Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2020

Lịch sử xung đột giữa Israel và các quốc gia Ảrập



Từ khi Israel ra đời đến nay, chiến tranh đã bao lần xảy ra giữa Nhà nước Do Thái và các quốc gia Ảrập láng giềng, tiêu tốn hàng tỷ đôla và cướp đi hàng nghìn sinh mạng. Phải chăng giữa đôi bên tồn tại một mối thù không bao giờ rửa được, để đến ngày nay, Trung Đông vẫn là miền đất nóng bỏng của thế giới, với lò lửa Palestine – Israel?

Hãy cùng nhớ những lần xung đột trong quá khứ của Israel với thế giới Ảrập để đi tìm một câu trả lời cho câu hỏi trên.

Chiến tranh giành độc lập của người Do Thái năm 1948


David Ben-Gurion – thủ tướng đầu tiên của Israel.

Ngày 14/5/1948, nước Anh kiệt lực trong Đại chiến Thế giới II chính thức từ bỏ sự bảo hộ đối với Palestine, sau một nghị quyết của Liên Hợp Quốc về phân chia lãnh thổ giữa người Ảrập và người Do Thái. Ngay lập tức, những người theo chủ nghĩa phục quốc Zion nắm lấy cơ hội và thành lập một nhà nước Israel. Tuyên ngôn độc lập được đọc tại Tel Aviv cũng trong hôm 14/5.

Thế giới Ảrập, không hài lòng với quyết định của Liên Hợp Quốc thành lập đồng thời hai nhà nước Do Thái và Ảrập trên lãnh thổ Palestine, đã nhanh chóng điều quân tới với dự định bóp chết quốc gia Israel non trẻ. Sớm 15/5, lực lượng vũ trang chính quy của các nước Ai Cập, Syria, Transjordan và Iraq chia nhiều hướng tiến vào bao vây Tel Aviv để hỗ trợ người Ảrập Palestine.

Tuy nhiên, khối Ảrập đã không thể nuốt chửng Nhà nước Do Thái mới. Người Israel chiến đấu hết sức kiên cường cho sự tồn vong của dân tộc và quyết tâm của họ tỏ ra mạnh hơn sự ràng buộc lỏng lẻo trong nội bộ các nước Ảrập. Những cuộc phản công mạnh mẽ gần Bethlehem đã giúp quân Do Thái xoay chuyển tình thế. Chiến sự tiếp diễn tới tháng 1/1949 và mãi tới tháng 7 năm đó, hiệp định đình chiến mới thực hiện được.



Một đội quân tự vệ Hanganah của Israel (hình tạp chí Life 1948)

Trên thực tế, quốc gia mới phải huy động đội quân đông gần gấp 3 (khoảng 40.000-60.000 chiến binh) để có thể chọi lại 21.000 quân Ảrập.

Cuộc chiến tranh đã cho quốc gia mới thành lập Tây Jerusalem và 20% lãnh thổ (6.700 km2) lẽ ra thuộc về người Hồi giáo ở Palestine, theo sự phân chia của LHQ. Số dân Ảrập sinh sống trong phạm vi Israel giảm từ 700.000 xuống 165.000. Nhiều người chạy lánh nạn khi quân Do Thái phản công, bởi nghe tin về các vụ thảm sát tại làng mạc Ảrập. Lúc ấy, ít người trong số họ biết rằng họ sẽ không bao giờ được trở về nhà.

Phần còn lại của lãnh thổ Ảrập thuộc Palestine nhanh chóng được sáp nhập vào các quốc gia láng giềng. Ai Cập giành quyền quản lý Dải Gaza và Transjordan (bây giờ có tên Jordan), chiếm phần lớn Bờ Tây, trong đó có thành phố cổ Jerusalem.



nghỉ trưa trong một trại Kibbutz (hình tạp chí Life 1948)

Cuộc chiến kênh đào Suez năm 1956
Suez dài trên 150 km, nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hải, là con đường biển quan trọng đặc biệt về mặt giao thương và cả về quân sự.



Anh và Pháp, hai cổ đông lớn trong công ty xây dựng kênh đào, sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất khi Ai Cập giành lại quyền kiểm soát Suez. Một kế hoạch can thiệp và lật đổ tổng thống Nasser lập tức được vạch ra. Tel Aviv, kình địch của Cairo, cũng được kéo vào cuộc.

Israel có nhiều lý do để tham gia cuộc chiến năm 1956. Những năm đầu thập kỷ 50, quan hệ giữa quốc gia Do Thái và các láng giềng Ảrập càng ngày càng căng thẳng.

