉnh lân cận như Quảng Trị, Quảng Nam cũng gởi mua cho được thuốc Cẩm Lệ của mụ. Có điều thú vị là thuốc lá Cẩm Lệ lại do làng Cẩm Lệ thuộc tỉnh Quảng Nam sản xuất, mụ Cửu Ới đưa ra Huế "phù phép" thành thứ thuốc khiến người ta ghiền. Dễ đến nửa thế kỷ, thuốc Cẩm Lệ đã gắn bó với sinh hoạt nhiều gia đình người Huế từ những năm 1960…

Các mụ nói trên giờ đã đi vào cõi sương mù, cái tên Bún bò Mụ Rớt ở Huế nhiều người treo biển, nhưng là mượn danh mà thôi. May thay, món Bún bò Mụ Rớt hiện con cháu vẫn còn giữ công thức gia truyền tại Kim Long Quán ở đường Trần Quang Diệu, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

- Nhưng Huế đương đại thì hiện vẫn còn “Bánh canh Mụ Đợi”. Bánh canh Mụ Đợi nguyên thủy nằm ở con hẻm nhỏ ở đường Đào Duy Anh - Huế. Quán cũng không bảng hiệu, ấy nhưng có gần 35 năm tồn tại, lại là nơi dừng chân của đông đảo thực khách. Tô bánh canh ở đây được nấu riêng cho từng khách, khi khách đến quán mới bắt đầu nấu nước và thả bột, lấy chả, bóc tôm để đảm bảo cho tô bánh canh luôn tươi nóng. Làm vậy nên thời gian chế biến rất lâu, chờ lâu nên cái tên "Đợi" được hình thành và được truyền miệng, trở thành thương hiệu “Bánh canh Mụ Đợi”. Ngoài việc tô bánh canh chỉ có mấy sợi bột theo kiểu hương hoa, muốn ăn thêm thì phải kêu trước thêm tô nữa; nó còn có điểm khác biệt là muốn thưởng thức thật ngon thì thực khách tự mình phải thật chi ly trong vấn đề thêm gia vị. Thực khách tự mình nêm muối, bột ngọt, tiêu, tương ớt, hành ngò sao cho hợp với khẩu vị, vô cùng dân chủ, tự do.

Hiện nay thì “Bánh canh Mụ Đợi” đã được rất nhiều người biết đến. “Bánh canh Mụ Đợi” đã mở thêm vài chi nhánh ở đường Nguyễn Trãi và đường Ngô Gia Tự. Thế nhưng nhiều người vẫn muốn tìm về con hẻm nhỏ ngày xưa.

Bài, ảnh: VÕ TRIỀU SƠN
(BNQ t/h)
.......................
Chú thích ảnh:
1) Nhiều thực khách tìm đến Kim Long Quán để thưởng thức hương vị bún bò Huế ngày xưa.
2) Tô bún bò giò heo Mụ Rớt do con cháu chế biến theo công thức gia truyền nay còn lưu giữ tại Kim Long Quán, quận 3, TP. Hồ Chí Minh
3) Bánh canh Mụ Đợi, khách tự nêm nếm gia vị cho riêng mình.

CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG

CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG ( SIDDHARTHA)
Hermann Hesse
Quyển "Câu Chuyện Dòng Sông" dịch từ truyện " Siddhartha" trong tập Weg Nach Innen ( Đường về nội tâm) của Hermann Hesse .
Hermann Hesse là một văn hào của văn học Đức thế kỷ XX, sống cùng thế hệ Thomas Mann, Werfel, Wassermann, & E.V. Salomon.
Hermann Hesse  sinh năm 1877, được thưởng giải Nobel năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904) Demian (1919) Der Steppeppwolf (1927) Narziss und Goldmund (1930) Das Glaserlenspiel(1943).
Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt:
"Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này’’
Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển Câu chuyện dòng sông.
Đọc Câu chuyện dòng sông, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. Câu chuyện dòng sông là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta: đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tận.
"Câu Chuyện Dòng Sông "của Hermann Hesse là chuyện về chàng Tất Đạt  người đi tìm phương cách cởi bỏ nỗi khổ trần gian hướng tới một thế giới tâm linh giải thoát. Ban đầu chàng tu khổ hạnh, rồi sau bỏ theo đức Phật nghe thuyết pháp. Rồi vẫn không thỏa lòng, giống như các thiền giả trải nghiệm một công án, chàng dấn thân vào đời thực, thử sống như một con buôn kinh qua chuyện kinh doanh buôn bán, rồi lại hưởng thụ thú vui nhục thể với một người đẹp. Tâm linh, trí tuệ, nhục cảm, đó là những mặt khác nhau của thế giới mà Tất Đạt trải nghiệm trước khi tìm ra con đường thật mà mình phải đi.
Tất Đạt khởi từ những thắc mắc về cha mình,  tu sĩ Bà la môn:
“Ông sống một đời sống tốt đẹp, lời nói thì khôn ngoan, tư tưởng thì thanh cao, tế nhị -- nhưng cả đến ông, người biết nhiều như thế, ông sống có hạnh phúc chăng? Có được bình an chăng? Ông lại không là người không ngớt tìm kiếm đó sao? Ông lại không liên tục tìm đến nguồn với cơn khát không bao giờ được thoả mãn đó sao?”…
Và:
“Thế thì linh hồn không có ở trong cha hay sao? Nguồn suối không có sẵn trong chính tâm ông sao?”
“Người ta phải tìm thấy nguồn ở ngay trong tự thân mình, phải chiếm hữu nó. Mọi việc làm khác đều là mò mẫm sai lầm.”
Đây đâu phải là ý nghĩ của riêng Tất đạt, nó là ý nghĩ của tất cả chúng ta, cái tuổi của những bất mãn về cuộc đời.
“Chàng nhìn những thương gia buôn bán, các ông hoàng đi săn, những người tang chế khóc người chết, những người kỹ nữ bán thân, các bác sĩ săn sóc bệnh, những tình nhân đang tình tự, những người mẹ đang vỗ về con. Và tất cả không đáng một cái nhìn thoáng qua, tất cả đều lừa dối: hạnh phúc và sắc đẹp đều là ảo ảnh của giác quan -- tất cả đều đưa về huỷ diệt. Thế gian đượm vị đắng cay. Cuộc đời là nỗi đau khổ.”
Tất Đạt chỉ có một mục đích duy nhất là trở thành trầm tĩnh. Không khao khát, không ham muốn, không mộng mị, không vui và không buồn. Để cho cái ngã tiêu diệt – không còn ngã nữa, chứng nghiệm được sự bình an của một tâm hồn tịch mịch, chứng nghiệm tâm linh thuần tuý”.
Chàng sống khổ hạnh, khắc kỷ như rất nhiều thanh niên đã thử trải nghiệm, dưới một hình thức nào đó…
“Chàng phiêu du qua các đoạn đường diệt ngã bằng khổ đau, qua sự đau khổ tự nguyện và chiến thắng khổ đau, qua đói khát và mệt nhọc. Chàng phiêu lưu qua những con đường diệt ngã bằng trầm tư, bằng gạn lọc khỏi tư tưởng sạch hết mọi hình ảnh. Chàng đã học trải qua những con đường này và những con đường khác. Chàng diệt ngã được một nghìn lần và có những ngày chàng đã sống trong phi ngã.”
