Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2021

LUẬN VĂN CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH NHU



LƯU Ý:Đây là luận văn để lấy học vị Cử nhân ở một nước thực dân cách đây  hơn 80 năm, nên nó chưa đạt trình/mức/tầm "khoa học, tiên tiến hiện đại như những luận án tiến sĩ được bảo vệ ở các cơ sở đào tạo sau đại học ở nước CHXHCN Việt Nam hiện nay.

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. 

Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Quốc Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm - Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn).

Do đó có từ “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở Việt Nam và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu.

Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của “The Quiet American”, và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American.

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên Nha văn khố trung ương Hà Nội. Sau đó kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế. Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội. Năm 1945 ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi - Hội Khai xuân ở Hà Nội”.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam, và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Các tài liệu nói rất rõ sau Cách mạng 19/8/1945 ông Diệm bị bắt và được thả, nhưng về ông Nhu thì chỗ nói bị bắt, chỗ nói không bị bắt. Tuy nhiên theo như tôi hiểu qua câu chuyện tôi mới được nghe kể gần đây thì ngay sau 19/8 ông Hà đã đến gặp ông Nhu (lúc đó làm việc dưới quyền bộ trưởng Võ Nguyên Giáp) rồi sử dụng xe của chính phủ (đi mua gạo) để đưa ông Nhu trốn ra ngoại thành, rồi đi Phát Diệm.

Chi tiết này có lý vì ông Hà lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học ở ngôi trường danh tiếng Sciences Po năm 1937 rồi về nước hoạt động xã hội rất mạnh, trở nên nổi tiếng và có rất nhiều quan hệ với các phe phái lực lượng. Chắc ông Hà có quen ông Nhu từ lúc ở Paris, và ở thời điểm sau 19/8 ông Hà có thể biết ông Nhu đang gặp nguy hiểm (hai người anh của Nhu một bị bắt, một bị giết cùng thời kỳ này) đã báo cho ông Nhu và giúp ông Nhu bỏ trốn. Cuộc gặp giữa ông Hà và ông Nhu, tôi nghe kể: “nói bằng tiếng Pháp, tôi chỉ nghe được câu mốt câu hai, nhưng chắc chắn là về chính trị”, có lẽ “chuyện chính trị” mà hai ông nói liên quan đến việc tính mạng ông Nhu đang nguy cấp.

Trong quá trình chạy trốn, ông Nhu quen Trần Kim Tuyến, lúc này là một thành niên trẻ mới học xong tú tài. Trần Kim Tuyến sau trở thành trùm mật vụ của chế độ Diệm-Nhu trước khi bị ông Nhu nghi ngờ và cách chức. Sau khi bị Nhu phế, ông Tuyến sợ quá trốn ra nước ngoài. Sau sự kiện 1963 ông Tuyến mới dám trở về Sài Gòn những cũng vẫn bị bắt. Người cứu ông là Phạm Ngọc Thảo, một điệp viên của miền bắc, và là đại tá quân đội VNCH lúc bấy giờ. Đến 30/4, một lần nữa ông Tuyến lại được Phạm Xuân Ẩn, cũng là một tay tình báo của miền bắc, cứu vào phút chót. Chưa hết, trợ lý thân tín của ông Tuyến là Ba Quốc, cũng là tình báo của miền bắc (thiếu tướng Đặng Trần Đức).

Điều này thật kỳ lạ. Nó cũng kỳ lạ như Phạm Ngọc Thảo sau chính biến đã đem một toán quân xuống Chợ Lớn để cứu Diệm và đưa Nhu ra nước ngoài nhưng bất thành. Chuyện đại tá Thảo và ông Ẩn hai lần cứu cựu trùm mật vụ Trần Kim Tuyến, đều do ông Ẩn và chính bác sĩ Tuyến kể lại.

Sau này, năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị mật vụ truy sát, bắn ở bờ suối, nhưng không chết mà vẫn xin được giấy của học trò để viết tin nhắn. Bức thư viết tay đẫm máu của ông Thảo hiện vẫn ở Sài Gòn. Cách đây mấy hôm tôi đã ngồi cách nó chỉ độ hai mét nhưng mà không được xem tận mắt.

Ông Nhu, vốn là con trai của một gia đình quan lại phong kiến nhưng theo tây học, trở thành học giả trẻ uyên bác, điều này lý giải cho việc sau nhiều năm ở ẩn ông bất ngờ trở thành một chính trị gia mưu lược và bí hiểm. Các phát biểu của ông Nhu cộng với nội dung cuốn sách, được coi là của Ngô Đình Nhu, xuất bản sau khi ông bị giết (Chính đề Việt Nam) hé lộ rất nhiều chi tiết cho thấy một học giả cổ sử, am hiểu lịch sử Việt Nam và Châu Âu, đã nghiền ngẫm tri thức trị quốc của nhà Nguyễn, của Châu Âu rồi biến nó thành tư tưởng và học thuyết chính trị của riêng mình.

Cách ông Nhu sáp nhập Hoàng Triều Cương Thổ, dẹp yên các tổ chức có vũ trang ở miền nam, xây dựng ấp chiến lược… (theo thứ tự) cực kỳ giống những gì nhà Nguyễn đã làm (theo thứ tự) với vương quốc cuối cùng của Chân Lạp (1832), dẹp loạn Lê Văn Khôi (1832 - 1835), dẹp Mọi Đá Vách ở Quảng Ngãi (1863). Trong Chính Đề Việt Nam (sử dụng bút danh Tùng Phong) ông cũng không che dấu các bí quyết trị quốc phải được truyền từ đời (vua) này qua đời khác, một cách nói khéo rằng các ông đã học các bí quyết trị nước từ quá khứ.

Ở một khía cạnh khác, ông Nhu học hỏi rất nhiều từ lịch sử chính trị Châu Âu, và trở thành hình mẫu lãnh đạo chính trị kiểu Machiavelli đầu tiên ở Việt Nam. Siêu điệp viên Phạm Xuân Ẩn cho rằng ông Nhu là người tổ chức ám sát Trình Minh Thế. Đại tá an ninh quân đội Đỗ Mậu và trùm mật vụ Trần Kim Tuyến thì kể chi tiết cách ông Nhu xử lý các vấn đề biên giới và xung đột sắc tộc với Khmer bằng cách tổ chức ám sát Sihanouk và đảo chính ở Cambodia.

Với những kẻ có quyền lực yếu hơn, đôi khi ông Nhu cũng vẫn Machiavelli nhưng theo kiểu ngược lại. Bác sĩ Tuyến kể việc ông Nhu giải quyết các hộ kinh doanh bình dân sống bằng kinh doanh vỉa hè rất lộn xộn bằng cách mời đại diện nghiệp đoàn của họ vào Dinh để nói chuyện. Đó là ông Vượng, người đã phát minh ra “bia cốc bờ Hồ” được ưa chuộng cực kỳ ở Hà Nội trước 1954. Món “bia cốc” này, tôi nghĩ, chính là tiền thân của bia hơi Hà Nội mà ngày nay chúng ta vẫn nốc cùng thịt chó.

Cách hành xử thực dụng và máu lạnh kiểu Machiavelli đã khiến ông Nhu trở thành chính trị gia bị sợ hãi và căm ghét; từ đó người ta quên đi rằng ông này có lẽ là người đầu tiên (và cũng có lẽ là duy nhất) biết cách và có chủ ý xây dựng một quốc gia dân tộc (quốc gia = nhà nước) đúng nghĩa. Một nation builder, nói theo kiểu tây, có kiến thức lịch sử chính trị và địa lý vững chắc, nắm vững tình thế, hiểu đại cục từ trong nước đến quốc tế, có tầm nhìn xa và dự báo chiến lược khá chính xác. Ngày nay nhìn lại, có nhiều cái ông Nhu tiên đoán, nhận định, rất chính xác.

Tôi đoán rằng, việc ông Diệm phế ông Bảo Đại và biến Việt Nam thuộc Pháp từ thể chế quân chủ sang thể chế cộng hòa hoàn tòa là đường lối của ông Nhu. Hiến pháp của thể chế này không thấy ở đâu nói là ai viết, nhưng chắc cũng có bàn tay của ông Nhu. Ngày mà bản Hiến pháp 1956 này được thông qua cũng được lấy làm ngày quốc khánh của Việt nam Cộng hòa (sau được gọi là nền cộng hòa đệ nhất).

Cách cai trị độc tài của chế độ Diệm - Nhu, định hình bởi bộ óc của ông Nhu và phong cách quan lại của ông Diệm vốn là quan lớn của nhà Nguyễn. Phương pháp cai trị của ông Nhu có thể đến từ việc ông đã nghiên cứu rất kỹ Hitler, Gandi, Lenin, Mao cũng như am hiểu sâu sắc bản chất con người Việt Nam. Trần Kim Tuyến cho biết ông Nhu mỗi năm đóng cửa 10 ngày chỉ để đọc sách. Đọc sách gì ông cũng có kế hoạch sẵn, đọc cuốn nào cũng có ghi chú đầy đủ. Các nhân vật mà ông Nhu thích đọc là Lenin, Mao. Phòng làm việc rất ngăn nắp và tài liệu sắp đặt rất khoa học. Công cụ và lực lượng dùng để cai trị của ông Nhu, rất giống nhà nước cảnh sát của Hitler.

Sách ông Nhu đọc theo lời kể của bác sĩ Tuyến là các sách ông đọc sau này, khi đã thành chính trị gia ở Sài Gòn. Còn trước đó, khi ở ẩn trồng hoa lan trên Đà Lạt, hay thủa đi học ở Paris ông đọc gì? Tôi đoán ông Nhu đã đọc các sách cổ sử như kiểu Herodotus, hay các sách địa lý, tôn giáo thế giới.

Dấu vết của việc đọc này có thể tìm thấy trong Chính đề Việt nam, khi tác giả của cuốn sách phân tích lịch sử văn minh nhân loại, cùng với sự hình thành và suy yếu của các đại đế quốc, từ La Mã đến Quốc Xã, từ Nga đến Liên Xô, so sánh các thể chế trong lịch sử, giữa Anh và Pháp. Tôi cũng đoán ông Nhu có đọc cả Gustave Le Bon khi ông phân tích đặc tính tâm lý của dân tộc Việt Nam, mà ông dùng từ tính khí, đó là yếu ớt và nhược tiểu, dẫn đến ứng xử ngoại giao yếu kém do tính khí yếu ớt lại đặt dưới áp lực đe dọa bởi ngoại xâm.

Tất nhiên ông Nhu thuộc cổ sử Việt Nam, và trong 2 trang của Chính Đề ông đã diễn giải chính xác công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt trong 1000 năm trở lại đây cũng như mổ xẻ chi tiết lý do/nguyên nhân Trung Quốc luôn có khát khao xâm lược Việt Nam. Với cuốn sách hoàn thành năm 1962 này, ông Nhu có lẽ là người đầu tiên đặt ra nhiều câu hỏi sâu sắc cho dân tộc, ví dụ như tại sao người Việt có bờ biển dài hàng ngàn cây số mà chưa bao giờ họ khao khát đi ra biển, thậm chí cũng chưa một lần tiến lên cao nguyên trong suốt quá trình Nam tiến ấy; cũng như là người đầu tiên phát biểu và chứng minh được mở cửa và hội nhập sâu (mà ông gọi là phương tây hóa, ngày nay gọi là toàn cầu hóa) không làm mất đi cái gọi là bản sắc dân tộc. Một số “sách lược, chiến lược” ông Nhu chỉ ra trong sách, sau này không hiểu vô tình hay học lóm mà các chế độ sau đều áp dụng.

Là một nhà nghiên cứu cổ tự, ông Nhu sớm nhận ra giới hạn nghèo nàn của tiếng Việt và danh từ tiếng Việt, cũng như lợi thế của chữ quốc ngữ so với chữ nôm. Trong CĐVN, ông dành hẳn một phần rất dài đưa ra các giải pháp làm mạnh tiếng Việt.