Sau khi Israel lập quốc, hơn 900.000 người tị nạn đã tập trung ở biên giới của nước này, đòi quyền đối với vùng đất Palestine. Đây chính là cơ sở hình thành các nhóm du kích Hồi giáo. Những hoạt động nổi dậy khiến người Israel không có lúc nào được yên ổn. Quan hệ giữa quốc gia Do Thái và các nước láng giềng Jordan, Ai Cập, đặc biệt là Syria, mỗi lúc một tệ hơn. Damacus chống lại dự án nắn dòng sông Jordan để lấy nước tưới tiêu. Người Syria cũng tấn công cao nguyên Golan từ phía đông bắc. Trong năm 1955, đụng độ Israel – Ảrập xảy ra trên hầu khắp biên giới. Chạy đua vũ trang bắt đầu ở Trung Đông với việc khối Ảrập ra sức mua quân bị từ Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa, và Israel không ngừng nhận viện trợ quân sự của Mỹ.

Năm 1956, cùng với việc quốc hữu hóa kênh đào, tổng thống Nasser còn lệnh cho hải quân phong tỏa eo Tiran – con đường ra Hồng Hải duy nhất của Israel. Mặt khác, một lượng lớn quân đội Ai Cập cũng đồn trú trên bán đảo Sinai, ngay sát nách quốc gia Do Thái. Với Israel, căn cứ quân sự này như cây giáo thỉnh thoảng lại thúc vào mạng sườn họ đau điếng, và Tel Aviv rất mong có cơ hội đập tan nó.



Lính Ả rập vận chuyển bằng xe tải (hình tạp chí Life)

Cơ hội đó đến cùng với kế hoạch uy hiếp Cairo do Paris và London chủ xướng.

Ngày 29/10/1956, theo đúng kịch bản, Israel bất ngờ tấn công vào ào ạt quân Ai Cập trên khắp các mặt trận. Sau 5 ngày, quân Do Thái đã chiếm gần hết bán đảo Sinai, Dải Gaza và các mục tiêu khác.

Pháp và Anh can thiệp. Hai nước trao cho cả Cairo và Tel Aviv một tối hậu thư, trong đó đề nghị cho Anh, Pháp đưa quân vào chiếm đóng kênh Suez và thiết lập vùng đệm 16 km ở hai bờ, để ngăn cách lực lượng Ai Cập và Israel. Người Do Thái chấp thuận ngay, còn Ai Cập thì bác bỏ thẳng thừng.

Vậy là đã có cớ. Máy bay ném bom Anh và Pháp lập tức quần đảo bầu trời Ai Cập. Ngày 31/10/1956, hai nước gửi quân tới kênh Suez, uy hiếp chính quyền Cairo. Hành động này của London và Paris bị lên án mạnh mẽ ở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Matxcơva đe dọa sẽ can thiệp nhân danh nhân dân Ai Cập. Mỹ, hoàn toàn bị bất ngờ trước hành động của các nước đồng minh, cũng không ủng hộ.

Lúc này, Chiến tranh Lạnh đang ở cao trào. Mỹ có nhiều vấn đề khác để lo trong cuộc đấu với Liên Xô (đặc biệt việc Matxcơva can thiệp vào Hungary) hơn là những lợi ích của Anh và Pháp ở Suez. Tổng thống Eisenhower không có lý do gì để mong muốn chiến sự lan rộng ở Trung Đông.

Trước sức ép của Washington, London và Paris đành chịu thúc thủ. Trên thực tế, đình chiến bắt đầu từ 23h45′ ngày 7/11 đối với liên quân Anh-Pháp. Đến ngày 22/12 năm đó, toàn bộ lực lượng của hai nước đã rút hết khỏi Ai Cập. Về phần Israel, ngày 8/3/1957, người lính Do Thái cuối cùng đã rời Sinai. Mỹ cũng buộc Tel Aviv trả lại Dải Gaza cho Ai Cập. Đồng thời, Lực lượng Khẩn cấp của Liên Hợp Quốc được gửi tới để đảm bảo hòa bình.

Nhìn lại, cuộc xung đột Suez năm 1956 là một thời điểm bản lề ở Trung Đông.

Mặc dù đây là một chiến dịch ít tốn kém máu xương – người Anh chỉ thiệt mất 20 quân nhân, Pháp 10, nhưng cuộc chiến đã báo hiệu sự suy giảm ảnh hưởng trong khu vực của hai nước đế quốc già cỗi, đồng thời bồi thêm một quả đấm mạnh vào hy vọng vốn đã xa vời cho một giải pháp hòa bình ở Trung Đông.