“Những con đường đưa chàng ra khỏi ngã, cuối cùng chúng luôn luôn đưa chàng trở lại ngã. Mặc dầu Tất Đạt rời bỏ ngã một ngàn lần, sống bằng phi ngã trong con vật hay đá, đất, sự trở lại vẫn không thể tránh”.
Chàng chứng nghiệm về tu khổ hạnh, như nhiều chàng tuổi trẻ trong chúng ta đã chứng nghiệm, bằng cách này hay cách khác.
“Thiền quán là gì? Bỏ quên tự thân là gì? Nhịn đói là gì? Điều hoà hơi thở là gì? Đó là sự vượt ra ngoài Tự ngã, đó là sự vượt ra ngoài dày vò của Tự ngã trong nhất thời, những viên thuốc tạm bợ chống lại đau khổ và điên đảo cuộc đời: người đánh xe bò cũng dùng lối thoát đó, phương thuốc nhất thời đó khi ông ta uống ít chén rượu nếp trong quán; ông ta không còn cảm thấy có mình nữa, không còn cảm thấy khổ đau của cuộc đời, và như thế, ông chứng nghiệm sự thoát ly trong chốc lát. Gục trên chén rượu nếp, ông ta biết được cái mà Tất Đạt và Thiện Hữu tìm thấy khi chúng ta thoát khỏi tự thân bằng những tập luyện dài và sống trong vô ngã.”
Rồi chàng gặp đức Phật, thấy ở người vị thày thánh thiện mà mình tìm kiếm, nhưng cũng đồng thời thấy rằng phải tự mình tìm ra con đường cho chính mình. Không theo đức phật như bạn chàng là Thiện Hữu, chàng quyết định từ giã ra đi…
Chàng gia nhập cuộc đời trần thế.
Chương “Giữa Xã Hội” đầy những tư tưởng minh triết một cách lạ lùng về cuộc sống của loài người. Tất Đạt tìm hiểu và sống giữa trần thế với phong cách ung dung như một sa môn giữa chúng sinh.
Nhưng rồi chàng bắt đầu chán ghét cuôc sống đó, nó đã biến đổi con người chàng thanh tầm thường dung tục, và chàng cảm nghiệm được điều đó. Một lần nữa chàng muốn thoát ra…
Chàng sẽ tiếp tục tìm kiếm chính từ tâm tưởng mình qua một đối tác là dòng sông. Nói chuyện với dòng sông cũng là nói chuyện với chính mình.
Tất Đạt rồi cũng tìm được điều mình đã tìm
Tất Đạt về với dòng sông.
Chỉ còn người đọc là lan man phương trời miên viển
Đoạn cuối “Câu chuyện của Dòng Sông” Hesse viết khá dài, đào sâu vào tâm tưởng Tất Đạt, ông khiến người đọc tưởng như cứ nghiền ngẫm Câu chuyện của Tất Đạt với Dòng sông là có thể tìm ra Con Đường, và đọc giả có thể cứ theo đó mà đi. Quên rằng mỗi người phải tự tìm lấy dòng sông của mình, con đường của mình.
Tuyệt kỹ của Tất Đạt  là “nhịn đói” và qua tuyệt kỹ đó ta càng thấy rằng chàng đúng là một “kỳ nhân”.
Nói rộng hơn nữa, con người ta mà thoát được cái say mê tiền bạc vật chất thì là tiến thêm một bước vào sự giải thoát.
Nhân vật của Hesse cho ta thấy rằng cuộc sống vật chất là hoàn toàn không đủ, không thể là cứu cánh của cuộc đời . Mục đích của cuộc đời phải tìm ở những giá trị tinh thần. Và họ vật vã đi tìm…
Ai coi “Câu chuyện của Dòng sông” là Đạo, là Con Đường Giải Thoát đều là lầm tưởng cả.
Mà ai coi Kinh Phật là Đạo, là Con Đường Giải Thoát cũng là lầm nốt vậy .
Phật đã nói: “Tất cả kinh sách đều là ngón tay chỉ mặt trăng". Sở dĩ có luận điểm ấy bởi tất cả các tông phái đều đắm chìm trong việc luận bàn kinh sách siêu hình viễn vông mà xa lìa tâm điểm là kinh nghiệm giải thoát của đức Phật.
Kinh nghiệm ấy là quan trọng nhất và tất cả những kinh sách chỉ là ngón tay để chỉ vào những kinh nghiệm ấy. Phản ứng của thiền tông là chặt bỏ ngón tay ấy mà đi thẳng vào tinh tuý của sự Giác- Ngộ.
Đọc "Câu Chuyện Dòng Sông" là lên đường đi đến đời sống tâm linh huyền bí nhất của cả một đời người. "Câu Chuyện Dòng Sông" nói lên niềm thao thức triền miên của một thanh niên trên đường đi tìm ý nghĩa đời sống. " Câu Chuyện Dòng Sông" của Hess đáng là quyển THÁNH KINH của thanh niên giửa cơn khủng hoảng phủ phàng của thời đại.
TuanPolo Vo