Về tư tưởng, trong “A history of the Vietnamese”, nhà sử học K.W. Taylor cho rằng ông Nhu từ chối cả hai ý thức hệ (tư bản và cộng sản, quần chúng và cá nhân). Chính đảng do ông Nhu xây dựng có tên là Đảng Cần Lao, nếu dịch ra tiếng Anh (Labor Party) thì rất giống tên chính đảng cầm quyền ở miền bắc lúc bấy giờ là Đảng Lao Động. Nhưng trong tiếng Việt thì ông Nhu lý giải rằng chữ “động” trong “lao động” có màu sắc cưỡng bức đám đông của Mao còn chữ “cần” trong “cần lao” của ông Nhu thì có màu sắc tự nguyện.

Sử gia Taylor giải thích triết lý (ý thức hệ) Nhân Vị của ông Nhu là do chịu ảnh hưởng triết lý “personalism” của triết gia công giáo Emmanual Mounier (khi ông còn ở khu Latin, Paris), nhưng ông Nhu đã nhấn mạnh chân giá trị của cá nhân trong bối cảnh “hợp tác tập thể để tự cá nhân” rồi phát triển nó thành học thuyết riêng của mình mang tên Nhân Vị. Taylor khuyến nghị cách dịch Nhân Vị ra tiếng Anh là “personism”.

Lập luận này của Taylor có lẽ đúng bởi chính ông Nhu phủ nhận thuyết Nhân Vị của mình giống với Nhân Vị của Công giáo. Với học thuyết Nhân Vị, nảy mầm vào khoảng thời gian ông trốn khỏi Hà Nội, ông Nhu đã có tư tưởng chống Mỹ (tư bản) nhiều hơn chống Pháp (theo lời Cao Văn Viên), hòa hợp được nhiều tôn giáo (theo giải thích của ông Nhu), và là cơ sở đề cao sự tự quyết của dân tộc (không cho Mỹ đưa quân vào, không cho tăng cường cố vấn quân sự, không cho đặt cố vấn Mỹ bên cạnh các tỉnh trưởng, …là những cái được chính quyền Sài Gòn chấp thuận sau khi Diệm Nhu bị giết).

Hòa hợp tôn giáo cuối cùng thất bại, nỗ lực chống lại can thiệp quân sự của người Mỹ vào Việt Nam cũng thất bại. Cả hai đều dẫn đến sự sụp đổ của gia đình họ Ngô. Can thiệp của người Mỹ vào đảo chính thì như trên đã dẫn lời Phạm Xuân Ẩn. Còn xung đột với Phật giáo, sách của Đỗ Mậu và Trần Kim Tuyến nói ngược nhau, nhất là về việc thượng tọa Trí Quang trốn vào sứ quán Mỹ cho đến khi xong đảo chính. Còn Phạm Xuân Ẩn, từ thời đó đã biết đại tá Thảo là tình báo của Hà Nội, nhưng sau này có vẻ như lờ đi, không nói về thượng tọa Trí Quang mà chính bạn của ông Ẩn là bác sĩ Tuyến luôn cho là một ông sư marxist.

Sách của Trần Kim Tuyến và Đỗ Mậu cũng nói ngược nhau về nguyên nhân của sự liên lạc của ông Nhu với Hà Nội. Dù rằng việc liên lạc ấy là có vẻ như là thực và giống nhau trong sách của cả ông Mậu lẫn ông Tuyến: thông qua ngoại giao, bên ông Nhu bí mật vào rừng, hoặc bên miền bắc từ rừng bí mật vào dinh tổng thống (chắc sử liệu ở Hà Nội có ghi chi tiết). Người cán bộ cộng sản thư sinh bí mật vào dinh gặp ông Nhu nhiều lần, được cho là Trần Độ (?).

Sách của Đỗ Mậu và Trần Kim Tuyến chỉ ngược nhau về cách giải thích. Nhưng dù giải thích thế nào, thì việc ông Nhu bí mật nói chuyện với Hà Nội cũng là một cái cớ nữa để người Mỹ xuống tay. Việc ông Nhu đi Pháp như nói ở trên, cũng là một nước cờ quan trọng nhằm kéo thêm ủng hộ (viện trợ) của Pháp bù vào phần hụt mà Mỹ sẽ cắt đi, trong lúc tiếp tục đàm phán bí mật để dẫn đến thỏa hiệp với Hà Nội (mà nhiều người cho rằng nếu thành công thì sẽ thống nhất đất nước bằng hòa bình, giữ được nền cộng hòa, và ông Nhu có thể một ngày nào đó trở thành thủ lĩnh). Điều này có vẻ cũng có lý, khi trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông Nhu đã từng thực hiện thành công một việc tương tự, khi ông gặp bí mật Bảo Đại trước khi ông vua trẻ này rời Việt Nam qua Pháp đúng 10 năm trước (1953).

Trong một nghiên cứu ngắn cách đây chưa đến chục năm, Nguyễn Gia Kiểng đã tiếp xúc và có tài liệu từ một chính trị gia lão thành thuộc phe cánh tả của Pháp, ông Jaques Bénet. Ông Bénet là bạn học cùng trường Chartes với ông Nhu, tham gia kháng chiến, tham gia thành lập đệ tứ cộng hòa của Pháp, và có quan hệ chính trị rộng rãi.

Sau này ông Bénet là người của Đảng Xã Hội Pháp. Ông Nhu có tiếp xúc bí mật với Bénet trước khi Bảo Đại qua Pháp; và chính ông Bénet đã làm đầu mối bí mật để vận động Pháp lặng lẽ chọn Ngô Đình Diệm làm giải pháp thay thế Bảo Đại. Nhận định này là do ông Kiểng đã gặp trực tiếp Bénet và đọc từ bức thư riêng mà ông Nhu và Bénet trao đổi với nhau. Ông Kiểng cũng phân tích rằng ông Nhu hoàn toàn không có quan hệ với bất cứ ai ở Mỹ, cho đến khi ông Nhu có quyền lực ông mới quen Lansdales ở Sài Gòn.

Ông Diệm thì có một chút quan hệ với Mỹ từ năm 1950, nhưng phải sau khi ông lên tổng thống, qua thăm chính thức nước Mỹ, và sau khi chính phủ Pháp thời De Gaulle quay lưng lại với ông Nhu, thì người Mỹ mới chính thức đứng sau ông Diệm. Phân tích này cũng phù hợp với thông tin mới nhất (2013) của Edward Miller lấy từ tài liệu được giải mật của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó Mỹ có rất ít thông tin và mù mờ về ông Diệm.

Ông Kiểng cũng cho rằng sau khi Diệm - Nhu bị lật đổ, nước Pháp đã quay về phía Hà Nội. Điều này khá logic với việc ông Nhu không sử dụng nhóm ông Hà (học giỏi, có uy tín, đã từng làm bộ trưởng ở Hà Nội), ông Hãn (học giả lớn), ông Luyện (em ruột ông Nhu và là bạn học của Bảo Đại) dù rằng chính nhóm này đã thuyết phục Bảo Đại ký giấy bổ nhiệm ông Diệm làm thủ tướng. Ông Diệm phần nào giải thích việc không sử dụng các trí thức lớn thiên tả Hà, Hãn, Tường trong thư riêng gửi ký giả Joseph Buttinger năm 1956. Cả Đỗ Mậu lẫn Trần Kim Tuyến đều nói các bài diễn văn quan trọng của ông Diệm đều do ông Nhu viết bằng tiếng Pháp rồi cho người dịch ra. Lá thư gửi Buttinger có thể cũng do ông Nhu viết.

Các lập luận của ông Kiểng cũng logic với việc một người chống Pháp như ông Diệm mà chỉ trong năm 1955 đã dẹp sạch những gì chịu ảnh hưởng của Pháp, kể cả quân đội Bình Xuyên. Năm 1955 chính quyền ông Diệm sáp nhập vùng đất Hoàng Triều Cương Thổ của Bảo Đại vào miền nam, cũng như dẹp nguồn tài chính của Bảo Đại ở Chợ Lớn (sòng bài Đại Thế Giới, xóm ăn chơi Bình Khang) do Bình Xuyên của Bảy Viễn điều hành (Bảy Viễn được Bảo Đại phong tướng năm 1952, một năm trước khi Bảo Đại qua Pháp).

Chỉ dựa vào ủng hộ của Mỹ mà không có đèn xanh từ Pháp thì sẽ không có giải pháp thay thế ngoạn mục: nhanh và ít đổ máu như vậy. Thậm chí chiến dịch Hoàng Diệu của Dương Văn Minh đánh vào rừng Sác, cũng được cho là chiến dịch do ông Nhu dàn xếp sẵn với Pháp chứ không hẳn là bắn nhau thật. Sau đó Pháp đã đưa Bảy Viễn qua Paris. Trong các sách tôi đọc, thấy cũng ông Nhu luôn chế diễu các phe phái chống cộng là “không có giải pháp thay thế (thì chống để làm gì)” có lẽ là vì lý do bí mật về “giải pháp thay thế Bảo Đại” mà ông Kiểng phát hiện ra.

Sau khi chế độ Diệm Nhu bị hạ đổ, Sài Gòn rơi vào hỗn loạn chính trị, đảo chính hạ bệ nhau liên tục, cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống tình hình chính trị mới bớt hỗn loạn. Nguyễn Văn Thiệu được cho là người ra lệnh giết Phạm Ngọc Thảo. Ông Ẩn không có nhận xét gì nhiều về Diệm - Nhu, nhưng với Thiệu ông mô tả ông tổng thống này như một con khỉ nghiện thuốc phiện của người Hoa, ý nói ông Thiệu là con khỉ nghiện viện trợ của Mỹ. Ông Ẩn, có vẻ như hơi cay đắng khi trách người Mỹ đã lật đổ ông Diệm mà không có “giải pháp thay thế”.

Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1946 - 1955 rất bí hiểm và rối rắm. Mà lịch sử Việt Nam thời kỳ nào cũng thế. Nếu tất cả những thông tin nói trên mà đúng, và chắc là đúng thôi, ít ra ở sự logic các sự kiện và nhân vật, thì ông Nhu là một trường hợp vô tiền khoáng hậu.

Từ một trí thức trẻ uyên bác, nghèo xác xơ, nói và viết tiếng Việt rất kém, trong một bối cảnh xã hội phức tạp vừa thoát khỏi thực dân phong kiến, dân trí thấp, thậm từ vựng chính trị của tiếng Việt cũng vẫn còn nghèo nàn, ông Nhu đã xây dựng được lực lượng chính trị của riêng mình, với tư tưởng và học thuyết chính trị của riêng mình (tuy tổ chức còn lỏng lẻo, nghiệp dư và có nhiều bê bối). Rồi từ đó ông Nhu đã trở thành một chính trị gia mưu lược, rất giỏi ẩn mình. Ông dựng lên một tổng thống đầu tiên, một thể chế chính trị cộng hòa mới mẻ, một nhà nước với guồng máy cai trị thực dụng đến tàn nhẫn nhưng rất hiệu quả. Cuối cùng ông Nhu chết cùng với vị tổng thống và chế độ do chính mình dựng nên, để lại thể chế cộng hòa còn non nớt.

Ngày Diệm - Nhu bị lật đổ được lấy làm ngày quốc khánh thứ hai cùng nền cộng hòa thứ hai (đệ nhị) và bản hiến pháp thứ hai ở miền nam. Người lật đổ Diệm (tổng thống đầu tiên của miền nam) sau này trở thành tổng thống cuối cùng của miền nam và hàng tướng nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Các bí ẩn quanh quan hệ của tướng Dương Văn Minh, thượng tọa Trí Quang, nhà điệp báo Phạm Xuân Ẩn, cùng với khám phá mới nhất (2013) của Miller về kế hoạch tấn công giải phóng miền bắc của ông Diệm (sau trận Ấp Bắc), sẽ là món “nhậu” khoái khẩu cho các vị theo thuyết âm mưu, và là sự hồi hộp cho những ai kiên nhẫn đợi chờ sự tiết lộ dần dà của lịch sử.

Trước khi chuyển qua bản luận văn, xin trích vài đoạn trả lời của ông Nhu, theo ghi chép của bác sĩ Tuyến:

* Câu hỏi: Hình như Đức Hồng Y Spellman có khuyến cáo Tổng Thống nên mở rộng chính phủ và chấp nhận đối lập?