Mối hằn thù Ảrập – Israel càng sâu sắc thêm. Ai Cập chịu nhiều tổn thất nhất với cơ sở hạ tầng bị hư hại và tổng cộng 921 người thiệt mạng trong cuộc xung đột. Tuy nhiên, kết thúc chiến tranh, Cairo đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu: giành quyền kiểm soát hoàn toàn đối với kênh đào Suez. Uy tín của tổng thống Nasser trong nước và trong khối Ảrập tăng đột biến. Chủ nghĩa quốc gia cũng có cơ hội lan mạnh trên toàn khu vực. Về phần mình, Israel tuy thiệt hại 200 binh lính nhưng đã đạt được mục tiêu phá hủy căn cứ quân sự trên bán đảo Sinai.

Chỉ có Anh và Pháp là thất bại. Hai nước này đã gửi tổng cộng 22.000 quân tới khu vực kênh đào nhưng cuối cùng lại phải sớm cuốn gói. Chiến dịch của London và Paris không thành công chủ yếu là do sự phản đối của Washington và Matxcơva. Sau xung đột Suez, Ai Cập trở nên thân thiết với Liên Xô hơn. Vai trò to lớn của Mỹ cũng được thừa nhận lần đầu tiên. Điều này tạo cơ sở cho học thuyết Eisenhower, trong đó Nhà Trắng quyết tâm trợ giúp bất kỳ nước Trung Đông nào “bị cộng sản đe dọa”

Cuộc chiến Sáu Ngày


Độc long tướng quân Moshe Dayan

8h sáng 5/6/1967, hầu như toàn bộ máy bay thuộc không lực Israel nhất loạt cất cánh, hướng về các phi trường của Ai Cập. Chỉ trong vòng 80 phút, sân bay El Arich, Djebel Libni, Bir Gafagfa, Bir Tamda và một loạt căn cứ không quân trên bờ tây kênh đào Suez đã bị san phẳng. Xác máy bay ngổn ngang. Sự kiện đó mở đầu cho kỳ tích sáu ngàycủa Israel.

Hoàn toàn bị bất ngờ, Cairo không kịp trở tay. Thế trận trên không mà quân đội Ai Cập dày công xây dựng vỡ vụn: Gần 400 máy bay cùng các ụ pháo cao xạ bị phá hủy. Israel giành quyền làm chủ bầu trời. Lúc này, bộ binh Do Thái mới chia ra 3 mũi, vượt bán đảo Sinai (Ai Cập) tiến sát tới thủ đô nước láng giềng. Cùng lúc, ở mặt trận phía bắc và đông đối đầu với Syria và Jordan, đại bác Israel khai hỏa.

Trong 6 ngày khó tin từ mồng 5 tới 11/6/1967, quân đội Do Thái làm cỏ bán đảo Sinai (Ai Cập), chiếm Dải Gaza, khu Bờ Tây sông Jordan, trong đó có thành cổ Jerusalem, cao nguyên Golan. Tối 7/6, khi xe tăng Israel chỉ còn cách thủ đô Amman 10 km, vua Jordan buộc phải chấp nhận yêu cầu đình chiến. Hôm sau, Đại sứ Ai Cập tại LHQ Mohammed Awad El Kouni không giấu nổi sự nghẹn ngào khi thông báo tại Hội đồng Bảo an rằng chính phủ của ông bằng lòng ngừng chiến. Lực lượng vũ trang Syria cầm cự được thêm hai ngày nữa rồi cũng phải buông súng vào mồng 10/6. Chiến dịch quân sự phòng ngừa chớp nhoáng (pre-emptive action) của Israel kết thúc thắng lợi.

Trên thực tế, Tel Aviv đã đi một nước cờ hết sức mạo hiểm khi chủ động tấn công các láng giềng Ảrập. Làm như vậy, Israel sẽ mang tiếng gây hấn trước, phải một lúc thọ địch ở cả 3 phía (sau lưng là biển) – chống lại liên minh Ai Cập, Jordan và Syria mà chỉ riêng Ai Cập đã có 70 triệu dân. Trong khi đó, tổng động viên già trẻ lớn bé Do Thái mới chỉ được 2,5 triệu người. Mặt khác, Israel đứng trước nguy cơ bị cô lập hoàn toàn nếu khiêu chiến. Liên Xô và các nước thuộc khối cộng sản đã hứa đứng về phe Ảrập. Ngày 2/6, De Gaulle, tổng thống Pháp khi đó, tuyên bố sẽ không tán thành nước nào động thủ trước, chứ đừng nói là ủng hộ. Mỹ thì đang mắc kẹt ở Việt Nam nên không muốn can thiệp vào Trung Đông.