NHỮNG NGƯỜI THẦY DẠY SỬ.

Năm 1967 tôi bắt đầu vào học lớp nhất (lớp 5 bây giờ) tại trường tư thục Đắc Lộ (Tân Bình). Vẫn nhớ rất rõ đức cha Vũ Khánh Tường là hiệu trưởng, thầy phó là linh mục Nguyễn Hiến Thành. Học ở đây cho đến cuối năm 1972 thì chuyển sang trường tư thục Nguyễn Duy Khang (Thị Nghè) mấy tháng rồi sang trường Võ Trường Toản (Quận 1) học cho đến ngày 30/4/1975.

Mấy tháng sau (khoảng tháng 9/1975) tôi và mấy người cùng lớp còn ở lại Việt Nam được gọi về Sài Gòn dự thi khóa tốt nghiệp trung học đầu tiên của nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội đồng thi trường Petrus Ký (Lê Hồng Phong bây giờ). Bằng cấp tốt nghiệp trung học lúc ấy do ông Nguyễn văn Kiết hàm bộ trưởng ký, sau này không nghe nói tới tên ông ấy nữa.

Bảy năm 1967- 1975 tôi học hành lam nham lắm, trong khi các anh chị học chung lớp thì thường quan tâm tới mấy môn toán- lý- hóa để chuẩn bị thi tú tài cho tốt theo chương trình ban B, riêng tôi cảm thấy ít quan tâm thích thú mấy môn học đó. Có nguyên do làm tôi dốt toán- lý- hóa, chắc vì các môn đó bản chất đã khô khan với nhiều công thức rối rắm khó nhớ, mà các thầy các cô giảng bài lại ê a gây bệnh buồn ngủ cho học trò.

Số phận học dốt toán- lý- hóa lại gắn bó tôi với các thầy dạy môn lịch sử. Môn lịch sử cấp phổ thông trước năm 1975 dạy chung với môn địa lý, học trò nào tâm hồn thích lãng du mà chịu học chịu đọc các sách vở sử địa viết trước năm 1975 khi về già uống cà phê hay uống bia thường trở thành các diễn giả rất “độc chiêu”. Còn nếu chỉ được đọc các sách vở lịch sử hay địa lý thời bây giờ thì khó mà biết được các chi tiết “chẳng ra làm sao” của lịch sử nước nhà để mà kháo chuyện.

Chẳng ra làm sao… là bản chất thực tế oái oăm của mọi sự việc trên đời và của lịch sử. Chứ nếu cái gì đó đã ra làm sao, đã có kết quả vuông tròn, đã viên mãn, đã huy hoàng… thì thực ra không đáng để nói nhiều nói mãi. Giống như ta cứ đưa ngón tay lên trời để khoe chiếc nhẫn kim cương mắc tiền mới mua được, thì có ngày viên kim cương trên chiếc nhẫn rớt mất mẹ hồi nào ta chẳng hay chẳng biết.

Năm 1968 tôi vào lớp đệ thất (lớp 6) thì bắt đầu được học sử với thầy Trần Ngọc Liên, một thầy tu xuất khi còn dạy học ngoài Bắc có biệt danh là “Liên đen”. Da của thầy đen kịt, người ốm còm đen thui từ đầu tới chân. Năm mươi năm sau khi nhớ về thầy, tôi chỉ còn nhớ rõ cái miệng. Chỉ riêng cái miệng là không đen, môi thầy đỏ chót lại ăn nói hết sức duyên dáng trẻ trung dù năm ấy thầy đã quá 40 tuổi rồi. Lớp đệ thất (lớp 6) bắt đầu học sử từ thời vua Hùng Vương dựng nước cho tới Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên Mông, nhưng thầy Liên chỉ thích kể chuyện hấp dẫn thời vua Lê chúa Trịnh.

Học với thầy Liên sướng nhất là không phải chép bài cũng không phải trả bài, mỗi lần vào lớp thầy ghi lên bảng đen ông vua này làm vua từ năm nào tới năm nào, ghi được khoảng năm hay mười đời vua thì bỏ mặc đó… và bắt đầu kể chuyện Trịnh Nguyễn đánh đấm ra làm sao, Quang Trung nổi dậy tài tình như thế nào, Nguyễn Lữ chơi đá gà quên chuyện nước non… Nhưng hay và hấp dẫn nhất là vì sao mà các người trí thức tiểu tư sản đã bỏ Việt Minh “dinh tê” về thành rồi sau đó lên tàu Mỹ di cư vào Sài Gòn.