* Ông Nhu trả lời: Điều đó có, Tổng Thống cũng đang cứu xét nhưng với một nước chậm tiến như Việt Nam không thể áp dụng chế độ tự do dân chủ như Tây phương.
Đất nước chúng tôi truyền thống dân chủ từ cả ngàn năm trước, dân chủ từ hạ tầng, từ xã ấp. Ở thượng tầng phải làm thế nào giữ được uy quyền tối thượng của quốc gia.

Mỹ có thói quen bắt buộc các đồng minh phải dập khuôn như họ…nhưng ở Mỹ khác, ở Á Châu này khác…trong một quốc gia hòa bình thì lại hoàn toàn khác với một quốc gia đang có chiến tranh.

Tổng Thống Kennedy khuyến cáo Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là (mô) phỏng cơ chế dân chủ của Mỹ. Nhưng (), ông cha chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm về nạn chia rẽ, nạn kỳ thị phe phái…nếu ở Việt Nam áp dụng dân chủ như ở Mỹ thì chỉ đi đến tình trạng hỗn loạn. Mà Việt Nam thì không thể chấp nhận được tình trạng hỗn loạn.

* Câu hỏi: Hình như Tổng Thống Kennedy muốn Miền Nam có sự canh tân Hiến Pháp?

* Ông Nhu trả lời: Không chính thức khuyến cáo như vậy nhưng Hoa Thịnh Đốn gián tiếp muốn chúng tôi làm như vậy.

* Câu hỏi: Hầu hết người Mỹ đứng đắn đều không muốn Việt Nam bị xáo trộn nhưng họ muốn một chế độ cởi mở?

* Ông Nhu trả lời: Vâng họ đang lên án chúng tôi là độc tài cũng như trước đây họ đã lên án Tưởng Giới Thạch và Lý Thừa Vãn… Người Mỹ đã lầm giữa chế độ độc tài với sự bảo vệ uy quyền quốc gia tối thượng. Chẳng hạn họ bảo chúng tôi là độc tài vì cho rằng không có Tối Cao Pháp Viện nên Hành Pháp điều khiển Tư Pháp. Họ cũng kết án chúng tôi là độc tài vì cho rằng Quốc Hội chỉ có một viện và do Quốc Hội không kiểm soát được Hành Pháp.
----
Trích từ “Chính đề Việt Nam”:

“Nước Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lãnh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển, và nhỏ về sự góp phần của chúng ta vào văn minh nhân loại.

Trong suốt phần lịch sử nhân loại mà chúng ta được biết tới ngày nay, số phận của các quốc gia nhỏ, từ xưa vẫn không thay đổi. Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng phải bị chi phối bởi những trận phong ba bão táp vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra. Và lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên tục của một cuộc ngoại xâm”.

“Từ ngày lập quốc, hơn một ngàn năm lịch sử đã chứng minh rằng Việt Nam chúng ta không thoát ra ngoài vận mạng thông thường đó. Hết phải chống Bắc, rồi phải chống Tây, rồi lại phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa Dân Tộc Việt Nam”.

“Trong quá khứ, ngay những lúc ta chiến thắng Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng khôn ngoan hòa thuận với Trung Quốc và tự đặt mình vào chế độ thuộc quốc. Nhưng điều mà Trung Quốc muốn không phải là Việt Nam chỉ thần phục và triều cống Trung Hoa, suốt thời gian gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa coi như tạm mất’’

“Như vậy, thuyết cộng sản đối với Nga chỉ là một phương tiện và ngày nào mục đích đã đạt được, phương tiện sẽ không còn giá trị nữa.

Các biến cố hiện tại ở Âu Mỹ chứng tỏ rằng Nga sắp đến lúc bỏ phương tiện cộng sản và trở về với xã hội Tây phương”.

“Sức mạnh của nước Anh hay nước Mỹ mà chúng ta mục kích ngày nay bắt nguồn trước hết từ chỗ hai quốc gia này đã thực hiện được việc liên tục lãnh đạo quốc gia trong gần 200 năm.

Một nhà lãnh đạo Anh, ngày nay bước lên nắm chính quyền, là tức khắc sau lưng mình có 400 năm kinh nghiệm và văn khố làm hậu thuẫn. Đó là một di sản quí báu không có gì thay thế được và tạo cho họ một sức mạnh phi thường.”

“Như trên đã trình bày, sự lãnh đạo quốc gia được liên tục khi nào các điều kiện dưới đây được thỏa mãn:

1. Sự chuyển quyền được bình thường từ lớp người trước cho tới lớp người sau.

2. Các bí mật quốc gia được truyền lại.

3. Thuật lãnh đạo được truyền lại và được cải thiện càng ngày càng tinh vi.

4. Các kinh nghiệm của dĩ vãng được xếp vào văn khố, được truyền lại và có người biết sử dụng văn khố.”

“Trình độ gián đoạn trầm trọng nhất xảy ra khi sự chuyển quyền không thực hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau. Bí mật lãnh đạo và bí mật quốc gia đều mất.

Thuật lãnh đạo không truyền lại được. Di sản dĩ vãng không người thừa nhận, văn khố thất lạc và bị cướp bóc. Đó là trường hợp của các nước bị chinh phục, mất chủ quyền. Và đó là trường hợp của Việt Nam chúng ta trong thời kỳ Pháp thuộc.”
*****

Tác giả của bản luận văn tốt nghiệp trường Chartes năm 1938 đã chết cách đây đúng nửa thế kỷ. Và lời giới thiệu về tác giả như thế này là quá dài và hơi liên thiên. Dưới đây là bản dịch tóm lược bản luận văn…

NHỮNG PHONG TỤC VÀ TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI AN NAM Ở ĐẰNG NGOÀI THẾ KỶ XVII

Tác giả: NGÔ ĐÌNH NHU

- Tài liệu tham khảo

- Phần mở đầu

- Không có bất cứ tài liệu nguồn gốc châu Á nào, do đó các tài liệu châu Âu có vai trò đặc biệt quan trọng.

- Các thầy tu dòng Tên (Jésuites): Baldinotti, Alexandre de Rhodes, Marini, Tissanier. Các thầy dòng của Hội thừa sai: Deydier, Jacques de Bourges, Belot, Guisain. Các nhà buôn: Baron, Dampier.

- Văn khố của Hội thừa sai; tổng hợp và miêu tả.
—————
PHẦN MỘT: XÃ HỘI

CHƯƠNG MỘT: CÁC NHÓM DÂN CƯ

1. Làng xã. – bao gồm hai mươi đến bốn mươi ngôi nhà lợp mái rơm rạ, dựng nên từ tre và đất sét. Không có công trình kiến trúc lớn. Nước lấy từ ao.
Trưởng làng có nhiệm vụ thu thuế và chủ trì việc phân chia phần đất chung theo kì hạn.
2. Chợ giữa các làng. – Chợ họp hàng tuần và thường là giữa bốn đến năm làng, các làng thay phiên nhau làm chủ chợ. Việc họp chợ giữa các làng là tế bào kinh tế của cả vùng. Các đô thị quan trọng nhất là Domea (200 nóc nhà) và Hien (2000 nóc nhà) thường xuyên có sự hiện diên của các nhà buôn nước ngoài và Kien-lao (7000 giáo dân) trở thành lợi thế của vùng để được hưởng các ưu tiên của triều đình
3. Ke-cho (Hanoi) - Kinh đô, nơi có các công ty xuất nhập khẩu châu Âu. Sự phồn thịnh, 36 phố phường, bảy mươi hai khu chợ, mỗi phố chỉ chuyên một ngành hàng, 20 000 nóc nhà.

CHƯƠNG HAI: NÔNG NGHIỆP

1. Lúa gạo
a) Vị trí bậc nhất của cây lúa. Lý do.
b) Chế độ sở hữu: hợp đồng cầm cố (vente à réméré) chỉ được chấp nhận đối với người ngoại quốc, ruộng đất manh mún. Chiếm dụng đất theo dòng họ (groups de famille), sự nhũng lạm của giới quý tộc.
c) Nông cụ: sử dụng cày. Tự điển của linh mục de Rhodes cần được sử dụng cẩn trọng, có liên hệ tới cả Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài.
d) Canh tác: hai vụ lúa mỗi năm và tô (prix de revient) tăng cao.
e) Nạn đói: mười hai nạn đói từ năm 1681 đến 1721: tính chất.
2. Trồng trọt thứ yếu. - Trồng cau, dâu tằm.

CHƯƠNG BA: CHĂN NUÔI, ĐÁNH CÁ, CÔNG NGHIỆP

1. Chăn nuôi. - Gia cầm và lợn thịt. Ít bò và trâu. Thiếu đồng cỏ.
2. Đánh cá. - Tầm quan trọng đối với người Đàng Ngoài
a) Nước ngọt: Vợt và vó.
b) Trên biển: kém phát triển do giá tàu biển cao.
3. Làng nghề. - Có rất ít tài liệu liên quan đến chủ đề này: văn khố của Hội thừa sai cung cấp một văn bản quý giá cho phép định vị nghề dệt chiếu ở tỉnh Nam-dinh. Nghề sơn và gốm sứ.
Kéo sợi và dệt lụa là nguồn cung xuất khẩu duy nhất: các nhà buôn nước ngoài đến vào tháng bảy, đặt mối với các thợ thủ công – luôn phải qua khâu trung gian – và chờ đợi ít nhất sáu tháng để đơn hàng được hoàn thiện.

CHƯƠNG BỐN: TIỀN TỆ

1. Các loại tiền tệ. - Duy nhất một loại tiền được lưu hành: tiền đúc từ đồng. Tiền 10 đồng và 6 đồng được nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ được dùng ở Ke-cho và bốn tỉnh xung quanh.
2. Tỷ giá quy đổi. - Sự ổn định của đồng so với vàng, sự bất ổn của tiền đồng trong đó có yếu tố trượt giá: 1 quan đổi ra 600 đồng năm 1666 và 1200 đồng năm 1715.
3. Cho vay nặng lãi. - Lãi suất hợp pháp từ 25% đến 30% thường xuyên bị vượt qua, người ta cho vay lấy lãi 100% đến 240% rồi 3600%. Tình trạng khốn cùng cuối thế kỷ XVII và đời sống đắt đỏ.

CHƯƠNG NĂM: THƯƠNG NGHIỆP

1. Nội thương
a) Các con đường giao thương: sông và kênh
b) Các phương tiện giao thông: không có máy móc vận tải, chuyển chở trên ván thăng bằng, thuyền ba ván.
2. Ngoại thương. – Những con đường đến Đàng Ngoài: mọi hoạt động ngoại thương đều qua đường biển. Thương nhân Trung Quốc ngược lên Cua Luc-bô (Rokbo theo Dampier) chính là sông Đáy; người châu Âu qua Cua Lâ (Thai-Binh) dẫn đến Domea; ngôi làng này chắc chắn không phải là Dôn-Minh, mà là Dông-xuyên-ngoai : những tàu buôn châu Âu không đi xa thêm trong khi thuyền mành (jonque) Trung Quốc ngược lên đến Hien.
Người ta không bao giờ chỉ ra rằng, bên ngoài Đàng Ngoài, không có bóng dáng một con thuyền cũng như không có một nhà buôn Đàng Ngoài nào, và những người châu Á khác cùng với người châu Âu đã độc chiếm hoàn toàn ngoại thương của vùng.
Thường xuyên thiếu lương thực, bị bỏ đói định kỳ, người Đàng Ngoài nhận lấy một sự tồn tại khốn khó, bất bênh và không thể nghĩ đến điều gì ngoài miếng cơm hàng ngày.

PHẦN HAI: CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH

CHƯƠNG MỘT: TỔ CHỨC GIA ĐÌNH

1. Nền tảng của quan hệ họ hàng. - Quan hệ huyết thống, địa vị vượt trội của họ hàng bên nội thể hiện qua những cách gọi tên đặc biệt.
2. Cấu trúc gia đình. - Không có thị tộc (clan); bố mẹ và con cái.
3. Tổ chức gia đình. - Người mẹ phụ thuộc vào quyền quyết định của người cha, con cái bình đẳng.

