Thứ Ba, 13 tháng 5, 2008

Ai cứu Xóm Chùa?

Trong bài phát biểu tại Quốc hội ngày 9/5 vừa qua, GS Nguyễn Lân Dũng có "kêu gọi" các đại biểu QH, các đồng chí lãnh đạo đọc tác phẩm "Trinh tiết Xóm Chùa" của nữ sĩ Đoàn Lê để thấy phần nào hiện trạng nông thôn sau từ ngày "Mở cửa".

xomchua13.jpg
 

GS có gửi cho chúng tôi bài " Ai cứu Xóm Chùa?". Thiết nghĩ, nó vượt qua lời giới thiệu cuốn sách thông thường mà câu hỏi, trăn trở của đại biểu QH Nguyễn Lân Dũng nói lên tâm nguyện của cả triệu cử tri tới những nhà hoạch định chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn...

Xóm Chùa là tên một làng quê được nhắc đến trong nhiều truyện ngắn của nữ tác giả Đoàn Lê (trong tập Trinh tiết Xóm Chùa, NXB Hội Nhà văn). Có thể đó không phải là một địa danh thật và không phải mọi câu chuyện ở đây đều xảy ra tại một làng quê cụ thể nào.

Nhưng với cái nhìn sắc sảo và nhân ái của tác giả, tôi tin là những câu chuyện xảy ra liên quan đến cái Xóm Chùa này đều là những chuyện có thật tại nông thôn nước ta từ ngày "Mở cửa". Nữ sĩ Đoàn Lê đã làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho tương lai của nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua.

Xóm Chùa hay Xóm Chùa Ông là nơi dân chúng tụ tập lại sống quanh khu lăng mộ của một liệt sĩ dòng tôn thất nhà Trần. Xóm Chùa đang yên lành thì náo động lên bắt đầu từ cái cát-sét có được sau ngày giải phóng. Nó làm đủ mọi nhiệm vụ trong đám cưới, đám tang. Không ngày nào không có người tìm đến chủ nhân với hàng đống các loại băng khóc cha, khóc mẹ, loại dành riêng cho con dâu, con rể, con nuôi, có cả loại kinh Phật dành cho đối tượng đang "thập tử nhất sinh".

Cú sốc lớn hơn là từ ngày cái Nhớn được tuyển làm diễn viên ở Trung ương quay về làng với hai mắt xanh lè, mí mắt rắc nhũ óng ánh, mặt mũi chỗ đỏ, chỗ nâu, quần áo miếng xanh, miếng tím... Rồi lại xuất hiện cái ti-vi cho cả xóm xem chung. Tiếp đến bà Chiu bán rượu nếp bị chiếc xe của Tây móc vào đòn gánh kéo lê một quãng gây xây xát nhẹ mà được đền tới 400 đô-la, khiến cho nhiều người ao ước được vướng vào xe của Tây như bà (!). Rồi chuyện cô gái lai đen tên Mừng chuyên hủ hóa với trai làng và quy đổi ra...gạo.

Nhưng chưa có gì đáng xáo trộn bằng chuyện mở đường cao tốc qua làng làm tha hóa cả một tầng lớp cán bộ thất học và tham lam. Chủ tịch xã Quang sau bốn năm cầm quyền, bằng cách nhử mồi câu cá, sợi dây "bảo hiểm" cho gã hoạn lợn đã dài tận huyện, tận thành phố, gã cóc sợ ai nữa. Gã thường bật cười bảo dân xóm Chùa: Các vị đi xe đạp lên tỉnh kiện tôi sao nhanh bằng tôi đi xe máy(!).

Thế là lão bán đứt Khu vườn cây của các cụ cho Viện cây giống. Nhưng sự thật là “Viện đứng nhận lấy danh nghĩa thôi. Họ chỉ có ba suất. Còn bác Thái (bí thư) lo cho bảy suất con cháu anh em trong nhà…Còn mười suất phía ông Quang chủ tịch mặc ông ấy lo… Ông biết Viện trưởng Viện cây giống là ai không? Chồng con Cúc gọi nhà dượng Tám gọi chúng tôi bằng bác họ” …

Thế đấy, họ Đào vươn ngành, vươn chi như vòi bạch tuộc, bám vào đất xóm Chùa chưa thỏa, sao còn dây mơ rễ má, cốt che mắt thiên hạ ăn cướp với nhau. Họ tranh cướp nhau mặt đường đến nỗi lão Hớn đã nói: “Để có rẻo mặt đường dưới âm, cần phải chết sớm tranh đất, tôi xin chết ngay”.Thiêng thật, sau khi bị mất trộm ba cây vàng có được do bán hớ mảnh đất đáng giá mười ba cây lão đã thắt cổ tự vẫn.