Thầy Liên giảng: Từ “dinh tê” ngoài Bắc trước năm 1954 được sáng tạo và xử dụng như một động từ. Chữ “dzinter” có cách chia (conjugaison) các thời và các mốt giống như chúng ta chia động từ “aimer” vậy. Hồi nhỏ bán tin bán nghi, sau này được đọc các bài viết của ông bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, tôi mới biết thầy Liên nói thật chớ không đùa. Chương trình dạy học phổ thông hồi trước mang tính hướng dẫn, giáo viên có thể giảng cương, giáo trình thì không bắt buộc… có phải vì không được học “tủ” như vậy nên hồi đó rất ít người thi đậu tú tài? Có phải vì bắt chước theo cách đặt động từ mới theo kiểu Pháp là “dzinter” mà sau này có động từ “to quơ” theo tiếng Anh?

Năm 1969 thì miền Nam bắt đầu đổi tên các bậc học giống như bây giờ. Tiểu học có các lớp 1, 2, 3, 4, 5 (thay cho lớp 5, 4, 3, nhì, nhất), trung học đệ nhất cấp có các lớp 6, 7, 8, 9 (thay cho đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và đệ tứ), trung học đệ nhị cấp có các lớp 10, 11, 12 (thay cho đệ tam, đệ nhị và đệ nhất). Bỏ kỳ thi tiểu học khá sớm (vào khoảng năm 1955- 1956) để chuyển thành kỳ thi vào lớp đệ thất trường công lập, học sinh nào không vào được lớp đệ thất hay lớp 6 trường công lập được thì ra ngoài ghi tên vào học ở các trường tư thục. Từ thời ông Ngô Đình Diệm, bằng tiểu học (primaire) không còn được sử dụng để xin việc như thời Pháp nữa.

Năm 1963 (nếu tôi không lầm) thì chính quyền Sài Gòn bỏ kỳ thi trung học đệ nhất cấp (diplôme). Năm 1972 thì bỏ kỳ thi tú tài 1 (học hết lớp 11 thì thi tú tài 1- baccalauréat 1) nên sau năm 1972 đi học suốt 12 năm mới phải thi cuối cấp một lần gọi là thi tú tài toàn phần hay tú tài 2 (baccalauréat 2).

Có tú tài mới học tiếp lên đại học được, muốn vào các đại học phải qua cuộc thi tuyển đầu vào hết sức gắt gao mà tỉ lệ trúng tuyển chỉ vài phần trăm. Chỉ có các trường sau là cho ghi danh tự do vào năm thứ nhất hay năm dự bị: Văn khoa, Khoa học, Luật khoa… Tuy nhiên dù số lượng sinh viên ghi danh vào năm đầu các trường này rất đông nhưng lên năm thứ hai thì còn rất ít vì thi cử bậc đại học hồi đó khá khó khăn.

Tính cho đến năm 1974, tỉ lệ thi đậu các kỳ thi tú tài ở miền Nam ít khi nào vượt quá năm mươi phần trăm, nên nhiều anh chị cho là “học tài thi phận” vì chưa chắc học giỏi sẽ thi đậu được. Thi đậu tú tài mới được học sĩ quan quân đội, mới lên làm “xếp” được, nên hồi đó đất Sài Gòn có mấy câu thơ buồn: Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con. Đến ngày thanh bình nước non, anh về anh thấy Mỹ con ở truồng…

Áp lực thi cử tại các lớp cấp thấp trái lại không nhiều nên thầy cô ít khi ép học sinh vào lớp học thuộc học vẹt khổ sở như thời bây giờ. Các môn sử địa và văn được phép dạy và học khá thoải mái, không buộc thầy và trò phải gò bó theo sát một giáo án gắt gao.

Nên khi tôi lên lớp 7 việc dạy sử của thầy Liên còn hấp dẫn hơn nữa, chương trình sử năm đó là từ thời Trần cho tới hết thời Lê… nhưng thầy chỉ lo kể chuyện Pháp đánh Việt Nam, rồi Việt kháng Pháp. Có nói nguyên nhân tại sao mấy người học trò trí thức như thầy đã bỏ Hà Nội lên Việt Bắc, rồi khi gặp cải cách ruộng đất và mấy cái ba lăng nhăng khác lại bỏ về thành. Cái lạ là thầy Liên và các người như thầy đã chẳng hề trách cứ ai, cũng chẳng tuyên truyền cho học trò căm ghét cộng sản.