CHƯƠNG HAI: HÔN NHÂN

Nguồn bằng chứng châu Âu dồi dào trở nên đặc biệt quý giá khi không có bất cứ tài liệu nào có xuất xứ An Nam.
1. Vai trò của đôi vợ chồng tương lai. - Không có quyền được chọn người hôn phối; bố mẹ cưới gả con từ khi còn nhỏ tuổi.
2. Ăn hỏi. - Người mối lái, sính lễ, thách cưới chàng rể tương lai.
3. Đám cưới. – Trình của hồi môn, luôn là ruộng vườn và được tặng bởi chú rể; nộp khoản phí bắt buộc cho các chức sắc trong cộng đồng; cỗ cưới do chú rể chi trả; cô dâu trình diện trước các ông thần bếp (ông Táo) và tổ tiên của chồng

CHƯƠNG BA: CHẤM DỨT HÔN NHÂN

1. Ly hôn. - Người phụ nữ hiếm khi có thể ly hôn và trong trường hợp có thể thì phải bồi thường cho người chồng.
2. Bỏ vợ. - Người chồng luôn có rất nhiều cơ hội để ruồng rẫy vợ.
3. Cách thức ly hôn và bỏ vợ. - Sự phá bỏ quan hệ hôn phối được thể hiện công khai: “đồng tiền hay chiếc đũa bẻ đôi”
4. Bât-dông hay dô-dông. - Các quý tộc có quyền lấy làm lẽ những người phụ nữa góa chồng, bị chồng bỏ, ly hôn hay những cô gái chửa hoang trong làng; những người này chỉ có thể khước từ bằng cách nộp 1 quan tiền cho quý tộc và từ đó không được phép lấy bất cứ ai. Tục lệ này chỉ còn được lưu giữ trong văn khố của Hội thừa sai.

CHƯƠNG BỐN: SINH VÀ TỬ

1. Sinh
a) Ngày sinh: đặc biệt quan trọng
b) Tên riêng: không được là tên một đứa trẻ khác đã chết; đặt tên xấu cho con để tránh bị ma quỷ quấy nhiễu. Khi đứa con đầu tiên ra đời, cách gọi tên ông bà nội và ông cậu họ nội sẽ được thay đổi, cách gọi tên người con cả thay đổi khi người con thứ ra đời. Khi thôi nôi, đa phần tên gọi cũ sẽ được thay thế bằng một cái tên đẹp.
Sự tôn kính một bậc bề trên thể hiện qua việc không bao giờ gọi tên của người này cũng như tên của cha mẹ ông ta, và người ta phải nói chệch đi bằng các từ đồng âm với tên gọi; cũng từ đó mà một số gia đình có vốn từ đặc biệt.
c) Tuổi trưởng thành: mười tám tuổi. Thông thường, trẻ em được tính một năm tuổi khi vừa chào đời và được hai tuổi vào Têt (đầu năm) sau.
d) Con nuôi: phổ biến, nhưng không được chứng thực bằng giấy tờ và không công khai. Baron được một hoàng tử ở Đàng Ngoài nhận nuôi để không phải chịu phiền toái và những Thừa sai người Pháp nhận làm con trai danh dự của một ái phi của Trinh Can để tự bảo vệ trong một phiên xử khó. Nhận nuôi thường không chỉ là một sự tiến cử đơn thuần, chỉ ra rằng ở Đàng Ngoài vào thế kỉ XVII không có tổ chức xã hội nào khác ngoài gia đình và rằng người ta không thể có người bảo hộ nào khác ngoài cha và mẹ.
2. Tử. - Người Đàng Ngoài sợ cái chết, nhưng có thái độ chấp thuận, và sợ nhất là không có được một cỗ áo quan đẹp. Thi hài được quàn trong mười đến mười lăm ngày trước khi được an tang ở bản quán. Thời gian chịu tang: ba năm cho con, hai năm, ba tháng và mười ngày cho góa phụ; phải sống khắc khổ trong thời gian chịu tang. Thờ cúng tổ tiên, trong đó gia đình là đơn vị, tạo nên sự gắn kết và sức mạnh.

PHẦN BA: ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN

CHƯƠNG MỘT: TRANG PHỤC

Tóc thả dài, biểu tượng của tự do; việc cắt tóc là một nhục hình hoặc là dấu hiệu của tang gia. Trán rộng được cạo nhẵn, răng được nhuộm lúc mười sáu hay mười bảy tuổi. Mũ, quần áo. Dân cư chủ yếu ở trần.

CHƯƠNG HAI: THỨC ĂN

Gạo là thức ăn chính; thịt, nhất là thịt chó; các loại cá và nuoc-mam. Chỗ ở và đất đai. Một chế độ ăn thiếu thốn giải thích cho việc các tín đồ Cơ Đốc ở Đàng Ngoài đều không ăn chay.

CHƯƠNG BA: TÍNH CÁCH

Có sự tương thích giữa các lời chứng. Người Đàng Ngoài cởi mở, nhạy cảm với tình bạn, ý tứ, ít gây gổ, ngăn nắp nhưng cũng tham ăn (có lẽ đơn giản là do bị bỏ đói), lười nhác và trộm cắp. Mại dâm thế kỷ XVII.

KẾT LUẬN

Nhìn chung, các tập quán ở Đàng Ngoài không có nhiều thay đổi từ thế kỷ XVII và không có gián đoạn nào trong sự tiếp nối tâm lý. Tuy nhiên, ta nhận thấy ở người Đàng Ngoài một sự thích nghi đáng lưu ý: những phong tục khắc nghiệt biến mất không để lại dấu vết và nhận định này khiến chúng ta cần thật sự cẩn trọng trong những giả thuyết về các nguồn gốc của văn minh Đàng Ngoài.

NGUỒN:https://nghiencuulichsu.com/2017/03/01/ngo-dinh-nhu-nha-luu-tru-viet-nam-thoi-ki-1938-1946/

Fb Nguyễn Huỳnh Gia Bảo

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

Đô La Đỏ


(Đề tài này gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm hơn tất cả các chiến hữu của tôi vì khác với họ, duyên số đã đưa đẩy tôi phục vụ gần 7 năm, từ đầu năm 1966 tới 1972  tại các đơn vị tác chiến HK nên cũng đá có dịp xài đồng tiền này mỗi khi được một counterpart hay bạn Mỹ đưa tôi vô PX, siêu thị Mỹ, mua đồ).
Kỷ niệm thời quân đội Mỹ còn chiến đấu tại VN .

Đô La đỏ - Song Thao

Ngày đó, có được cuốn catalogue của Sears, quen được người có thể nhờ mua hàng trong PX của Mỹ là số một. Thứ gì cũng có, toàn hàng Mỹ thơm phức. Dân ta ngày đó tưởng Sears là thứ xịn ở Mỹ vì hàng chi cũng rất đẹp. Khi qua Mỹ mới biết Sears là loại cửa hàng bình dân. Nhưng dù sao cũng một thời. Muốn có đồ Sears hồi đó phải có đô la đỏ.

Thế hệ sau này chỉ biết đô la xanh. Vậy thì đô la đỏ là cái giống chi? Gọi là đô la đỏ nhưng thực ra đây không phải là đồng tiền mà chỉ là Military Payment Certificate (Chứng Chỉ Thanh Toán của Quân Đội), viết tắt là MPC. Không phải là tiền nhưng có giá trị tiêu dùng như tiền nên việc in ấn cũng tinh xảo như đồng đô la xanh để tránh bị làm giả. Không biết có phải muốn phân biệt với đô la xanh mà người ta gọi MPC là đô la đỏ hay không nhưng thực ra MPC không chỉ có màu đỏ mà còn nhiều màu khác như nâu, xanh hoặc tím. Đô la đỏ có nhiều serie khác nhau. Serie đầu tiên được sử dụng tại Việt Nam là “serie 641”. Trên đồng tiền (cứ tạm gọi như vậy), có in hàng chữ: “For use only in the United States military establishments - by United States authorized personnel in accordance with applicable rules and regulations”. Chỉ sử dụng tại các cơ sở của quân đội Hoa Kỳ - bởi các nhân viên được phép dùng, phù hợp với quy định và luật lệ đang được áp dụng.

 

Vậy là chỉ có lính và dân sự Mỹ được mó tay vào đồng tiền đỏ này. Nhưng luật là luật, lệ ở Việt Nam ngày đó khiến dân ta cũng dùng thoải mái. Tôi nhớ trong túi hồi đó cũng rủng rỉnh đô la đỏ để mỗi lần được mời thăm viếng doanh trại Mỹ và quân đội đồng minh thế nào cũng được dẫn vào cửa hàng PX trong trại để mua đồ. Đô la đỏ hồi đó có những giấy bạc trị giá từ 5 xu tới 20 đô. Dân Việt Nam thân cận với quân nhân Mỹ, nhất là các cô vợ hờ của mấy anh G.I., thường giữ đô la đỏ để nhờ mua hàng trong PX (Post Exchange) về bán chợ đen. Lại phải nói cho rõ G.I. là cái chi. Đó là viết tắt của chữ Government Issue, tức là các anh lính Mỹ. Số hàng tuôn ra này thường được bán cho các con buôn chợ trời nhưng nếu biết mua tận nguồn sẽ được giá nới hơn. Có lần tôi muốn mua một máy hát chạy băng Akai, ông anh họ tôi đã dẫn tới nhà một cô vợ Mỹ tại Lăng Cha Cả, mua máy còn nguyên trong hộp chưa mở với cái giá rẻ hơn ngoài chợ trời nhiều.

 

Vì đồng đô la đỏ lang thang trong dân chúng Việt Nam nên quân đội Mỹ lâu lâu lại diệt cái nạn này bằng cách đổi tiền. Đó là lý do đô la đỏ có nhiểu series. Khi đổi tiền, người ta cho ra lò nguyên một serie mới, serie cũ coi như giấy lộn. Tại Việt Nam, series 641 được sử dụng đầu tiên từ năm 1965 đến 1968, đổi qua series 661 từ 1968 đến 1969, series 681 từ 1969 đến 1970, series 692 từ 1970 đến 1973. Vậy là có ba lần đổi tiền tất cả. Mỗi khi đổi tiền đô la đỏ là giới con buôn trắng tay nhưng họ khôn tổ chảng, chẳng dại ôm nhiều tiền. Tiền đổ vào hàng hóa hết nên họ làm lại cuộc đời chóng vánh. Tôi không ở trong giới này nên không biết họ có được biết trước ngày đổi tiền để tránh không. Vì vào ngày đổi tiền “C-Day” (Conversion Day) này, toàn thể quân nhân Hoa Kỳ bị cấm trại một trăm phần trăm.  Dân buôn làm chi chẳng đánh hơi trước được. Mỗi lần đổi đô la đỏ, tôi hầu như không hề hấn chi vì trong túi có bao nhiêu đâu mà mất nhiều. Mất chút đỉnh chỉ như gãi ngứa.

 

Đô la đỏ có mặt tại các quốc gia có quân đội Mỹ đồn trú vì lý do kinh tế. Nếu cho lính Mỹ xài đô la xanh thì số lượng đô la này sẽ làm chao đảo nền kinh tế địa phương, nhất là những nền kinh tế còn èo uột như Việt Nam hồi đó. Ông Nguyễn Hữu Hanh, Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia, kể lại trong cuốn hồi ký “Câu Chuyện Đời Tôi”: “Tôi thường nói với những người đối tác bên phía Mỹ và bộ chỉ huy quân sự Mỹ rằng 500 ngàn du khách (đó là con số lính Mỹ tại Việt Nam) lương mỗi tháng 600 USD mỗi người, là một gánh quá nặng đối với một nền kinh tế bé nhỏ như Việt Nam nếu họ được phép tiêu xài thả cửa trên thị trường bản địa; điều đó sẽ tạo ra một áp lực khổng lồ trên mặt cung ứng sản phẩm và tỉ lệ lạm phát sẽ bùng nổ theo một chiều hướng tệ hại. Tôi cực lực yêu cầu những người lính Mỹ chỉ được tiêu xài trong phạm vi căn cứ của họ, và phải được cách ly khỏi nền kinh tế Việt Nam. Việc lính Mỹ xài quá nhiều tiền trong khi sống giữa một khối dân chúng nghèo khổ, cùng với việc họ công tác bên cạnh những người lính Việt Nam sống một đời cực nhọc nguy hiểm mà lương mỗi tháng chỉ 20 USD cho cả nhà gồm có tới chín, mười người sẽ gây nên một vấn đề xã hội, chính trị hết sức đáng quan ngại”.