Đáng sợ hơn là thời kỳ cô Khờ (có ông nội là mõ làng, bố đi đánh dậm nuôi cả nhà) lấy người Đài Loan đổi tên là Lầy Lầy và với dáng điệu đung đưa háng với bộ váy xẻ ngược, xẻ xuôi, để lộ đến tận khúc đùi nõn nà, đập cửa ô tô đánh sầm rồi điềm nhiên lắc mông đi về làng. Lầy Lầy mừng tết Trung Thu cho mỗi người 1 đô-la, trẻ con mỗi đưa mỗi gói bánh quy kèm mấy viên kẹo Tàu. Cả làng được dịp rộ lên kéo nhau đi nhận quà như đi nhận phát chẩn. Lầy Lầy về làng để tuyển con gái đi Đài Loan mà tiêu chuẩn phải xinh xắn, dễ coi, trẻ, khỏe…lại còn phải "xịn". Lầy Lầy dám bảo bà Duệ lo cho khoản tiền kha khá để vá màng trinh cho con bà trước khi đưa đi xuất ngoại. Và bi thảm nhất là chuyện cả làng há hốc mồm ra khi biết kết quả khám nghĩa vụ quân sự có tới một nửa thanh niên xóm Chùa bị loại vì máu có khoản dương tính với con "Hít" (HIV) (!).

Lão Bản ngậm ngùi: Còn đâu Xóm Chùa ngày xưa nữa. Giờ tha hồ con gái đóng mác xuất ngoại, con giai đu đưa ma túy,ca-ve lẻn vào tận làng hoạt động kiếm tiền. Cái tha hóa len lỏi đến cả nhà ông lão đại tá về hưu có thằng con phá hang làm Khu Du lịch sinh thái rởm Hang Dơi. Nó đưa ba gái về nhà nói dối là để chờ lớp đào tạo nhà buồng, không ngờ một cô khiêu khích được lão già đến nỗi làm ông chết vì nhồi máu cơ tim ngay trên giường (!).

Đọc xong 16 truyện trong tập sách, lòng tôi đau xót quá. Đành rằng không phải chỗ nào cũng như Xóm Chùa này, nhưng rõ ràng ở nhiều nơi nông thôn hiện đã không còn bình yên nữa. Tôi thường xuyên trả lời trên báo cho nên hàng ngày nhận được khá nhiều thư. Bên cạnh những thông tin đáng mừng về thành công của đổi mới cây trồng , vật nuôi và phát triển nghề thủ công, còn không ít những lá thư tâm tình về sự nghèo đói, bỏ học, buồn chán và cả những thư hỏi rất nhiều về chuyện tình dục trước hôn nhân. Nông thôn đang chuyển động.

Cái tốt đang về với làng quê nhưng không ít cái xấu cũng đang len lỏi về theo. Nhà nghỉ, quán Karaokê, cắt tóc thư giãn, Game online …đang tỏa dần đến tận các xóm làng vốn bao đời thanh bình, êm ả. Không ít những cán bộ cơ sở hy sinh việc nhà để gánh vác biết bao công tác giúp đỡ dân làng chỉ với những đồng tiền lương hay phụ cấp quá ít ỏi. Nhưng những Xóm Chùa vẫn hiện diện nơi này nơi nọ với những biến tướng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở sự tha hóa của cán bộ cơ sở, sự tê liệt hoạt động của Đảng và các đoàn thể quần chúng, sự bóp nghẹt dân chủ, trù giập người cương trực và sự tiếp nhận dễ dãi những lối sống hưởng thụ không lành mạnh.

Ai cứu những Xóm Chùa nói trên? Câu hỏi đó cần được mọi người suy nghĩ trước khi để tình hình diễn biến theo chiều hướng xấu. Đừng quên rằng trên 70% cư dân nước ta còn đang sống ở nông thôn và nguồn lực lao đồng để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đang trông chờ vào lớp trẻ còn đang chưa rời khỏi đồng ruộng hôm nay.

Theo GS. Nguyễn Lân Dũng
logonongnghiep.jpg

Blogged with the Flock Browser

Ai cứu Xóm Chùa?

Trong bài phát biểu tại Quốc hội ngày 9/5 vừa qua, GS Nguyễn Lân Dũng có "kêu gọi" các đại biểu QH, các đồng chí lãnh đạo đọc tác phẩm "Trinh tiết Xóm Chùa" của nữ sĩ Đoàn Lê để thấy phần nào hiện trạng nông thôn sau từ ngày "Mở cửa".

xomchua13.jpg
 

GS có gửi cho chúng tôi bài " Ai cứu Xóm Chùa?". Thiết nghĩ, nó vượt qua lời giới thiệu cuốn sách thông thường mà câu hỏi, trăn trở của đại biểu QH Nguyễn Lân Dũng nói lên tâm nguyện của cả triệu cử tri tới những nhà hoạch định chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn...

Xóm Chùa là tên một làng quê được nhắc đến trong nhiều truyện ngắn của nữ tác giả Đoàn Lê (trong tập Trinh tiết Xóm Chùa, NXB Hội Nhà văn). Có thể đó không phải là một địa danh thật và không phải mọi câu chuyện ở đây đều xảy ra tại một làng quê cụ thể nào.

Nhưng với cái nhìn sắc sảo và nhân ái của tác giả, tôi tin là những câu chuyện xảy ra liên quan đến cái Xóm Chùa này đều là những chuyện có thật tại nông thôn nước ta từ ngày "Mở cửa". Nữ sĩ Đoàn Lê đã làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho tương lai của nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua.