Tổng thống Ai Cập Nasser

Trong khi đó, tình hình khu vực xấu đi nghiêm trọng. Sau khi giành thắng lợi trong chủ trương quốc hữu hóa kênh đào Suez, buộc Anh, Pháp và Israel phải rút quân và trả lại những vùng đất chiếm đóng, uy tín của tổng thống Ai Cập Nasser tăng đột biến. Các nước Ảrập xem ông như một nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt họ nhổ cái gai Israel và rửa mối nhục thất bại trong cuộc chiến tranh năm 1948. Năm 1966, Ai Cập và Syria ký hiệp ước liên minh. Ngày 31/5/1967, vua Hussein của Jordan quyết định gia nhập hiệp ước trên. Như vậy, cả 3 nước láng giềng của Israel ở đông, nam, bắc đã bắt tay nhau. Lúc này, Ai Cập tập trung 270.000 quân sát biên giới với quốc gia Do Thái (trong đó 100.000 binh sĩ đồn trú trên bán đảo Sinai, ngay cạnh sườn Israel), với những vũ khí tối tân do Liên Xô và Tiệp Khắc cung cấp. Syria cũng điều đến cao nguyên Golan – hơn 60.000 người. Về phần mình, sau khi gia nhập liên minh, Jordan cử 60.000 quân lên biên giới và đặt dưới quyền chỉ huy của một tướng Ai Cập. Ngoài ra, Libăng cũng gửi tới một đạo binh nhỏ. Các nước Ảrập khác như Iraq, Algeria, Kuwait tuyên bố sẵn sàng viện trợ quân sự khi cần thiết. Theo ước tính, vào thời điểm năm 1967, liên minh tay ba có tổng cộng 465.000 binh lính, hơn 2.880 xe tăng và 810 máy bay, trong tư thế sẵn sàng bóp cổ Israel.

Tổng thống Ai Cập Nasser nhận thấy tình hình chưa bao giờ thuận lợi như vậy đối với khát vọng trừ bỏ nhà nước Do Thái. Cairo tuyên bố thẳng thừng: “Mục tiêu cơ bản của chúng tôi là hủy diệt Israel. Nhân dân Ảrập muốn chiến tranh”. Nasser tự tin yêu cầu LHQ rút toàn bộ 3.400 binh sĩ thuộc Lực lượng khẩn cấp khỏi bán đảo Sinai. Đội quân này vốn làm nhiệm vụ ngăn cách hai chú bò hăng đấu Ai Cập Israel sau chiến tranh 1956.

Bầu không khí bỏng rẫy. Nhất là khi vào ngày 23/5, Ai Cập đưa hải quân tới phong tỏa eo Tiran, ngăn cản tàu Do Thái tới Elath, cửa ngõ ra Hồng Hải. Bị chặn ở phía đó, Israel như bị cắt mất một lá phổi. Chiến tranh là không thể tránh khỏi.

Tel Aviv liền huy động tất cả lực lượng dự bị động viên. Đồng thời, chính quyền Do Thái phát động chiến dịch ngoại giao. Ngay đêm Ai Cập phong tỏa eo Tiran (cửa vịnh Akaba), nội các Israel nhóm họp và ra tuyên bố kêu gọi phương Tây giúp đỡ bảo đảm con đường thông thương trên biển cho tàu bè Do Thái. Ngoại trưởng Abba Eban lên đường sang Pháp, Anh và Mỹ mong tranh thủ sự ủng hộ của các cường quốc này. Paris cảnh cáo Israel không được nổ súng trước. Còn tổng thống Johnson nói thẳng: Washington không muốn Tel Aviv hành động đơn phương. Mỹ đề xuất thành lập một lực lượng hải quân quốc tế để buộc Ai Cập mở cửa vịnh Akaba. Tuy nhiên, kế hoạch này không thành.

Khi các biện pháp ngoại giao rõ ràng không giải quyết được gì, Chính phủ Do Thái vào ngày 4/6 cho phép Bộ Quốc phòng thực hiện kế hoạch tấn công phòng ngừa để xóa bỏ mối nguy lơ lửng trên đầu dân tộc. Tel Aviv quyết định vời vị tướng lão luyện Moshe Dayan – có biệt hiệu là Độc long tướng quân – về làm Bộ trưởng Quốc phòng. Ông Dayan vốn thân cận với cựu thủ tướng Ben Gurion, thuộc phe đối lập với chính phủ đương nhiệm của Eshkhol. Tuy nhiên, dưới sức ép của nhân dân và trước mối nguy Ảrập, nội các Eshkhol buộc phải hy sinh quyền lợi riêng. Cỗ máy chiến tranh được phát động.