 

Điều quan ngại của ông Thống Đốc Ngân Hàng là đúng nhưng đồng tiền có chân và thích bơi lội. Nơi nào trũng là chúng bò tới, chẳng ai ngăn cản nổi. Anh lính hạng bét của Mỹ ngày đó cũng là triệu phú ở Việt Nam. Một chú GI lãnh 600 đô đỏ mỗi tháng, không phải chi tiền ăn ở, tiêu vung vít vào Saigon Tea, là một trong những cánh cửa lớn cho đô la đỏ mò vào xã hội Việt Nam. Lại phải nói sơ qua về Saigon Tea. Đó là chiêu trò của các bar dành cho lính Mỹ tại Sài Gòn. Các chú GI vào bar ngả ngớn uống rượu, anh uống em uống, anh một ly em cũng một ly. Ly anh hay ly em, anh đều phải móc túi chi tiền. Trả tiền hai ly rượu nhưng rượu của các em chỉ là nước trà. Tiền nước trà cũng bằng tiền rượu. Số sai biệt giữa giá một ly rượu và một ly nước trà các em và chủ bar chia nhau. Biết là bị bắt chẹt nhưng khi đã ăn chơi có hơi rượu thì chín bỏ làm mười cho xứng mặt anh hào!

 

Chẳng phải chỉ có người Việt buôn tiền đô la đỏ, các anh Gi cũng rất rành chuyện buôn bán này. Nhiều anh được gia đình ở Mỹ thương yêu gửi tiền cho, các anh lãnh bằng đô la xanh. Màu xanh ăn đứt màu đỏ. Các anh đổi ra đô la đỏ ngoài thị trường chui với giá 100 đô xanh ăn 180 đô đỏ. Gần gấp đôi. Trong trại thì tiêu đô la đỏ, ngoài đường phố thì tiêu tiền Việt. Lại đổi từ đô la đỏ ra tiền Việt, chênh lệch rất cao. Vậy là 100 đô xanh, nhấp nháy đã phồng lên, tha hồ bao các em Saigon Tea.
 

Inline image

 

Máy hát Akai.

 

Hàng hóa bán trong các PX là để cho các anh GI mua dùng. Giá cả là giá ưu đãi và miễn tất cả các loại thuế nên rẻ hơn cả giá bán tại Mỹ. Từ hàng nhỏ đến hàng lớn, từ cục xà bông Dial, bao thuốc Salem, lon Coca đến những thứ mà dân Việt ngày đó thấy to đùng như radio Zenith, máy ghi âm Akai, máy ảnh Olympus, ti-vi Denon. Chiếc máy Akai ngày đó tôi cặm cụi để dành tiền mua được là cả một hạnh phúc tràn trề. Những cuộn băng to sù ôm ấp tiếng hát của Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Lan, Quỳnh Giao, Mai Hương vang vang với tiếng đàn tiếng bass nghe phập phùng muốn bể tai sao mà sung sướng đến vậy.

 

Trên lý thuyết hàng hóa từ PX chỉ có quân nhân Mỹ xài nhưng họ vốn là những người có lòng nên cho dân Việt xài chung. Dân Việt sức mấy mà mua trực tiếp từ PX được nên muốn xài phải qua tay các cô vợ hờ của quân nhân Mỹ. Cái chi có trong PX đều có ngoài chợ trời. Nhưng nếu rảo bước ngoài chợ trời hồi đó, chúng ta chỉ thấy bày bán thực phẩm và những đồ dùng nho nhỏ. Nhưng nếu biết to nhỏ với người bán, chúng ta có thể mua được những thứ to đùng như ti-vi, máy quay đĩa và các loại máy cồng kềnh khác. Ngay cái thứ nho nhỏ mà các ông khoái tìm mua là tạp chí Playboy cũng phải to nhỏ với người bán mới có.
 

Thế hệ chúng tôi ở Sài Gòn ngày đó ít ai không bén mảng tới chợ trời đồ Mỹ. Tôi thường la cà nơi chợ trời Kỳ Đồng– Nguyễn Thông, nơi trên là trời dưới là hàng PX. Nhiều lần chẳng cần thứ chi cũng cất bước tới ngắm cho đã con mắt. Vậy mà chẳng có khi nào về tay không. Khi thì thỏi súc-cù là, lúc thì gói cereal, sang hơn thì vài trái cam trái táo. Nhìn thấy là phải rinh về. Thuốc lá thì ê hề: Salem, Lucky, Pall Mall, Kent, Kool. Tôi không nghiện hút thuốc lá nhưng thỉnh thoảng vui bạn vui bè cũng thả khói cho có với người ta. Vậy mà trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi luôn có hộp quẹt Zippo. Không phải một cái mà nhiều cái. Trên bàn tiếp khách tại nhà, cạnh giường ngủ, trong túi quần. Không thắp thuốc cho mình thì thắp thuốc cho bạn bè. Đó là một chỉ dấu của thanh niên Sài Gòn. Khẽ khẩy tay một cái, nắp Zippo bung lên, một ngọn lửa xanh lè bùng lên thơm mùi xăng. Bạn bè trong quân đội của tôi càng không thể thiếu thứ vừa tiện lợi vừa sang cả này. Zippo không kỵ gió, không kỵ sương, không kỵ cả những giọt mưa nho nhỏ trên chiến trường. Theo một thống kê của báo Time hồi đó, đã có tới 200 ngàn Zippo theo chân lính Mỹ qua Việt Nam. Còn số Zippo bán trong PX không biết bao nhiêu. Trong những lần hiếm hoi được vào mua trong PX, chốn đầu tiên dân ta nhào tới nhất định phải là khu bán hộp quẹt Zippo.

 

Hàng hóa nơi chợ trời đều là hàng từ PX tuồn ra nhưng thủ phạm không chỉ là những chú GI thường mặt mũi vắt ra sữa. Còn nhiều nguồn khác. Như nguồn từ các con buôn toa rập với nhân viên của PX chở hàng xe ti-vi, tủ lạnh, bếp ga vùi trong các xe rác chạy từ trong căn cứ ra. Đó là nguồn hàng lớn. Nguồn hàng nhỏ là các nhân viên người Việt làm trong căn cứ Mỹ giấu trộm trong người mang ra. Báo Đức Der Spiegel, số ra ngày 28/10/1968, có bài viết của ký giả Lederer Williwm J., có đoạn như sau: 

“Hệ thống cửa hàng PX có trên 5 ngàn phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65 ngàn dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ. Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như không chấm dứt việc kiểm tra này. Trong thời gian thực hiện bài báo này, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn này”. 

Chuyện khám xét này chắc chắn có, nhưng chuyện dọa đình công tôi hơi nghi ngờ. Được vào làm việc tại các căn cứ lính Mỹ là chuyện may mắn. Lương cao, bổng lộc nhiều nhưng vẫn ăn cắp vặt là chuyện thường tình. Hàng hóa, thực phẩm Mỹ ngon lành nên làm những người thiếu thốn nổi lòng tham. Chẳng cứ người Việt, người Phi Luật Tân hay Đại Hàn, làm chức vụ quản lý, cũng cho con buôn tin tức hàng hóa nhập về trong ngày để họ tìm cách săn mua. Tác giả Trang Nguyên kể lại: “Có lần tôi tới thăm người bạn vừa mới có thân nhân sang định cư theo diện làm sở Mỹ. Bà chị của người bạn này trước đây từng làm nhân viên bán hàng PX ở Chợ Lớn. Hỏi về chuyện hàng hóa tiêu dùng ở chợ trời và việc nhân viên bán hàng ở PX thời ấy “làm ăn” ra sao, chị đáp: ‘Có con chuột nào sống trong kho gạo mà không ăn gạo bao giờ’”.
 

Hàng hóa chui ra chợ trời theo lối ăn cắp này dĩ nhiên không có sự tham dự của đồng đô la đỏ. Nhưng người tiêu thụ đâu cần biết hàng ra qua lối nào. Tác giả Trang Nguyên, khi đó còn nhỏ cũng còn nhớ: “Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt để tới xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp. Từ ngã ba Kỳ Đồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hòa Hưng, hai bên đông kẻ mua người bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột si-rô, cacao, thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường, sữa gì cũng có. Tôi thích nhất là kẹo đậu phọng, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm mùi đậu phọng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi”.

 

Chợ trời đồ Mỹ được phân ra rất có trật tự. Chợ Nguyễn Thông, Kỳ Đồng bán thực phẩm. Chợ Huỳnh Thúc Kháng bán đồ điện tử. Chợ Dân Sinh bán các loại quân nhu. Chợ Cũ bán các loại rượu và thuốc lá. Hàng hóa từ PX Mỹ tuôn ra xối xả như vậy nên đồng đô la đỏ lên giá hoài hoài ngoài đường phố.

 

Đồng đô la đỏ có lịch sử lâu đời, bắt đầu từ năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Đầu tiên đô la đỏ được phát hành tại Âu châu, sau đó mới qua Á châu, những nơi có lính Mỹ đồn trú. Có tổng cộng 15 séries được in nhưng trên thực tế chỉ có 13 séries được sử dụng từ năm 1946 tới 1973. Tại Việt Nam, đô la đỏ có mặt từ năm 1965 đến 1973, năm quân Mỹ rút quân về. Trong khoảng thời gian 8 năm này, đã có bốn série MPC được phát hành. Ngoài ra có một séries thứ năm, séries số 691, đã hoàn tất bản kẽm nhưng không bao giờ được in vì cuộc chiến kết thúc. Sau Việt Nam, đồng đô la đỏ chỉ còn có mặt tại một nơi duy nhất là Đại Hàn, nơi còn có một số quân nhân Mỹ đồn trú. Nhưng cũng chỉ trong năm 1973, đồng MPC tại Đại Hàn được đổi ra đô la xanh, chấm dứt lịch sử của đồng tiền đỏ này, một lịch sử kéo dài 27 năm.

 

Đồng đô la đỏ bị khai tử nhưng không chết. Nó sống trong giới sưu tập tiền. Tôi không ngờ tới chuyện đội mồ sống dậy này. Sau 1975, tôi còn sống trong nước đúng chục năm. Trong những năm đồi đời này, cái chi dính líu tới chế độ cũ lo đốt sạch để khỏi mang hậu họa. Đồng đô la đỏ cũng lâm vào cảnh hỏa thiêu. Tiếc thì chẳng tiếc nhưng giá bây giờ còn giữ lại chắc cũng vui. Trên eBay, dân chơi tiền đã đẩy giá những đồng đô la đỏ lên cao hơn trị giá thật của chúng rất nhiều. Tờ 5 và 10 xu có giá 25 đô; tờ 5 đô đỏ có giá 90 đô xanh; tờ 10 xu của series 472 có giá 350 đô xanh; và tờ 1 đô của series 541được bán với giá 400 đô xanh!

 

Đỏ biến thành xanh với con số ngạo nghễ. Vậy mới biết chuyện chi cũng có màn lên voi xuống chó. Đời mà!

 

Song Thao

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ? NHÀ VĂN TÔ HOÀI


          
Blog Nhật Tuấn .