Xóm Chùa hay Xóm Chùa Ông là nơi dân chúng tụ tập lại sống quanh khu lăng mộ của một liệt sĩ dòng tôn thất nhà Trần. Xóm Chùa đang yên lành thì náo động lên bắt đầu từ cái cát-sét có được sau ngày giải phóng. Nó làm đủ mọi nhiệm vụ trong đám cưới, đám tang. Không ngày nào không có người tìm đến chủ nhân với hàng đống các loại băng khóc cha, khóc mẹ, loại dành riêng cho con dâu, con rể, con nuôi, có cả loại kinh Phật dành cho đối tượng đang "thập tử nhất sinh".

Cú sốc lớn hơn là từ ngày cái Nhớn được tuyển làm diễn viên ở Trung ương quay về làng với hai mắt xanh lè, mí mắt rắc nhũ óng ánh, mặt mũi chỗ đỏ, chỗ nâu, quần áo miếng xanh, miếng tím... Rồi lại xuất hiện cái ti-vi cho cả xóm xem chung. Tiếp đến bà Chiu bán rượu nếp bị chiếc xe của Tây móc vào đòn gánh kéo lê một quãng gây xây xát nhẹ mà được đền tới 400 đô-la, khiến cho nhiều người ao ước được vướng vào xe của Tây như bà (!). Rồi chuyện cô gái lai đen tên Mừng chuyên hủ hóa với trai làng và quy đổi ra...gạo.

Nhưng chưa có gì đáng xáo trộn bằng chuyện mở đường cao tốc qua làng làm tha hóa cả một tầng lớp cán bộ thất học và tham lam. Chủ tịch xã Quang sau bốn năm cầm quyền, bằng cách nhử mồi câu cá, sợi dây "bảo hiểm" cho gã hoạn lợn đã dài tận huyện, tận thành phố, gã cóc sợ ai nữa. Gã thường bật cười bảo dân xóm Chùa: Các vị đi xe đạp lên tỉnh kiện tôi sao nhanh bằng tôi đi xe máy(!).

Thế là lão bán đứt Khu vườn cây của các cụ cho Viện cây giống. Nhưng sự thật là “Viện đứng nhận lấy danh nghĩa thôi. Họ chỉ có ba suất. Còn bác Thái (bí thư) lo cho bảy suất con cháu anh em trong nhà…Còn mười suất phía ông Quang chủ tịch mặc ông ấy lo… Ông biết Viện trưởng Viện cây giống là ai không? Chồng con Cúc gọi nhà dượng Tám gọi chúng tôi bằng bác họ” …

Thế đấy, họ Đào vươn ngành, vươn chi như vòi bạch tuộc, bám vào đất xóm Chùa chưa thỏa, sao còn dây mơ rễ má, cốt che mắt thiên hạ ăn cướp với nhau. Họ tranh cướp nhau mặt đường đến nỗi lão Hớn đã nói: “Để có rẻo mặt đường dưới âm, cần phải chết sớm tranh đất, tôi xin chết ngay”.Thiêng thật, sau khi bị mất trộm ba cây vàng có được do bán hớ mảnh đất đáng giá mười ba cây lão đã thắt cổ tự vẫn.

Đáng sợ hơn là thời kỳ cô Khờ (có ông nội là mõ làng, bố đi đánh dậm nuôi cả nhà) lấy người Đài Loan đổi tên là Lầy Lầy và với dáng điệu đung đưa háng với bộ váy xẻ ngược, xẻ xuôi, để lộ đến tận khúc đùi nõn nà, đập cửa ô tô đánh sầm rồi điềm nhiên lắc mông đi về làng. Lầy Lầy mừng tết Trung Thu cho mỗi người 1 đô-la, trẻ con mỗi đưa mỗi gói bánh quy kèm mấy viên kẹo Tàu. Cả làng được dịp rộ lên kéo nhau đi nhận quà như đi nhận phát chẩn. Lầy Lầy về làng để tuyển con gái đi Đài Loan mà tiêu chuẩn phải xinh xắn, dễ coi, trẻ, khỏe…lại còn phải "xịn". Lầy Lầy dám bảo bà Duệ lo cho khoản tiền kha khá để vá màng trinh cho con bà trước khi đưa đi xuất ngoại. Và bi thảm nhất là chuyện cả làng há hốc mồm ra khi biết kết quả khám nghĩa vụ quân sự có tới một nửa thanh niên xóm Chùa bị loại vì máu có khoản dương tính với con "Hít" (HIV) (!).

Lão Bản ngậm ngùi: Còn đâu Xóm Chùa ngày xưa nữa. Giờ tha hồ con gái đóng mác xuất ngoại, con giai đu đưa ma túy,ca-ve lẻn vào tận làng hoạt động kiếm tiền. Cái tha hóa len lỏi đến cả nhà ông lão đại tá về hưu có thằng con phá hang làm Khu Du lịch sinh thái rởm Hang Dơi. Nó đưa ba gái về nhà nói dối là để chờ lớp đào tạo nhà buồng, không ngờ một cô khiêu khích được lão già đến nỗi làm ông chết vì nhồi máu cơ tim ngay trên giường (!).