Đó là cái rất lạ, cái lạ đó dẫn dắt tôi mấy chục năm sau phải dùng hết quãng thời gian ngắn ngủi còn lại của đời mình đi tìm hiểu cho ra “thái độ thật sự của trí thức Bắc Hà đối với các loại chính quyền”. Mà rồi ngộ ra: Mối tình đầu bao giờ cũng đẹp dù chưa chắc đúng. Sau này vì một hoàn cảnh nào đó phải nói lời chia tay, người biết yêu bao giờ cũng sẽ chẳng hết yêu được, họ chẳng thể nào quên mối tình đầu dù bị bạc bẽo lừa dối ra sao.

(Không biết tôi nghĩ vậy có đúng không?)

Năm lớp 8 và năm lớp 9 tôi được học sử địa với thầy Dương Ngọc Sum người Nam Bộ theo đạo Phật đang mang lon thiếu tá quân đội Sài Gòn. Ông Sum là một trí thức Nam Bộ từng đi lính cho cả hai chế độ Việt Minh và Quốc gia, lúc ấy ông vừa đi dạy học vừa làm phụ tá cho tướng an ninh Đặng văn Quang. Khác với thầy Trần Ngọc Liên tìm tòi tự học sử, thầy Sum là cử nhân sử địa nên cách chỉ dạy, cách diễn đạt khá chuẩn mực dù ông không bao giờ bắt buộc học trò phải học thuộc lòng.

Mười mấy năm sau về lại Sài Gòn làm nghề đại lý hàng hải, tôi vẫn nhớ ơn ông về cách xem bản đồ, cách nhìn hải đồ và cách tính cự li vận tải… mà hồi nhỏ đã từng được ông chỉ dẫn dù rất qua loa trong mấy giờ học sử địa lớp 9. Thầy Sum ưa xưng “qua” theo kiểu miền Nam với học trò: Qua nói cho mấy em nghe nghen, chẳng có chế độ nào xấu, chỉ có con người xấu xa thôi. Thầy Dương Ngọc Sum dù đi lính nhưng lại là một trí thức thiên tả, có màu sắc xã hội khá đậm nét nhưng phảng phất tính cách chính trị dân tộc của nhóm Đệ Tứ như Phan văn Hùm, Trần văn Thạch, Tạ Thu Thâu…

Thầy Sum có sự hiểu biết khá sâu sắc về các nhân vật kháng chiến Nam Bộ thuộc các phe phái chính trị khác nhau và không ngần ngại giảng giải cho học trò lớp 8 lớp 9 nghe hết chuyện ông này bà kia. Hồi đó chúng tôi mới mười ba mười bốn tuổi nhưng chắc là trưởng thành sớm hơn các em cùng tuổi bây giờ nhiều lắm, một phần do chiến tranh khốc liệt mà một phần cũng do các thầy cô ngày đó khá tôn trọng học trò nhỏ tuổi, họ coi học trò là những đối tượng cần phải trao đổi kiến thức đời thường hơn là phải bị giáo dục nhồi sọ. Hồi đó giáo dục chủ yếu là giáo dục, chỉ có thầy cô nào bị giựt dây mới cố ý đem chính trị vào lớp học, mà số đó thì rất ít. Những người ưa đem tuyên truyền vào lớp học dù theo chiều hướng nào về sau rất ít được học trò coi trọng.

Hiệu trưởng trường tư thục Đắc Lộ là một tiến sĩ sử học tốt nghiệp năm 1953 tại Pháp với luận án “Giáo hội sơ khai tại Việt Nam”. Trường tư thục Đắc Lộ và tu hội Đắc Lộ do linh mục Vũ Khánh Tường sáng lập vào năm 1961. Cha Tường sinh năm 1925 tại làng Phú Nhai, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1949, ông Tường được giáo hội cử sang Pháp du học tại phân khoa sử học của trường Institut Catholique de Paris và tốt nghiệp tiến sĩ sử học vào năm 1953.

Ông về nước năm 1956 và được cử làm phụ tá cho đức giám mục Phạm Ngọc Chi. (Hai năm ngắn ngủi làm phụ tá cho ông Chi chắc có lẽ là nguyên do gây ra những tai ương cho cuộc đời hiền hòa của ông Tường sau năm 1975. Trước năm 1954, ông Phạm Ngọc Chi là người chỉ huy lực lượng tự vệ Công giáo nổi tiếng chống Cộng tại Bắc Việt. Việc cha Tường làm phụ tá cho ông Chi một thời gian ngắn, dù tại Sài Gòn sau năm 1954, có lẽ đã gây ra cho chính quyền mới sau năm 1975 những hiểu lầm rất tai hại về ông Tường.)