Mới đây, một anh bạn nhà văn khá nổi tiếng sau khi đọc loạt “ Chân dung hay chân tướng nhà văn” gọi điện khuyên tôi không nên viết các nhà văn quá cố, bởi người chết không còn cãi được mà chỉ nên viết người đang sống, còn “phản biện” được.
Chiều lòng anh bạn, kỳ này xin nói tới một nhà văn cao tuổi : lão nhà văn Tô Hoài.
 Sinh thời, ông trùm văn hoá mác xít Việt Nam, nhà phê bình văn học Như Phong “khái quát “ về nhà văn Tô Hoài vẻn vẹn có mỗi một câu :“thằng ngoại ô láu cá, văn chương đẽo gọt”.
Văn chương khoan nói , nhưng về cái sự khôn lỏi, láu cá đầy phong cách “ngoại ô” thì Hội nhà văn phải lấy “ông này tiên sư”.
Thời bao cấp, đi nước ngoài “tham quan, hội thảo, gặp gỡ” ( hồi đó chưa có từ “giao lưu”) còn là một mơ ước xa vời với các bác có chân trong Hội nhà văn Việt Nam.
Từ khâu đầu tiên được Ban đối ngoại Hội dự kiến, Ban thường vụ Hội duyệt rồi qua Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá, Bộ Ngoại giao rồi tới Vụ Văn Nghệ,  Ban tuyên giáo trung ương , Ban bí thư…là cả một “con đường sấm sét”  muôn vàn trắc trở.  Cử ai đi chứ cái thằng cha X. này phải coi lại . Nghe nói tư tưởng “có vấn đề ”. Nghe nói phát ngôn lung tung. Nghe nói viết lách không rõ ràng…Bằng ngần ấy ông “gác cửa”, chỉ cần một ông “ phán cho một câu” là rớt đài…đợi chuyến sau.
Ấy vậy mà lọt qua được bằng ấy cửa tử rồi, vẫn cứ phải chờ “anh Lành “ ( tức đồng chí Tố Hữu ) gật cho một phát mới gọi là tạm yên tâm và bắt đầu hồi hộp chờ nhận comlê, cavát , hộ chiếu, vé máy bay đợi ngày xuất ngoại.
Hội nhà văn Việt Nam hồi đó có hơn 150 Hội viên mà hàng năm chỉ có dăm bảy suất , bởi vậy đó là cuộc đấu tranh sinh tử, giành giật âm thầm và quyết liệt chẳng thua gì vũ đài quyền Anh.
Nhà văn nổi tiếng và có nhiều tác phẩm giá trị như Nguyễn Thế Phương, tác giả tiểu thuyết “Đi bước nữa”, “Đào chèo”…mà đến tận cuối đời mới được đi Trung Quốc ngắn ngày, còn nhà thơ Quang Dũng, từ “ Đôi mắt người Sơn Tây” tới “Nhà Đồi” , viết lách cả ngàn trang văn học cách mạng mà …chưa ra khỏi biên giới lần nào.
Ấy thế mà riêng Tô Hoài, tổng kết lại trong thời bao cấp ông đã xuất ngoại tới cả trăm lượt, đủ  các nước Á, Âu, Mỹ , Úc, Phi đến mức dân gian  có câu :
“Đảng đoàn là Đảng đoàn Thông,
Ở đâu có rượu là ông tới liền
Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài,
Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”
Hồi đó ông nhà thơ Hoàng Trung Thông và ông nhà văn Tô Hoài đều có chân trong Đảng đoàn Hội nhà văn Việt Nam . Các bác Hội viên “ cả đời chưa một lần đặt đít lên ghế  tàu bay” phải ca cẩm :
” cái thằng ranh ma thế , có mỗi con dế mèn mà bay khắp thế gian” .
Xem vậy đủ hiểu bác Tô Hoài luồn lách, chen lấn , cỡ cao thủ võ lâm mới lập kỳ tích số lần đi nước ngoài đáng đưa vào Guiness Hội nhà văn Việt Nam .
Vậy nhưng cái tính “ngoại ô láu cá” ấy của bác Tô Hoài chẳng phải do cách mạng hun đúc mà ngay từ hồi còn phong kiến đế quốc bác đã có nó  rồi. Ngày nay đọc lại “Dế mèn phiêu lưu ký” mới thấy “anh Sen làng Nghĩa Đô” ( tên thật của tô Hoài) đã ranh ma từ độ ấy, mới giật mình, sao chú dế oắt “ngoại thành” này “khôn lỏi” thế ? Lo toan cho cái thân mình thế ? Mới nứt mắt chú đã :
“Ngày nào cũng vậy, suốt buổi, tôi chui vào trong cùng hang, hì hục đào đất để khoét một cái ổ lớn làm thành cái giường  ngủ sang trọng. Rồi cũng lo xa như các cụ già trong họ dế, tôi đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp việc nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được…Bởi ăn uống điều độ, làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm…”
Từ thủa ấu thơ đã “phòng thân” kỹ lưỡng vậy trách gì khi trưởng thành chẳng rút ngay bài học “chui tọt ” vào hang sau khi lớn giọng trêu chị Cốc “ vặt lông cái Cốc cho tao, tao nấu tao nướng, tao xào tao ăn” để mặc thằng Dế Choắt bị chị Cốc “giận cá chém thớt” mổ cho đến chết, trong lúc đó Dế Mèn ta “ lên giường nằm khểnh, vắt chân chữ ngũ”, thây kệ thằng Dế Choắt ăn đòn thay mình.
Sau này, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, dù chàng Dế Mèn chẳng dám chọc tức Đảng câu nào, nhưng cũng “tự đấm ngực nhận lỗi” trên báo Nhân Dân số ra ngày 12 tháng 3 năm 1958 :
 “Tư tưởng xấu của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã tiếp tục len vào cơ quan của Hội nhà Văn, trên báo Văn, gây nhiều tác hại. Quan niệm mơ hồ của tôi, khách quan đã tạo điều kiện cho khuynh hướng tư tưởng nhóm ấy lợi dụng diễn đàn báo Văn và một số cơ quan khác của Hội Nhà Văn như nhà xuất bản, câu lạc bộ, đã gieo rắc quan điểm chính trị và nghệ thuật nguy hại. Sự yên tâm vô lý của tôi trước tình hình đó là do tôi đã hầu như không để ý rằng miền Nam còn nằm trong lưới đế quốc Mỹ. Bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ Diệm ngày đêm tìm mọi cách gieo rắc tư tưởng thù địch để phá hoại sự nghiệp xây dựng miền Bắc của chúng ta. Trong văn học hiện nay không thể quên mỗi tư tưởng đều hoặc có lợi cho ta hoặc có lợi cho địch. “
Rồi thì thây kệ “chị Cốc” cứ “mổ” la liệt các “ chàng Dế Choắt” : Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán… đuổi đi đào đất, vác than. Chàng Dế Mèn chui tọt ngay vào cái hang “ đề tài miền núi” viết toàn chuyện “quan thống lý Pá Tra” đàn áp , bóc lột “vợ chồng A Phủ”  tức “người Mèo ta khi chưa có Đảng”, tránh xa mọi chuyện hiểm nguy nơi phố thị, tha hồ cho “chị Cốc” hoành hành, chàng cứ ung dung “toạ hưởng kỳ thành”, vắt chân chữ ngũ lâu lâu lại “cưỡi con dế mền ” bay đi tham quan nước bạn.
Thành công đó là nhờ Tô Hoài đã rút “kinh nghiệm” của chú Dế Mèn ngày xưa :
“Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn gì cũng mang vạ vào thân”.
Cái đám Nhân văn Giai Phẩm kia đúng là “hung hăng bậy bạ”, “có óc mà không biết nghĩ” , “ Ôi thôi, chú mày ơi. Chú mày có lớn mà chẳng có khôn” (lời Dế Mèn dậy Dế Choắt) thì bị Đảng cho ăn đòn còn oan nỗi gì ? Phải khôn ranh, láu cá thì mới giữ được thân, hưởng lộc dài dài, chẳng thế mà hiền lành như nhà văn Bùi Hiển cũng phải than :
” Tôi lại có cảm giác là anh ( Tồ Hoài) có khuynh hướng hơi e ngại, hơi dè chừng…”.
 Giống như  chú Dế Mèn trong suốt cuộc phiêu lưu , chẳng thấy “hành hiệp giang hồ”, đánh kẻ mạnh cứu kẻ yếu , toàn đi “chọi “ với Cào Cào , Châu Chấu …mà cứ hễ thua là bỏ chạy. Tô Hoài cũng vậy, suốt cả mấy thập kỷ ngồi ghế “lãnh đạo văn nghệ” (hết Hội nhà văn Trung ương lại tới Hội nhà văn Hà Nội), bao nhiêu nhà văn Hà Nội bị “Cốc mổ” như  Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Vũ Bão, Lê Bầu…mà chưa lần nào thấy ông Dế Mèn lên tiếng bênh vực đàn em, chưa kể có khi còn xúi “chị Cốc” mổ thêm cho chết.
 Hoá ra “ triết lý con lươn” của Nguyễn Khải – cứ gặp rắc rối là tiết chất nhờn lủi mất, còn thua xa bí kíp “chui tọt xuống hang” của bác Dế Mèn. Cứ chữ “thọ” đeo sau lưng, Nhân văn –Giai Phẩm lủi lên Tây Bắc, Mỹ đánh bom Hà Nội , chuồn lên rừng…  cứ thế làm gì bác chẳng lập kỷ lục  Guiness “hễ đi nước ngoài là có ông ngay”.
Vậy nhưng “cứ tọt xuống hang” vậy rồi sự nghiệp văn chương chữ nghĩa của bác rồi sẽ đi về đâu ?

Blog Nhật Tuấn.

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

CHÙA TÂY PHƯƠNG



Huỳnh Hậu.

Chùa Tây Phương là một ngôi chùa cổ được khánh thành vào cuối thế kỷ 18 ở Huyện Thạch Thất, Tỉnh Hà Tây, Việt Nam. Trong ngôi chùa này có 18 bức tương A La Hán được điêu khắc bằng gỗ rất nổi tiếng. Mỗi tượng A La Hán được nghệ nhân dùng tài điêu khắc xuất sắc của mình để diễn tả từng nét mặt khác nhau thật sinh động.

Tôi chưa hề có dịp ghé thăm ngôi chùa Tây Phương nổi tiếng, nhưng đọc những tài liệu liên quan, thì biết phần lớn những tượng A La Hán trong chùa này đều mang nét đau khổ, sầu thảm của nhân sinh. Có lẽ điều này bắt nguồn từ giáo lý nhà Phật, muốn nhắc nhớ con người về những nguồn khổ trong cuộc sống. Cũng giống như thuở xa xưa Thái Tử Tất Đạt Đa từng trải nghiệm Sinh Lão Bịnh Tử ở bốn cửa thành rồi sau đó quyết định xuất gia, đi tìm chân lý cứu đời, cuối cùng trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Với con mắt của một người bình thường thì ý nghĩa của từng gương mặt của các vị A La Hán ở chùa Tây Phương chỉ có như thế!

Nhưng với những tay bốc phét, có hoa miệng, thì chúng bốc lên tận trời. Những nét mặt khổ đau, phiền muộn của các A La Hán được chúng ví như "Nỗi đau khổ của cha ông" khi chưa có ánh sáng của "đẻng" soi tới. Hãy nghe Huy Cận viết trong bài thơ Các vị La Hán Chùa Tây Phương:

Một câu hỏi lớn không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

Một bài thơ bồi bút, ca ngợi ơn đảng ơn bác để kiếm chổ đặt cái đít, ý nghĩa tóm gọn như thế, nhưng Huy Cận bốc láo là đã cưu mang, suy tư suốt 20 năm, từ 1940 tới 1960, mới viết xong. Nghe mà phát nhợn, đừng bốc quá chứ cha nội!

Nhưng Huy Cận không có mình ênh, kể về nịnh bợ thì Chế Lan Viên cũng không chịu đứng hàng thứ hai, văn vô đệ nhị mà lị! Hãy nghe họ Chế tán tỉnh đảng và bác trong bài thơ có tựa đề hơi hơi giống với lời Tổng Trọng tuyên bố trong năm 2016, dám Tổng Trọng nghe bùi tai nên cầm nhầm chăng? Bài thơ của Chế Lan Viên Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa
Những pho tượng Chùa Tây Phương 
Không biế́t cách trả lời.