Tuy nhiên, Mỹ và Nga không hề có ý định can thiệp vào chảo lửa Trung Đông. Đây là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến dịch quân sự năm 1967 của Israel.

Mặt khác, xét về thực chất, Israel có nhiều lợi thế. Mặc dù khối Ảrập tập trung tới hơn 450.000 quân nhưng chỉ có nhiều nhất 300.000 người có thể dự chiến. Quan trọng hơn, sau những cuộc thanh trừng chính trị nội bộ, hàng ngũ tướng tá của phe Ai Cập bị xáo trộn. Những nhân vật mới lên đều thiếu kinh nghiệm. Binh sĩ tuy đông nhưng chưa qua huấn luyện kỹ càng. Việc phối hợp hậu cần hết sức bê bối. (Có trường hợp một nhóm quân Ai Cập bị bỏ đói khát suốt 3 ngày, khi được lính Israel cho một ca nước, họ đã mừng rơi nước mắt).

Người Do Thái lại ở trong cái thế không có chỗ lùi. Họ bị bao vây 3 mặt, sau lưng là biển. Chính vì thế, tinh thần chiến đấu của sĩ tốt Israel rất hăng. Tổng cộng, Tel Aviv nắm trong tay một đội ngũ gần 300.000 quân rất có kỷ luật. Mặt khác, hoạt động tình báo của Israel bấy giờ hết sức hiệu quả. Theo giới sử học, các điệp viên Do Thái gửi về nước thông tin chi tiết về hải lục không quân đối phương. Ví dụ, họ biết được số lượng phi cơ và binh lính ở các sân bay, kiểu máy bay, đường bay, sĩ quan chỉ huy, giờ giấc hoạt động, chỗ nào là máy bay thật, chỗ nào chỉ nghi binh thôi. Tướng Moshe Dayan phải khen rằng: “Bất kỳ một quân đội nào trên thế giới cũng phải tự hào khi có một cơ quan tình báo như vậy”.

Quan trọng nhất, Israel có được Bộ trưởng Quốc phòng biết điều binh khiển tướng hết sức tài ba. Độc long tướng quân Moshe Dayan là vị chỉ huy chưa hề biết đến thất bại. Ông đã chiến đấu trong quân đội Anh hồi Thế chiến II, rồi chỉ huy cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc 1948-1949, làm tư lệnh quân lực Israel từ năm 1954 đến năm 1958. Ông chủ trương buộc các sĩ quan từ tướng tá trở xuống luôn phải xung phong trước quân sĩ để nêu gương. Bên cạnh Dayan còn nổi lên các gương mặt như Yitzhak Rabin (người sau này làm thủ tướng Israel), tướng Yigael Yadin và tướng Mordekhai Hod, tư lệnh không quân.

Vấn đề còn lại là lập ra một phương án tác chiến hợp lý để giành thắng lợi tối đa trong khoảng thời gian ngắn nhất. Tel Aviv biết rằng, các cường quốc sẽ không ngồi yên mãi nhìn 4 quốc gia Trung Đông thượng cẳng chân hạ cẳng tayvới nhau.

Moshe Dayan quyết định dùng chiến thuật đánh thốc: tập trung một đoàn thiết giáp ồ ạt tiến lên, mở đường xuyên qua phòng tuyến địch, tấn công vào một vị trí. Khi một lỗ hổng được mở, xe tăng xông lên và tiến tới không ngừng nghỉ. Bên cạnh đó, bộ binh và đặc nhiệm sẽ nhảy dù xuống khu vực kênh Suez.

Ngoài ra, radio Israel còn tung những tin tức thất thiệt để đánh lừa địch, tạo sự hỗn loạn trong hàng ngũ tướng lĩnh đối phương. Khi nghe tin quân sự qua làn sóng đài Do Thái, Bộ chỉ huy tối cao Ảrập lầm tưởng rằng quân Israel đang cùng quẫn trên sa mạc Neguev hay trên Dải Gaza, trong khi trên thực tế, Cairo bị uy hiếp đến nơi. Có một lần các máy bay Ảrập đua nhau hạ cánh xuống phi trường Al Arish. Chẳng có gì đáng ngờ cả, cờ Ai Cập vẫn phấp phới trước gió và đài kiểm soát không lưu vẫn lanh lảnh giọng phát thanh viên Ảrập. Mà có thông tin nào về việc Israel đã chiếm được phi trường này đâu. Thế là, quân Do Thái tóm gọm cả một phi đội.