Đọc xong 16 truyện trong tập sách, lòng tôi đau xót quá. Đành rằng không phải chỗ nào cũng như Xóm Chùa này, nhưng rõ ràng ở nhiều nơi nông thôn hiện đã không còn bình yên nữa. Tôi thường xuyên trả lời trên báo cho nên hàng ngày nhận được khá nhiều thư. Bên cạnh những thông tin đáng mừng về thành công của đổi mới cây trồng , vật nuôi và phát triển nghề thủ công, còn không ít những lá thư tâm tình về sự nghèo đói, bỏ học, buồn chán và cả những thư hỏi rất nhiều về chuyện tình dục trước hôn nhân. Nông thôn đang chuyển động.

Cái tốt đang về với làng quê nhưng không ít cái xấu cũng đang len lỏi về theo. Nhà nghỉ, quán Karaokê, cắt tóc thư giãn, Game online …đang tỏa dần đến tận các xóm làng vốn bao đời thanh bình, êm ả. Không ít những cán bộ cơ sở hy sinh việc nhà để gánh vác biết bao công tác giúp đỡ dân làng chỉ với những đồng tiền lương hay phụ cấp quá ít ỏi. Nhưng những Xóm Chùa vẫn hiện diện nơi này nơi nọ với những biến tướng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở sự tha hóa của cán bộ cơ sở, sự tê liệt hoạt động của Đảng và các đoàn thể quần chúng, sự bóp nghẹt dân chủ, trù giập người cương trực và sự tiếp nhận dễ dãi những lối sống hưởng thụ không lành mạnh.

Ai cứu những Xóm Chùa nói trên? Câu hỏi đó cần được mọi người suy nghĩ trước khi để tình hình diễn biến theo chiều hướng xấu. Đừng quên rằng trên 70% cư dân nước ta còn đang sống ở nông thôn và nguồn lực lao đồng để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đang trông chờ vào lớp trẻ còn đang chưa rời khỏi đồng ruộng hôm nay.

Theo GS. Nguyễn Lân Dũng
logonongnghiep.jpg

Blogged with the Flock Browser

Khởi tố ông Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục C14

Sáng nay 13/5/2008, thiếu tướng Vũ Thanh Hoa, người phát ngôn Bộ Công An vừa thông báo về việc khởi tố bị can có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến vụ PMU 18 với nội dung như sau:

>>> Nhà báo bị bắt tạm giam vì đưa tin vụ PMU18

tuongQuac13.jpg
Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc và mái tóc bạc rất dễ nhận

 

“Trong quá trình điều tra vụ án: “Bùi Quang Hưng và Bùi Tiến Dũng cùng đồng bọn phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc; vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa và nhận hối lộ; Tham ô tài sản tại Ban Quản lý dự án 18” đã có nhiều báo đưa tin liên quan đến cán bộ tiêu cực, tham nhũng, tham gia chạy án, hối lộ… trong đó có bài “Bùi Tiến Dũng khai đã đưa tiền chạy án cho gần 40 nhân vật quan trọng”.

 

Xét tính chất nghiêm trọng của các việc nêu trên, Bộ Công an đã chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra làm rõ các thông tin trên để xử lý theo pháp luật. Kết quả điều tra đã xác định có những tin đưa lên báo không đúng sự thật, trong đó có những tin đang trong quá trình điều tra, có tin không có trong hồ sơ vụ án; việc đăng tải những thông tin trên đây trên các phương tiện thông tin là rất nghiêm trọng, đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

 

Vì vậy ngày 23/7/2007, cơ quan An ninh điều tra khởi tố vụ án hình sự với các tội danh: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (theo điều 258 Bộ luật hình sự) và “Tội cố ý làm lộ bí mật Nhà nước” (điều 263 Bộ luật hình sự).

 

Quá trình điều tra cơ quan An ninh đã có đủ căn cứ xác định việc đưa tin sai sự thật của vụ án là do một số cán bộ cảnh sát điều tra và một số phóng viên thực hiện, hành vi của họ đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Ngày 12/5/2008, cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố bị can với tội danh “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” (điều 281 Bộ luật hình sự) để tiếp tục điều tra làm rõ mức độ sai phạm và xử lý theo pháp luật đối với những người có tên sau đây:

 

  1. Ông Phạm Xuân Quắc, sinh năm 1946 tại Hải Dương, nguyên Cục trưởng Cục C14
  2. Ông Đinh Văn Huynh, sinh năm 1958 tại Thái Bình, nguyên trưởng phòng 9, cục C14.
  3. Ông Nguyễn Việt Chiến, sinh năm 1952 tại Hà Nội, phóng vien báo Thanh Niên.
  4. Ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1975 tại Thái Nguyên, phóng viên Báo Tuổi trẻ.”

Theo M.V
dantri.gif

Blogged with the Flock Browser

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2008

Tìm thấy nguyên bản chiếu Cần Vương


TTCT - Một nguyên bản chiếu Cần Vương vừa được tìm thấy tại bảo tàng gia đình ông Thierry d'Argenlieu tại Pháp.