Hai ông kiện tướng của một thời thơ mới, sau khi được đảng rọi đèn chân lý qua tim, đã trở thành thiên tài bưng bô siêu đẳng. Quái một điều là cả hai đều nhắm vào mấy A La Hán của Chùa Tây Phương để khai đao. Nỗi đau khổ của nhân sinh, trên toàn cõi đời này, không riêng gì ở Ấn Độ hay quốc gia nào, bỗng chốc lọt vào tay mấy cha lại trở thành cái khổ cái nghèo của dân Việt Nam dưới sự áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân, mà nếu không có "Câu Trả Lời" của đảng là chết chắc, suốt đời sẽ mặt ủ mày chau!

Những tên lau chau, hụ hợ với hai ông thi sĩ bưng bô, ra sức phân tích, bình thơ, nào là nghệ nhân điêu khắc A La Hán bằng bàn tay khéo léo của mình, còn Huy Cận và Chế Lan Viên điêu khắc A La Hán bằng thơ. Với tài năng như thế của Huy Cận, Chế Lan Viên,Tố Hữu, chả trách gì Hồ Chí Minh được điêu khắc thành cha già dân tộc liền tù tì!

Nhờ ơn đảng bác đã cho dân tộc câu trả lời, nên gần một thế kỷ qua, đất nước Việt Nam đã thăng tiến lên hàng quốc gia mạt rệp, mọi lãnh vực từ quốc phòng, kinh tế,giáo dục, y tế v.v... đều de theo cấp số lùi.

Chế Lan Viên khi ngủm rồi, người ta moi ra mấy bài thơ di cảo, mới lòi ra những gì ông viết trước đây toàn là BỊP. Còn Cù Huy Cận?

Thiên đường xã nghĩa tốt như thế mà thằng con luật sư "mặt hổ phù lưng cánh phản" CHHV của ông nhà thơ bỏ chạy theo tư bản giãy chết. Mang danh tiến sĩ luật, nhưng u mê ám chướng cách gì mà chạy qua Mỹ rồi vẫn ngáo đá binh vực cho cách hành xử của Tổng Trọng. Hết ý luôn!

Huỳnh Hậu.

THOÁT MẶC CẢM HÁN-VIỆT

 Nghĩ vụn bên cốc cà phê sáng:


THOÁT MẶC CẢM HÁN-VIỆT

. Nguyễn Hữu Nghĩa


Chữ và tiếng hán-việt là chữ Việt gốc Hán. Nhiều vị chủ trương nên bỏ quách tất cả các chữ gốc Hán đi để giữ cho văn hóa Việt được “độc lập”, ít nhất trong giai đoạn cần thoát Trung. Nghe thì rất phải, rất đúng, rất yêu nước, nhưng có cần phải làm vậy không, làm được không và làm tới mức nào?


Có cần phải loại trừ chữ và tiếng Việt gốc Hán trong văn tự và ngôn ngữ Việt Nam không? Tôi nghĩ, chắc chắn là không. Lý do là tuy gốc Hán nhưng nó đã trở thành chữ Việt, tiếng Việt, đọc theo lối Việt và chỉ có người Việt mới hiểu được. Thí dụ tên tôi, Nghĩa, nếu tôi viết 義 theo phức thể hay 义 theo giản thể và đọc là /yì/ theo quan thoại thì hầu hết người Tàu hiểu; nhưng nếu tôi viết “Nghĩa” và đọc là /nghĩa/ thì chỉ có người Việt hiểu và người Tàu không thể hiểu. “Nghĩa” đã là chữ Việt, không ai có thể đòi tại sao phải “trả” hay bỏ đi? Đa nghi một chút, tôi có thể đặt hỏi: hay có âm mưu gì chăng? Mượn cớ yêu nước để huỷ hoại phần lớn chữ và tiếng Việt hiện tại để dọn đường cho mai sau, thay vì “nghĩa” thì phải viết义và đọc là /yì/ chăng?


Một lý do nữa để không cần bỏ chữ và tiếng hán-việt, vì sẽ làm nghèo đi, rất nghèo, tiếng Việt. Các dân tộc trên thế giới, từ những nước giàu mạnh đến những nước nhỏ yếu, đều du nhập tiếng nước ngoài để làm giàu cho kho ngữ vựng. Người Nhật đã dùng “pasokon” để nhập “personal computer”, intanetto để nhập “internet” hay “kamera” để nhập “camera”,.. họ có mặc cảm gì đâu!


Có người nói, bỏ hết hán-việt để giữ cho văn hóa Việt Nam được độc lập hoàn toàn.


“Để giữ cho văn hóa Việt Nam được độc lập hoàn toàn”? Bỏ quách các chữ hán-việt đi thì câu này còn lại bốn chữ: “để, giữ, cho, được” và phải tìm chữ nôm để thay “văn hóa”, “Việt Nam”, “độc lập”, “hoàn toàn”.


Thay “độc lập” bằng “đứng một mình” thì tàm tạm được; nhưng còn “văn hóa”? Văn học và giáo hóa? Học chữ và dạy chữ? “Văn hóa” rộng hơn thế rất nhiều. Nếu phải cắt nghĩa cho đầy đủ e phải một câu dài, và nếu trong khi không thể cắt nghĩa thật ngắn và không được dùng bất cứ một chữ hán-việt nào thì tôi chịu thua! Lại còn “hoàn toàn” nữa, đã hết đâu! Chỉ riêng một việc thay chữ “giải thích” bằng “cắt nghĩa”, tôi đã phạm lỗi hán-việt tới phân nửa: còn vướng chữ “nghĩa” trong “cắt nghĩa”!


Nếu bỏ quách tất cả chữ hán-việt thì ngay cả tên nước Việt Nam cũng sẽ không còn, và khoảng 95% tên người Việt cũng biến mất. Tên họ tôi (Nguyễn Hữu Nghĩa) có thể tạm thay bằng “Gốc Có Phải”, nhưng tên của rất nhiều vị khác có thể sẽ rất khó thay, thí dụ ký giả Sơn Tùng, thay “sơn” bằng “núi” thì dễ, nhưng “tùng” (cây tùng) không có trong tiếng thuần Việt, làm sao thay? “Sơn Tùng” thành ra “Cây …Gì Ấy Trên Núi” chăng? Dài quá, nghe không xuôi!


Tên họ người Việt, bỏ bớt cái họ phiền phức đi, chỉ giữ mỗi cái tên nôm như Tèo, Thơm, Bông, Được, Đủ, Giàu, Phải,.. cũng không sao, đó là chuyện riêng của từng người; nhưng còn cả một kho văn học Việt viết bằng chữ Hán và Nôm do người xưa để lại, sẽ ra tro ra khói! Cái kho đó lớn lắm, có tới 20 thế kỷ xây dựng và hiện tại dân tộc Việt có thể là dân tộc duy nhất phải đọc văn học cổ của nước mình qua bản dịch, chuyển ngữ từ hán nôm sang chữ viết bằng mẫu tự la-tinh (và ngay trong mẫu tự la-tinh cũng có chữ /y/ của Hi Lạp, ai đô hộ ai đây?) Chúng ta đã chuyển đổi được bao nhiêu phần trăm từ cái kho đó để hiểu rõ hơn về văn hóa, bản sắc dân tộc? Và bây giờ làm giùm giặc Tàu xâm lược cái việc phế bỏ tất cả chăng?


Trước kia, mỗi khi cướp được nước ta, giặc Tàu vừa đốt vừa khuân về nước họ khá nhiều; đó là tội ác nhân văn của giặc. Khi cộng sản thoạt đầu chiếm được nửa nước, rồi chiếm luôn cả nước Việt Nam, đã dùng nhãn hiệu “bài trừ văn hóa đồi trụy, phản động” để đốt thêm một mớ nữa. Nay tới phiên chúng ta, khêu gợi lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc để đốt tiếp những gì còn sót lại chăng? Chắc chắn là không!


Nên nhớ, văn hoá của nhân loại ngoài tính cách tự phát, còn do sự giao lưu giữa các sắc tộc, các vùng địa lý và quốc gia. Trong tiếng Việt hiện dùng, có bao nhiêu tiếng gốc Quảng Đông (vùng biên giới phía Bắc), Triều Châu (cực Nam), tiếng Mường, Mèo, Thái, Chàm, Miên, Pháp, Mỹ và bây giờ Hàn, Nhật.


Chúng ta thoải mái dùng a xít (acide), ba tê (pâté), ban công (balcon), (nhà) băng (banque), bê tông (béton), bi da (billard), bia, la ve (bière), bơ (beurre), búp bê (poupée), ca cao (cacao), cà nông (canon), cà phê (café), cà rốt (carotte), cà vạt (cravate), kem (crème), mỏ lết (molette), xúc xích (saussisse), ra dô (radio), xe tăng (tank), tắc xi (taxi), tôn (tôle), rượu vang (vin), xà lách (salade), xà phòng, xà bông (savon), xích lô (cyclo), xì líp (slip), xăng (essence), găng tay (gants), áo sơ mi (chemise), (áo) vét (veste, veston),.. mà không cần để ý tới gốc Pháp của nó.


Chúng ta hồn nhiên dùng bồi (boy), cao bồi (cow boy), câu lạc bộ (club), cúp (cup), phim (film), phông (fond), ti vi (TV),.. mà không có mặc cảm thần phục người Anh, Mỹ.


Ở miền Tây Nam phần, chúng ta nói “tía, số, hia, chế,..” mà không để ý kỳ thị các chữ “gia, tẩu, huynh, tỷ,..” phát âm theo Triều Châu.

Trong bộ chữ mà người Nhật dùng hiện nay vẫn có 1945 chữ Hán. Người Hàn sáng chế ra bộ mẫu tự Hàn, nhưng trong đó vẫn có 2000 chữ hán-hàn (chữ Hàn gốc Hán). Đó là hiện tượng giao lưu văn hóa.


Có khá nhiều từ (hơn một chữ) rõ ràng là hán-việt, tách ra từng chữ mà tra thì là chữ hán, nhưng ghép thành đôi thì tra mờ mắt trong các từ điển Hán, không thấy. Hóa ra phần lớn đó là chữ hán-việt, do người Việt lấy chữ Hán ghép lại mà dùng, như vô tuyến truyền hình (Tàu nói là điện thị), thủ tướng (Tàu nói là tổng lý), thành phố (Tàu nói là đô thị); còn phi công, sĩ diện,.. viết ra chữ Tàu đưa cho họ coi, họ lắc đầu, chẳng hiểu mô tê chi cả! Một số chữ khác, sau khi đi qua ải Nam quan thì dần dần biến nghĩa. Tàu nói “phương phi”, nghĩa là “thơm tho” thì ta dùng với nghĩa “béo tốt”; Tàu nói “bồi hồi” với nghĩa “đi đi lại lại” thì ta dùng với nghĩa “bồn chồn, xúc động”. Kiểu này thì ngôn ngữ đã bất đồng mà bút đàm cũng chẳng thông!


Lấy chữ Hán ghép lại mà dùng thì người Nhật có vẻ giỏi hơn ta. Chúng ta nói và viết hàng ngày những “bi kịch, ca kịch, cải biên, diễn xuất, đạo cụ, đăng tải, giao hưởng, nghệ thuật, nguyên tác, sáng tác, tác giả, tác phẩm, tạp chí, triển lãm, văn hóa, xuất bản,..” mà không để ý đó là tiếng …Nhật, do người Nhật ứng dụng từ chữ Hán, một số được phổ biến trở lại Trung Hoa rồi truyền sang Việt Nam, một số truyền thẳng vào nước ta thời đệ nhị Thế chiến.

Nói về mặc cảm thần phục qua chữ nghĩa, nhìn qua phương tây, các nước Âu Mỹ, nhất là người Anh, không hề có mặc cảm khi dùng mẫu tự La-Hi (24 La, 1 Hi), và trong tiếng Anh có rất nhiều tiếng cổ La Mã trong ngữ vựng pháp luật và tiếng Hi Lạp trong ngữ vựng y khoa, bên cạnh những tiếng ngoại nhập khác, trong số đó có cả “ao dai” (áo dài), “pho” (phở) hay “cha gio” (chả giò)! 