Chiến dịch quân sự diễn ra theo đúng dự kiến của Bộ Quốc phòng Israel. Đòn phủ đầu sấm sét được tung ở Ai Cập. Sau những loạt bom, rocket và liên thanh của Israel, Cairo hầu như không còn một chiếc máy bay nào chiến đấu được. Phải mất 1 tiếng đồng hồ sau, nội các Nasser mới hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tất cả thế giới ngạc nhiên, không hiểu tại sao phi công Israel lại nhằm trúng đích một cách tài tình như vậy. Báo chí hồi đó đồn đại Tel Aviv có một khí giới bí mật nào đó. Tuy nhiên, những bức ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy các sân bay đều bị san phẳng bởi bom và rocket thường.

Đợt không tập đầu tiên

Hoạt động quân sự đầu tiên, và cũng là hoạt động quyết định của Israel là đòn đánh phủ đầu vào không quân Ai Cập. Ai Cập có không quân lớn và hiện đại nhất trong số các quốc gia A Rập, với khoảng 450 máy bay chiến đấu của Liên Xô, với nhiều máy bay MiG-21 hiện đại bậc nhất lúc đó. Ban đầu, cả Ai Cập và Israel đều tuyên bố bị bên kia tấn công trước.

Phía Israel đặc biệt quan tâm đến 30 máy bay ném bom tầm trung Tu-16 “Badger”, có khả năng đánh phá nghiêm trọng các trung tâm dân sự và quân sự của Israel. Lúc 7:45 sáng ngày 5 tháng 6, khi còi báo động vang lên trên toàn Israel cũng là lúc không quân Israel (IAF) mở chiến dịch Focus (Moked). Ngoại trừ 12 máy bay, còn lại tất cả gần 200 chiếc máy bay phản lực cất cánh rời Israel ào ạt tấn công các sân bay của Ai Cập. Cơ sở phòng không của Ai Cập rất yếu, không có sân bay nào được trang bị bong-ke bọc thép để bảo vệ máy bay. Máy bay của Israel bay ra Địa Trung Hải trước khi vòng lại hướng về Ai Cập. Trong khi đó, phía Ai Cập lại tự làm hại mình bằng cách đóng toàn bộ hệ thống phòng không của họ, vì họ sợ lực lượng nổi dậy Ai Cập có thể bắn hạ máy bay chở Nguyên soái chiến trường Amer và Trung Tướng Sidqi Mahmoud, đang trên đường từ al Maza tới Bir Tamada ở Sinai để gặp các chỉ huy tại đó. Dù thế nào đi chăng nữa thì việc đó cũng không làm tình hình thay đổi mấy, vì các phi công Israel bay rất thấp để tránh radar và bay dưới tầm mà tên lửa phòng không SA-2 có thể bắn được họ. Các phi công Israel phối hợp nhiều chiến thuật cùng lúc: ném bom và dùng hỏa lực oanh tạc các máy bay đang đậu trên đường băng, ném bom xuyên phá đường băng để máy bay Ai Cập không cất cánh được nữa, làm mồi ngon cho đợt không kích tiếp theo của máy bay Israel. Cuộc không kích thành công vượt mức, khiến quân Ai Cập hoàn toàn bị bất ngờ, phá hủy gần như toàn bộ không quân Ai Cập ngay trên mặt đất mà chỉ bị rất ít tổn thất. Hơn 300 máy bay Ai Cập bị phá hủy, hơn 100 phi công Ai Cập chết. Trong số máy bay bị phá hủy là tất cả các 30 máy bay Tu-16, 27 trong tổng số 40 máy bay ném bom Il-28, 12 chiến đấu cơ-máy bay ném bom Su-7, hơn 90 MiG-21, 20 MiG-19, 25 MiG-17 chiến đấu cơ, cùng 32 máy bay vận tải các loại và phi cơ. Phía Israel mất 19 máy bay, phần lớn do trục trặc kỹ thuật, hay tai nạn… Cuộc không tập mang lại cho Israel ưu thế áp đảo trên không cho đến hết cuộc chiến.