Ông Thierry d'Argenlieu là viên cao ủy Pháp đến Đông Dương theo chân lực lượng quân sự quốc tế (Trung Quốc và Anh), đến giải giới quân đội Nhật đã đầu hàng sau Thế chiến 2, giai đoạn năm 1945 (chính viên cao ủy này chủ trương quân đội Pháp sẽ tái chiếm Việt Nam).

Bức chiếu có bề ngang 70cm, cao 57cm; các con dấu trên đó gồm có: dấu triện hoàng đế hình chữ nhật gần vuông, ngang 115mm, cao 110mm. Có chín đôi triện nhỏ 18x18mm đóng dấu từng phần nội dung và chín triện tròn đường kính 43mm.

Phần nội dung, nguyên bản tiếng Hán:
Hoàng du đại cáo Nam trung quan viên lê thứ tuân tri.
Giá đại cáo mật chiếu tối chính hiệp kính tuyên cáo.
Hàm Nghi ngũ niên lục nguyệt sơ lục nhật.

Trẫm toản thừa đại thống, thiệu thuật hồng cơ, quốc vận truân mông, kỳ tặc tử kình thôn, thế thậm tiệm bất khả thâu an. Tư yên mật triệu chư thần nhập Cơ Mật viện sáp huyết cáo thệ: kỳ tiên công phá kim thành, thứ tắc trường khu Gia Định. Bất ý Văn Tường hoài nhị nhi Cam Lộ giá thiên. Ư thử quân thần tái tương cáo thệ dĩ đồ khôi phục, kế quyết tha bang du viện. Trẫm hề tích vi khu, cố bất tỵ sơn hải chi lao, mạo tử thân lâm Đại Đức quốc cầu viện sự, mông y quốc chuẩn doãn.

Kính hồi Quảng Đông, tiếp kiến quan viên hội giả biện bạch, trẫm tâm hội ủy mông ân, nhưng mệnh tối chính hiệp kính phụng chỉ mật cáo: phàm tại nhĩ mục, cọng tất kiến văn, tắc thủy tổ chi đồng cừu, bất cọng đái thiên, phương nghị hiền nhân quân tử mẫn thời chí khí, trẫm kim diệt Quắc giả Ngu, kế định thanh di, tảo bằng vu ngoại quốc, đệ tụ đắc đa nhân, vô tài hà dưỡng. Trẫm độc ưu chi. Như Nam trung thần thứ nghĩa nghi xuất tư trợ quốc, tương danh số liệt vu kim tịch, tha nhật công thành, chiếu số bội hoàn, nhi thường kim phong hộ, bất lận nguyên ân. Miễn tai tướng sĩ, thể thử trẫm tâm. Khâm tai!

Đại phương ấn: Hàm Nghi bảo ấn
Viên ấn: Phúc Minh chi ấn
Tiểu ấn: “Hoàng Đế”.
Tạm dịch:

Bài đại cáo về mưu lược của hoàng đế, quan viên và nhân dân trung nghĩa ở miền Nam tuân hay.

Bản mật chiếu đại cáo này phải tuân thủ nghiêm ngặt.

Hàm Nghi năm thứ năm, ngày mồng sáu tháng sáu.

Trẫm vâng noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao, nhưng vận nước gian truân, bọn giặc thôn tính, thế thậm lan dần, không thể tạm yên. Vì thế đã mật triệu các bề tôi vào viện Cơ Mật uống máu ăn thề, hẹn trước hết đánh phá tại kinh thành, sau đó đuổi dài vào Gia Định. Chẳng ngờ Văn Tường hai lòng, nên xa giá phải dời đi Cam Lộ.

Bởi thế, vua tôi lại phải ăn thề lần nữa để lo khôi phục, mưu định đi nước khác cầu viện. Trẫm nào tiếc thân hèn, nên chẳng ngại lao nhọc vượt núi non biển cả, xông pha chỗ chết, đích thân sang nước Đại Đức cầu sự giúp đỡ. Đã được nước ấy chuẩn thuận.

Khi về thẳng Quảng Đông đã tiếp kiến các quan viên hội họp biện bạch, lòng trẫm an ủi gấp bội, đã ban mệnh vâng theo một cách nghiêm ngặt mật cáo rằng: phàm có tai mắt ắt cùng nghe thấy, thì cùng mối thù của đất nước chẳng đội chung trời nên bàn rằng: bậc hiền nhân quân tử có chí khí đau xót cho thời thế, nay trẫm mượn nước Ngu để đánh nước Quắc, mưu định dẹp loài mọi rợ, phải sớm dựa vào nước ngoài, đã tụ họp được nhiều người, nhưng không tiền của sao nuôi dưỡng (lực lượng) được. Trẫm riêng lo vậy. Nếu như các bề tôi trung, người dân có nghĩa ở miền Nam hẵng xuất của cải giúp nước, thì sẽ đem họ tên, số tiền ghi vào sổ vàng, đợi ngày sau sự nghiệp hoàn thành, chiếu theo số mà hoàn trả gấp bội và đền bù vàng, phong hộ (phong thực ấp) chẳng dè sẻn gì đối với ơn xưa. Hãy cố gắng thay tướng sĩ! Hãy thấu cho lòng trẫm. Kính thay.