Người Anh còn du nhập rất nhiều chữ la-tinh như “ad hoc” (đặc nhiệm), bona fide (nguyên thủy, thực chất); chữ Ý “al dente” (của thức ăn), alfrexso (thoáng đãng), dolce vita (cuộc sống nhung lụa); chữ Pháp: agent (nhân viên), amour propre (tự trọng), beau geste (cử chỉ đẹp); chữ Đức, blitzkrieg (dự định),.. Nếu kể ra cho hết những tiếng Anh gốc ngoại, có khi phải cần cả một cuốn tự điển mong mỏng. Đó là hiện tượng giao lưu văn hóa, giúp họ làm giàu kho ngữ vựng và họ chẳng những không hề có mặc cảm về chuyện đó mà ngược lại, còn tự hào.


Người Nhật cũng vậy. Supu là súp, sarada là xà-lách, hamu là giò tây (ham), masshurumu làm nấm (mushroom), radisshu là củ cải đỏ (radishes), shoppingu senta  là trung tâm thương mại (shopping center),..


Bạn có thể nói, người ta không có mặc cảm vì người ta là nước lớn, người ta chiếm lấy để dùng chứ không bị đồng hóa. “Chiếm để dùng”, ý hay đấy. Thế, ông bà ta chẳng có câu “lấy giáo tàu đâm chệt” đó sao? Cũng là chiếm để dùng? Hay là dùng trong chiến tranh thì chẳng những được tha mà còn được tuyên dương, nhưng mượn để dùng trong văn học thì bị mắng! 


Có một điều nên nói thêm, trong khi mượn chữ Hán để dùng, người Việt đôi khi tạo ra một nghĩa mới. Có nhiều chữ được dùng theo nghĩa mới, và đôi khi gây ra xung đột. Thí dụ, chúng ta có thể bảo một phụ nữ Việt Nam là “cô ấy, bà ấy rất lịch sự” thì đó là lời khen, nhưng nói với một người Tàu rằng mẹ hay vợ ông ấy “lịch sự” thì sinh chuyện lớn ngay, có khi đổ máu! “Lịch sự” trong tiếng hán-việt là “đẹp đẻ” hay “lễ phép”, trong tiếng Tàu đã biến nghĩa là “trải đời, thập thành” từ lâu! Đó là hiện tượng giao lưu và hiện tượng biến đổi.


Tại miền Nam trước năm 1975, báo chí đã tạo ra, hay dùng khá nhiều chữ mới phát xuất từ dân gian. Từ vụ bắt giữ dân biểu Trần Ngọc Châu nằm vùng tại Hạ viện, miền Nam có thêm chữ “dàn chào” trong ngoặc kép. Sau cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào, miền Nam du nhập thêm động từ “bề” (nghĩa là giao hợp) từ tiếng Lào. Rồi “sức mấy”, từ ngôn ngữ dân gian trở thành bút hiệu viết biếm văn của một ký giả có tiếng tăm; tiếp theo là những “bỏ đi tám, ghế, ghế mẫu, khứa lão, xế, quái xế,..” ào ào xâm nhập chữ Việt và từ từ đi ra êm thắm. Đó là sức sống tự nhiên của ngôn ngữ, cái gì hay thì tồn tại, cái gì có tính cách trào lưu thì cứ tự nhiên lên cao rồi xuống thấp và tan biến.


Ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào cũng có sức sống như loài san hô, biến đổi từng ngày, một số tiếng mới hiện ra, một số chữ có sẵn bị quên lãng, tuy vẫn còn đó nhưng rất hiếm khi dùng. Khi tôi dùng chữ “thúc phọc”, nhiều bạn văn tròn mắt bảo: “Quái thế! Sao không nói ngay là ràng buộc hay trói buộc, ai cũng hiểu?” Quả vậy. Chuyện “thê tróc tử phọc”, xưa quá rồi, bây giờ người ta nói “vợ con đùm đề”! “Bức thúc” cũng vậy. Bây giờ người ta nói trại ra thành “bức xúc”!


Nói về tiếng Việt gốc nọ gốc kia thì cũng nên nói về tiếng Việt lai nọ lai kia, gọi cho văn hoa và gọn gàng thì là “hỗn chủng”. Chữ hỗn chủng có hai cách: Cách thứ nhất là một chữ Việt đi cùng một chữ nước khác, láo nháo như cháo trộn cơm. Thí dụ như “vôi hóa, trẻ hóa” (Nôm ghép Hán), “ôm kế” (máy đo điện trở, ohm – Việt ghép Đức), “nhà băng” (Việt ghép Pháp), “game thủ” (Anh ghép Việt).


Cách thứ hai là chữ Hán ghép với một chữ Việt đồng nghĩa. Hiện tượng này rất phổ thông sau khi Ngô Thì Nhậm đưa ra bộ Tam thiên tự giải âm (Tự học toản yếu), coi như là bộ tự điển hán nôm đầu tiên của Việt Nam vào năm 1831, sau này được chuyển sang mẫu tự Việt la-tinh năm 1915:   Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nha răng, vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê, qui về, tẩu chạy,... Cứ như vậy mà học cho dễ nhớ, chữ hán đi trước, chữ thuần Việt thích nghĩa đi liền theo sau. Điều lạ lùng là khi đã nhớ rồi thì có người dùng luôn… cả hai. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta vẫn nói và viết: bao gồm, sống động, sinh đẻ một cách hồn nhiên. Đọc sách báo trong nước, tôi vẫn thấy người ta viết “vụ việc, in ấn” khi mà vụ là việc, ấn là in, cứ một Hán một Việt kè kè theo nhau rất gắn bó! Chính đây mới là trường hợp cần phải “thoát trung”, vì bỏ bớt chữ hán đi, câu văn vẫn đủ nghĩa: “Bác ấy in 10 nghìn cuốn sách” (bỏ chữ “ấn) hay “Việc ấy xảy ra như thế nào?” (bỏ chữ “vụ”).


Nói về việc chuyển Hán thành Nôm, vào thập niên 60, miền Bắc đã làm, trở thành quốc sách. Có khi họ chuyển cả câu hay cả nhóm chữ: “hỏa tiễn” thành “tên lửa”; “phi cơ trực thăng” thành “máy bay lên thẳng”. Có khi chuyển dở chừng, nửa nạc nữa mỡ: “thủy quân lục chiến” thành “lính thủy đánh bộ” thay vì “lính nước đánh cạn”!..


Lan man nãy giờ cả buổi, tôi muốn nói hai điều. Thứ nhất, việc giao lưu văn hóa, đặc biệt là chữ viết và tiếng nói, là hiện tượng tự nhiên, không nên có mặc cảm thấp kém hay tội lỗi. Thứ hai, tiếng hán-việt tự nó đắc dụng trong một số trường hợp, giúp cho nói và viết gọn hơn, mạnh hơn, trực tiếp hơn trong một bài diễn văn, nghị luận hay luật pháp, y như một số từ ngữ la-tinh trong văn chương Âu Mỹ, khi bàn về pháp luật, hay chữ Hi Lạp khi nói về y khoa. Mặt khác, ngược lại, trong đời sống hàng ngày, trong văn nói và tiểu thuyết, nếu chuyển chữ Hán thành chữ thuần Việt một cách thoải mái, thì lại đắc thế hơn. Thí dụ, chúng ta có thể nói: “Chính phủ cho thiết quân luật và ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc” nhưng không nói: “Nào, khẩn trương lên xe!” mà nói: “Lên xe ngay!” Ngược lại, không nên nói “Xưởng đẻ Từ Dũ” hay “Nhà ỉa chung” mà nói “Nhà bảo sinh Từ Dũ”, “Phòng vệ sinh chung” hay ít nhất: “Cầu tiêu công cộng.”


Trong mọi trường hợp khác, nếu dùng được chữ thuần Việt một cách lịch sự, giản dị, trôi chảy, ý nghĩa đại khái tương tự mà không quá dài dòng, kệch cỡm thì nên dùng. Thí dụ, cứ nói “mài sắt nên kim” thay vì “ma chử thành châm”; “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” thay vì “bất kiến quan tài, bất lưu nhân lệ”, “Không đội trời chung” thay vì “bất cộng đái thiên”, “Có bệnh thì vái tứ phương” thay vì “bệnh cấp loạn đầu y”, “Một cây làm chẳng nên non” thay vì “Cô thụ bất thành lâm”, “Lá rụng về cội” thay vì “diệp lạc qui căn”, “Hùm dữ không ăn thịt con” thay vì “hổ độc bất cật tử”, “Lòng lang dạ sói” thay vì “lang tâm cẩu phế”, “Cây có cội, nước có nguồn” thay vì “mộc hữu bản, thủy hữu nguyên”, “Sống gửi thác về” thay vì “sinh ký tử qui”, “Bới lông tìm vết” thay vì “xuy mao cầu tì”, v.v.


Gặp trường hợp bắt buộc phải dùng chữ Hán, cứ thẳng thắn mà dùng.


Tôi nhớ, khi Phong Trào Hưng Ca Việt Nam in áo thun với hàng chữ chống Trung Cộng xâm lược biển đảo Việt Nam, bên cạnh các chữ Anh, Pháp, Việt, anh chị em đã dùng chữ Hán, đúng cú pháp và dụng ngữ Hán: “Hoàn Ngã Hà Sơn” (trả ta sông núi), và mặc áo ấy đi vào các thương xá, siêu thị của người Hoa lục. Không một chút mặc cảm. Tất nhiên!


(nhn)


-------------------------------------


Xin giải thích với một số các bạn trẻ về câu hỏi: “Tại sao trong các bài tôi viết, tên quốc gia đôi khi lại viết chữ thường? Do cố ý hay sơ ý hay lỗi đánh máy?” Xin trả lời:


- Danh từ riêng, như tên người, tên đơn vị hành chánh (thành phố, tỉnh, quận, xã,..), tên quốc gia: viết hoa. Thí dụ: chú Hai, Nguyễn Văn Tèo, Đà Nẵng, hoặc Tây Ninh, Việt Nam.


- Danh từ riêng được dùng như tính từ, đứng trước một danh từ: viết thường. Thí dụ: mỹ kim (tiền Mỹ), anh văn (chữ Anh), anh ngữ (tiếng Anh), chữ hán-việt (chữ Việt gốc Hán).


- Danh từ riêng được dùng như danh từ chung, nên viết thường: chữ/tiếng hán-việt, nhưng viết hoa (tiếng Hán Việt, tiếng Anh, tiếng Việt,..) để dễ nhận ra, tránh lẫn lộn, cũng không hại gì, xin các nhà ngữ học đại xá!

Nguyễn Hữu Nghĩa

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Tạm Biệt Nhau Về Nhớ Gì Không

Mười năm đủ nhớ đủ thương
 Gặp nhau rồi lại hai đường khác nhau
Em về dỗ giấc chiêm bao 
Anh về có nhớ chút nào hay không? 

Em về em cất nhớ trong lòng 
Giữ buồn đôi mắt ấm nồng nàn thương 
Vịn vai nhau một đoạn đường 
Ấm hơn một chút phong sương của đời

Anh về ,em cũng về thôi
Giữa chiều bóng nắng  nghiêng soi dấu tình
 Nắng gay gắt bỗng thình lình 
Trời trút mưa xuống  để hành hai ta
Đường về hai ngả đều xa
 Nép anh mà đụt mưa sa bời bời 

Em về thương nhớ khơi khơi 
Anh về lại thấy chuyện thời nhiễu nhương 
 Phố quen cảnh giác tai ương 
Người quen với cảnh đoạn trường mưu sinh 

Chiêm bao dỗ giấc bất bình 
Thơ tình bất giác  tình hình gay go 
Thơ cay cú tụi quan to
Cắt phăng thiệt ngọt những trò lưu manh 

Em về rồi em nhớ anh
Dù mười năm đã  trở thành già tom

Phong Cầm
25/10/2021

HOA CRIMSON FLAG

Hoa Giáng kỳ Bách hợp theo Anh ngữ: Crimson flag lily - Tên khoa học: Hesperantha coccinea, họ Iridaceae Diên vỹ, bộ Asparagales Măng tây.
Ngô Văn Dũng