Tiếp theo thành công của đợt không tập đầu tiên đánh vào quân Ai Cập, không quân Israel chiều hôm đó chuyển sang đánh các sân bay thứ yếu ở Ai Cập cũng như bắt đầu tấn công không lực Jordan, Syria, và Iraq, tiêu diệt hầu hết không quân các nước này. Tới tối, không quân Jordan bị xóa sổ, mất hơn 20 máy bay chiến đâu Hunter, 6 máy bay vận tải và 2 máy bay trực thăng. Không quân Syria mất 32 MiG-21, 23 MiG-15 và MiG 17, 2 máy bay ném bom Ilyushin Il-28. Một số máy bay của Iraq cũng bị phá hủy tại sân bay H3 ở tây Iraq, gồm 12 trên tổng số 20 MiG-21, 2 MiG-17, 5 Hunter F6, và 3 Il-28. Một máy bay ném bom Tu-16 của Iraq bị bắn hạ trong ngày bởi hỏa lực phòng không Israel khi nó định ném bom Tel Aviv. Sáng ngày 6 tháng 6 năm 1967, một máy bay Hunter của Li Băng, trong tổng số 12 chiếc mà họ có, bị bắn rơi tại biên giới hai nước.

Tới tối, Israel cho biết họ đã phá hủy 416 máy bay của phe A Rập, trong khi mất 26 máy bay trong hai ngày đầu chiến sự. Israel mất 6 trong số 72 chiến đấu cơ Mirage IIIC/J, 4 trong số 24 chiến đấu cơ Super Mystère, 8 trong số 60 Mystère IVA, 4 trong số 40 Ouragan, 5 trong số 25 máy bay ném bom tầm trung Vautour II. Số máy bay A Rập mà Israel tuyên bố phá hủy lúc đầu bị báo chí phương Tây tưởng là đã bị “phóng đại”. Tuy nhiên, thực tế là không lực Ai Cập, Jordan, và các quốc gia A Rập khác hầu như vắng bóng trong những ngày tiếp theo của cuộc chiến chứng tỏ là con số tổn thất này có lẽ là xác thực. Trong suốt cuộc chiến, phi cơ của Israel tiếp tục bắn phá đường băng để ngăn phe địch đưa chúng vào hoạt động trở lại. Cùng lúc, đài phát thanh của chính phủ Ai Cập thì tuyên bố Ai Cập chiến thắng, tung tin giả là 70 máy bay Israel bị hạ chỉ trong ngày đầu giao chiến.

Trên bộ, Moshe Dayan vẫn dùng chiến thuật từ năm 1956: chia 3 mũi tấn công. Tới ngày 8/6, toàn bán đảo Sinai đã lọt vào tay Israel. Eo Tiran và vịnh Akaba được giải tỏa. Quân Israel tiến không ngừng. Cho tới lúc đình chiến tối 8/6, Ai Cập thiệt hại 10.000 quân, 5.000 người bị bắt làm tù binh, gần 500 phi cơ tan xác, 400 xe tăng bị hủy, 300 chiếc khác bị cướp. Còn phía Israel có 275 binh sĩ tử trận, 800 người bị thương, 61 tăng bị phá hủy.

Dải Gaza và Bán đảo Sinai



Đánh chiếm Sinai, 7 tháng 6-8 tháng 6, 1967

Quân Ai Cập có bảy sư đoàn, gồm 4 sư đoàn xe bọc thép, hai sư đoàn bộ binh, một sư đoàn bộ binh cơ giới, tổng cộng khoảng 100 ngàn quân, 900-950 xe tăng, hỗ trợ bởi 1.100 xe bọc thép chở quân (APC) và 1.000 khẩu pháo. Quân Ai Cập bố trí theo học thuyết quân sự của Liên Xô, với lực lượng xe tăng và xe thiết giáp cơ động bố trí tại những vị trí chiến lược có chiều sâu, phòng thủ cơ động, trong khi bộ binh giao chiến tại những vị trí cố thủ của mình.

Quân Israel tập trung dọc biên giới với Ai Cập có 6 lữ đoàn xe bọc thép, một lữ đoàn bộ binh, một lữ đoàn bộ binh cơ giới, 3 lữ đoàn dù, 700 xe tăng, tổng cộng là 70 ngàn quân, chia thành 3 sư đoàn xe tăng và xe bọc thép. Kế hoạch của Israel là gây bất ngờ cho quân Ai Cập cả về thời gian (tấn công cùng lúc không quân đánh vào các sân bay Ai Cập), lẫn địa điểm (tấn công theo hướng bắc và trung Sinai, chứ không như người Ai Cập tưởng họ sẽ lặp lại chiến thuật năm 1956, sử dụng đường tấn công phía nam và trung), cũng như phương thức (hợp đồng binh chủng đánh tạt sườn, thay vì đánh trực diện bằng xe tăng).