Đóng ấn: (Đại phương ấn): Hàm Nghi bảo ấn
(Viên ấn): Phúc Minh chi ấn
(Tiểu ấn): Hoàng đế
(Bản dịch của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh, giảng viên Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế).

Được biết từ trước đến nay gần như chưa ai xác định được bản gốc chiếu Cần Vương, và việc tiếp cận với bản chữ Hán lại càng hiếm. Các bản dịch sang tiếng Việt chiếu Cần Vương hiện phần lớn xuất xứ từ các tài liệu tiếng Pháp, trong đó quan trọng từ các tác phẩm của đại úy người Pháp là Gosselin, được dẫn đi dẫn lại nhiều lần, gần như trong tình trạng “tam sao thất bản”. Cũng đã có một số người công bố “bản gốc” chiếu Cần Vương, nhưng phần lớn thì xuất xứ cũng như bản thân bức chiếu có độ tin cậy không cao.

Với bản chiếu vừa tìm được, giáo sư Léon Vandermeersch (Pháp) sau khi khảo sát tường tận đã xác nhận một cách quả quyết rằng đây là bức chiếu thật.

THÁI LỘC

Blogged with the Flock Browser

Thư của bác nông dân gửi bà nội trợ

Thưa bà!

Tôi i mạn phép viết thư này gửi tới bà. Vốn là một nông dân, xưa nay viết lách là việc tôi không hề ham thích. Nhưng tôi thấy mình có trách nhiệm phải trình bày cho bà rõ, kẻo bà có ý nghĩ xấu về tôi.

Thưa bà!

Chắc bà rõ hơn ai hết, với tư cách là một người nội trợ, thời gian vừa qua giá gạo đột ngột tăng cao. Thủ phạm của chuyện ấy, rõ ràng là bọn đầu cơ và bè lũ tay sai của chúng. Điều đó bà chả nghi ngờ gì. Nhưng trong thâm tâm, bà cũng có thể hơi oán trách tôi. Giá tôi cứ trồng lúa khắp nơi, hễ ra khỏi ngõ là nhìn thấy cánh đồng, thì bọn đầu cơ, dù đê hèn và thâm độc tới đâu, cũng chả dễ dàng lừa đảo được.

Bà kính mến!

Bảo rằng tôi không áy náy về điều này thì không đúng. Với tư cách một nông dân, có biệt danh Hai Lúa chứ không phải Philíp Lúa hay Robe Lúa, tôi khẳng định với bà rằng tôi gắn bó với hạt gạo, và mọi sự vui buồn của gạo cũng là vui buồn của tôi.

Nhưng bà ơi, tôi xin long trọng nhắc bà rằng tôi cũng là con người, và ngoài vui buồn ra, tôi còn nhiều cảm xúc khác nữa.

Tuy là người nội trợ, nhưng vốn ở chốn thị thành, chắc bà có đọc báo và xem ti vi. Và bà biết rằng khủng hoảng lương thực ở vài nơi là có thật. Nguyên nhân của chuyện ấy, một phần là do nông dân bán đất, bán ruộng đi.

Bà ơi, ruộng với nông dân cũng như cây đàn với nhạc sĩ, bán chả dễ dàng gì. Nhưng hỡi bà tôn kính, bán bất cứ cái gì người ta cũng có tiền. Bán ruộng, người ta lại bất ngờ có nhiều tiền. Tuy là nhiều theo kiểu nông dân.

Tiền, như bà đã rõ, mang lại nhiều cái hay và nhiều cái dở. Hay dở tôi chưa biết, chứ lạ thì chắc chắn rồi.

Nhờ tiền tôi được uống bia lon. Chả phải uống vài lon mà uống hàng thùng. Thậm chí hết thùng nọ tới thùng kia. Tiếp theo, nhờ có tiền mà tôi được đi xe tay ga. Cả đời vốn đi bộ và đi xe đạp, bất ngờ cả tôi và thằng con tôi mua dễ dàng vài chiếc a còng. Thế là hai bố con, mỗi người mỗi xe, phóng tưng tưng trên bờ ruộng. Tuy chả biết đi đâu và chả biết đi với ai, nhưng cảm xúc đó khá lạ lùng và khoái bà ạ.

Rồi có tiền, tôi mua điện thoại di động. Mua cho cả nhà. Tuy vùng tôi không có sóng, nhưng điều đó chả phiền phức gì. Cứ chiều chiều, cả làng lại chạy lên huyện rồi sau đó phôn cho nhau, khoái vô cùng.

Tiền cũng khiến tôi xây được những cái nhà to. To vô cùng. Cột nhà kiểu La Mã, mái nhà kiểu Mêhicô, sàn nhà kiểu Tây Ban Nha còn ban-công kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Đấy là tôi nghe tay chủ thầu bảo thế. Hắn ta còn cam đoan rằng kiểu nhà này xưa nay chỉ dành cho các giáo sư, khiến tôi nở mặt nở mày.