Năm 1958- 1961 linh mục Vũ Khánh Tường không còn làm phụ tá cho cha Phạm Ngọc Chi. Ông được cử làm hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân tại quận 1). Năm 1961 ông Tường về Tân Bình lập tu hội và trường Đắc Lộ với các phương châm truyền giáo, văn hóa, giáo dục. Đắc Lộ phát triển nhanh chóng, các lớp học ban đầu dạy trong những căn nhà nhỏ tạm bợ, thời gian sau đã thành một trung tâm giáo dục trung tiểu học từ lớp 1 đến lớp 12 với gần ba ngàn học sinh, với một ký túc xá 500 giường ngủ. Đặc biệt sau năm 1971, một phân khoa Nhân Văn của trường Đại Học Minh Đức đã được thành lập ở đây.

Linh mục Vũ Khánh Tường đi học tập cải tạo năm 1978 và mất năm 1980. Nguyên nhân ông bị chính quyền bắt đi học tập không phải là chính trị mà là do tội “tuyên truyền mê tín dị đoan”. Rất đáng tiếc khi những tài liệu sử học về giáo hội Công giáo Việt Nam và lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ 17 đến thế kỷ 20 mà ông đã dày công biên soạn do không ai dám gìn giữ nên thất lạc gần hết.

Người dạy sử trong hai năm học cuối bậc phổ thông cho tôi là thầy Nguyễn Khắc Ngữ, một nhà sử học chuyên nghiệp gốc Phật giáo Bắc di cư.

Đó chắc là may mắn cuối cùng trong cuộc đời đi học... dốt. Thầy Ngữ trước năm 1975 viết khá nhiều sách giáo khoa sử địa, các công trình nghiên cứu sử học thời cận đại của ông được Sài Gòn đánh giá là khá công minh và khoa học, không mang định kiến chính trị chính em nhiều. Tác phẩm cuối cùng ông viết trước khi lên máy bay di tản là “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa”. Đây là một sử liệu ngắn gọn nhưng có giá trị lịch sử cao, nó trình bày rõ về nguyên nhân cũng như các tiến triển logic về sự sụp đổ không thể tránh khỏi của Sài Gòn trong năm 1975. Các nhận xét về các chính trị gia Sài Gòn trong cơn bão lớn khá sắc nét.

Sách của thầy Ngữ viết khá nhiều trước năm 1975 nhưng sau năm 1975 những cuốn sách này do không được phép lưu hành gìn giữ nên cũng nhanh chóng biến mất tiêu. Khác với thầy Trần Ngọc Liên và thầy Dương Ngọc Sum ưa kể chuyện cho học trò nghe, giờ lên lớp của thầy Ngữ thực sự là cuộc trao đổi ý kiến giữa thầy và trò về những gì mà ông đã viết trong sách. Chắc ông muốn xem sách mình viết vậy có đúng không, sách mình viết vậy có lôi cuốn không, học trò có tin tưởng những gì mình viết hay không? Thầy Ngữ nói chuyện không lưu loát lắm nhưng viết thì rất sâu sắc, khi trao đổi với học trò khá chậm rãi chân tình. Nói chuyện với ông, học trò cảm thấy mình là người lớn… dù lông cánh chưa có đủ.

Thầy Ngữ tiếp tục nghiên cứu, dạy học và viết lách ở nước ngoài nhưng nay thầy cũng đã biến mất vào hư không rồi.

Sau năm 1975 tôi không còn đi học, và từ đó tới cuối cuộc đời dài không được học sử với những vị thầy dạy sử đáng kính nữa. Kiến thức về sử học của tôi cho tới bây giờ cũng lam nham như toán- lý- hóa hồi còn học phổ thông. Mấy năm nay dù rất tha thiết viết “xử” bắt chước cho giống các thầy dạy ngày xưa nhưng tôi biết rõ mình viết “chẳng ra làm sao”. Nhưng thôi cứ viết, vì không viết thì chẳng biết phải làm gì.

Vẫn viết dù biết: Viết chẳng biết ra làm sao!

MOMENTARY
17/12/2017.