Cuối cùng, chả giấu gì bà, vì tính nông dân là có sao nói vậy, tiền khiến tôi trẻ ra. Các em trên phố gọi tôi là anh. Các em ven phố cũng gọi tôi là anh. Bảy mươi tuổi được trở lại thành anh, thử hỏi còn sướng gì bằng. Hễ tôi vô quán nào, các em lại ùa tới vây quanh anh tíu tít. Em thì lau mặt, em thì xỉa răng, em thì đấm bóp giùm. Dân gian có câu “nghìn vàng mua một trận cười”, nay tôi chỉ mất mấy trăm ngàn mà mua được mấy tháng cười kèm theo nũng nịu, tôi còn tiếc nỗi gì.

Sau hết, tiền làm gia đình tôi nghệ thuật hẳn ra. Con trai tôi nhuộm tóc vàng. Con gái tôi mặc đầm. Vợ tôi đeo vòng đầy người và đánh đề mệt nghỉ. Tôi thì khỏi phải nói, khi là anh, tôi có khối việc phải làm.

Đấy, tiền bán ruộng khiến tôi gặp được nhiều điều lạ lùng như thế đấy, bà bảo có nên không? Nếu không bán, thay vì nhìn vào màn hình karaoke, tôi chỉ suốt đời nhìn mông của con trâu hoặc con bò. Tôi chỉ là minh họa cho câu ca dao bất hủ:

Ông lão dưới ruộng đi bừa

Là con ông lão ngày xưa đi cày.

Cho nên bà đừng trách tôi bán ruộng, tôi nghỉ trồng lúa. Hơn nữa, bà hiểu cho, không bán mà được à? Không bán mà xong à? Không bán thì nhận giải tỏa, nhận quy hoạch làm khu công nghiệp, nhiều lúc còn tệ hơn.

Còn việc bà thiếu gạo ăn tôi rất lạ lùng. Ruộng của tôi bây giờ đã biến thành sân gôn. Tôi chả hiểu gôn là gì, chỉ thấy nó to như quả trứng và có nhiều ông nhiều bà từ thành phố lên dùng gậy ra sức đập mà nó không vỡ.

Sao bà cứ lo gạo mãi, mà không chơi gôn đi? Tôi thấy tất cả những người chơi gôn ở đây đều chẳng quan tâm tới gạo bao giờ. Cho nên tôi khuyên bà gọi cả nhà, cả hàng xóm nữa, kéo đi chơi gôn, chắc chắn sẽ no và chả cần lo gì cả. Có nhiều tỉnh mọc sân gôn nhiều như ruộng khoai, chứng tỏ trái gôn phải rất bổ dưỡng, hoàn toàn có khả năng thay gạo.

Bà kính mến!

Như bà đã biết, 80% dân số nước ta là nông dân. Nếu tất cả thay vì trồng lúa lại trồng gôn thì khả năng xuất khẩu gôn là quá lớn. Khi có tiền, ta mua gạo ngoại phải không bà? Toàn bộ dân ta cứ vui vẻ đánh gôn, để cho dân nước khác còng lưng cày bừa, như vậy chả sướng sao?

Xin bà đừng hốt hoảng, đừng bi quan. Bàn nhiều về miếng ăn không sang trọng gì. Đã tới lúc bà phải quan tâm tới chơi. Hoặc nếu bà không chơi, bà cũng tránh ra để kẻ khác chơi. Cuộc sống hôm nay phải tân tiến như thế.

Chào bà

Hai Lúa

Lê Hoàng

Blogged with the Flock Browser

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2008

Ba tôi

Ba tôi rất thương các con nhưng cũng khét tiếng dữ đòn. Các anh chị em chúng tôi đều nhớ những trận đòn thừa sống thiếu chết khi còn nhỏ. Tôi sợ nhất là cảnh bị ba kẹp đầu vào giữa hai đầu gối mà quất roi. Nếu có đứa nào vỉ hãi đòn mà chui vào gầm giường thì ba càng nổi nóng, ông cứ lùa roi vào mà quất trúng bất kể chỗ nào cũng ráng chịu. Mỗi khi chúng tôi làm điều gì sai chỉ cần ba lừ mắt nhìn thì đứa nào cũng khiếp.

Gia đình tôi có tất cả chín anh chị em. Sau ba chị lớn ra đời thì đến tôi, con trai đầu lòng. Vì thế buổi đầu tôi được đón chào nồng nhiệt và thương yêu nhất vì không những là con trai mà tôi còn là đứa yếu ớt nhất. Tôi sinh non do mẹ tôi đẻ rớt khi bào thai mới được 7 tháng. Tôi chỉ cân nặng có 1 kg 7 lúc chào đời. Thời đó làm gì có lồng hấp như các bệnh viện ngày nay. Mẹ tôi kể khi đem tôi từ bệnh viện về nhà mẹ cứ khóc hoài vì sợ tôi chết. Thế mà tôi sống được đến ngày nay là nhờ công của ông nội. Mỗi ngày ông ủ tôi trong chăn với hai chai nước nóng quấn khăn đặt cạnh người. Tôi không biết bú, phải bơm sữa vào miệng . Thế mà ngày lại ngày qua tôi vẫn lớn như những đứa trẻ bình thường khác dù thể trạng tôi lúc nào cũng gầy gò ốm yếu cho tới ngày nay. Dù được cưng nhưng tôi vẫn nếm đủ và rất nhiều lần những trận đón của Ba.

Lần bị đòn ấn tượng đầu đời nhất của tôi là vào lúc 5 tuổi. Tôi chưa đến trường nhưng mẹ tôi ở nhà vẫn dạy tôi đọc, đánh vần và cầm tay tôi tập đồ từng nét chữ trong quyển vở con . Lần đó tôi vừa viết bài vừa rấm rứt khóc vì ham chơi. Ba tôi nổi giận, ông dùng cây phất trần ( chổi lông gà có cái cán chổi bằng mây ) đánh tôi túi bụi. Đã thế Ba còn túm hai chân dốc ngược đầu tôi nhúng vào thùng phi nước. Khi vớt tôi ra mẹ tôi vừa thay đồ cho tôi vùa khóc khi nhìn những vệt roi hằn chi chít khắp mình tôi. Ba tôi đánh không phải vì ông ghét con mà tức giận khi thấy cách mẹ tôi dỗ tôi học không hiệu quả như ý của ông. sáng hôm sau Ba hối hận, ông lại đèo tôi trên chiếc xe đạp ra sở làm của ông ở Sài gòn. Ba tôi là thợ giày của một hiệu giày nổi tiếng trên được Lê Thánh Tôn ( Tiệm giày T.V.M) nhưng ông không làm giày tại tiệm mà lãnh về nhà làm và cứ một tuần hoặc hai ba ngày ông lại ra Sài gòn giao hàng và nhận lương. Những lần được theo ba ra tiệm như thế tôi rất thích. Tôi được Ba dẫn đi ăn phở Minh ( một hiệu phở cũng nổi tiếng nằm ở góc đường Pasteur ) Trong chỗ làm của Ba cũng như ở tiệm phở tôi được mọi người hỏi thăm và đón chào nồng nhiệt. Tâm lý người Bắc coi trọng con trai và ai cũng nghĩ ba tôi quý tôi lắm vì phải sau 3 người con gái mới sinh được tôi. Thường thì mỗi khi chúng tôi lầm lỗi ba tôi nóng giận đánh con nhưng sau đó bao giờ ông cũng hối hận và tìm cách bù đắp lại sai lầm của mình.

Một lần khác, tôi bị cảm ốm mất mấy hôm nên được ngủ chung với ông nội. Khi khỏi bệnh, Ba bắt tôi ngủ riêng trên gác . Tôi không chịu và la khóc ầm ĩ thế là Ba nổi giận phết cho tôi một trận tơi bời. Ông đánh tôi rớt từ trên gác xuống đất lại tiếp tục lôi tôi ra sân đánh bò lê bò càng. Ông tôi thì nằm trong giường. Ông rít lên " Mày đánh nó như thế thì đánh tao chết luôn cho rồi " Ba tôi nghe vậy càng nổi hung đánh tôi dữ hơn. Cuối cùng khi mệt mỏi ông quảng tôi ngoài sân và đóng cửa mặc cho tôi năm khóc rên rĩ ngoài hè nhà. Đến nửa đêm Ba tôi mở cửa thảy cho tôi cái mềm. Sáng hôm sau ông lại đưa tôi đi Sài Gòn, lại ăn phở, dạo phố, ăn kem ...

Sau này khi trưởng thành, đủ trí khôn để phân tích và hiểu nỗi lòng của Ba. Tôi cũng nhận ra những sai lầm của người lớn khi dùng roi vọt để răn dạy con. Đó là đánh con khi tự ái, khi giận lẫy đều không tốt , không có ý ngĩa gì về mặt giáo dục. Vì vậy trong quá trình nuôi dạy các con tôi hiếm khi nào đánh con .

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2008

VN còn thiếu gì để nâng cao khả năng phòng chống bão lớn, thiên tai ?

- Vẫn còn nhiều người hiểu quá đơn giản về bão, cho rằng bão đổ bộ vào bờ mới là bão mà không hiểu rằng có khi bão có bán kính mấy trăm km. Một giải pháp quan trọng là phải giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng. Việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức tới càng nhiều người càng tốt. Nước ngoài làm rất bài bản việc này. Họ thường bắt đầu từ nhà trường phổ thông đến các đội tuyên truyền...

Bên cạnh đó, cũng cần phải có quy hoạch cụ thể về dân cư. Tất cả các vùng có nguy cơ nhiều bão lũ phải có biện pháp lâu dài cho dân cư như không cho dân ở mà di dời họ sang vùng khác ít bão hơn. Đối với dân ở trong vùng bão, phải có tư vấn cho họ. Ví dụ ở vùng bão lớn có thể có nhiều cơn bão lên tới cấp 11 - 12 thì khi cấp phép xây dựng một ngôi nhà, cơ quan chức năng phải biết được căn nhà đó có chịu được bão cấp 12 không. Thậm chí đến cái đinh vít còn phải vít góc bao nhiêu để chịu lực. Tàu thuyền cũng quy định loại nào đủ điều kiện đánh bắt xa bờ, lên phương án, kế hoạch di dời khi có bão ra sao...

Muốn phòng chống tốt phải có chiến lược đồng bộ phòng chống triệt để ở tất cả các bộ, ngành, địa phương từ quy hoạch đến xây dựng, giáo dục...

Blogged with the Flock Browser