Tướng Sharon quyết định giành thế chủ động, lên kế hoạch kỹ càng, phối hợp tác chiến và tiến hành tấn công. Ông đưa hai lữ đoàn về phía bắc Um-Katef, một để chọc thủng hệ thống phòng thủ tại Abu-Ageila về phía nam, và một để chặn đường về El-Arish và để bao vây Abu-Ageila từ phía đông. Cùng lúc, quân dù được trực thăng chuyển quân về phía sau tuyến phòng thủ, tiêu diệt pháo binh nhằm ngăn chặn chúng bắn phá xe tăng và bộ binh Israel. Quân Israel hợp đồng binh chủng gồm xe tăng, pháo binh, bộ binh, lính dù và công binh tiến công quân Ai Cập từ mọi hướng, cắt rời quân Ai Cập. Trận chiến có tính chất bước ngoặt này diễn ra liên tục trong ba ngày rưỡi cho tới khi Abu-Ageila thất thủ.

Nhiều đơn vị quân Ai Cập vẫn còn nguyên vẹn, và có thể chặn quân Israel tiến về Kênh đào Suez hoặc giao chiến để ngăn quân Israel lại. Tuy nhiên khi Bộ trưởng quốc phòng Ai Cập, nguyên soái Abdel Hakim Amer, nghe tin Abu-Ageila thất thủ, ông hoảng sợ và hạ lệnh cho tất cả các đơn vị tại Sinai tháo lui. Lệnh rút lui cũng có nghĩa là Ai Cập đã bị đánh bại.

Vì quân Ai Cập rút chạy, nên Bộ chỉ huy Israel quyết định không truy kích, thay vì đó đuổi vượt lên chiếm các con đèo ở Tây Sinai để rồi chặn đánh khi quân Ai Cập chạy qua. Vì vậy, trong hai ngày 6 và 7, cả ba sư đoàn của Israel cấp tốc tiến về phía tây. Sư đoàn của Sharon thoạt đầu hướng về phía nam, rồi rẽ sang hướng tây về phía đèo Mitla. Tiếp đó là các thành phần sư đoàn của tướng Yoffe, trong khi các đơn vị khác của sư đoàn này chặn đèo Gidi. Các đơn vị thuộc sư đoàn tướng Tal dừng lại tại nhiều vị trí khác nhau dọc theo Kênh Suez.

Quân Israel chỉ phần nào thành công khi tìm cách chặn đánh quân Ai Cập, vì họ chỉ chiếm được đèo Gidi trước khi quân Ai Cập chạy qua, còn tại các con đèo khác, quân Ai Cập đều chạy đến trước và băng qua kênh Suez an toàn. Dù vậy, trong bốn ngày giao chiến, Israel cũng đã đánh bại đạo quân lớn nhất, trang bị mạnh nhất của người A Rập, để lại sau lưng vô số xe cộ và trang thiết bị của quân Ai Cập bị phá hủy hay vứt bỏ trên bán đảo Sinai.

Ngày 8 tháng 6, Israel hoàn thành việc chiếm đóng Sinai bằng cách đưa hai đơn vị bộ binh tới Ras-Sudar trên bờ bắc của bán đảo này. Thị trấn Sharm El-Sheikh tại mũi phía nam cũng rơi vào tay các toán quân của Hải quân Israel vào ngày hôm trước.

Những nhân tố góp vào vào chiến thắng chớp nhoáng của Israel bao gồm: một là việc không quân Israel làm chủ bầu trời; hai là quyết tâm áp dụng kế hoạch tấn công đầy sáng tạo; và ba là sự thiếu phối hợp từ phía quân Ai Cập. Đó cũng là những nhân tố quyết định chiến thắng của Israel trên các mặt trận khác.

Bờ Tây



Mặt trận Jordan, 5-7 tháng 6

Jordan tham chiến miễn cưỡng, người ta cho rằng Tổng thống Ai Cập Nasser tung hỏa mù trong những giờ đầu cuộc chiến để thuyết phục vua Hussein là phe mình đang giành thắng lợi; ông tuyên bố các máy bay Israel mà radar nhìn thấy quay về là các máy bay Ai Cập trên đường không kích Israel. Một lữ đoàn quân Jordan đóng tại Bờ Tây được điều đến Hebron để hội quân với Ai Cập. Vua Hussein quyết định tham chiến.

Trước chiến tranh, quân Jordan có 11 lữ đoàn, trang bị 300 xe tăng hiện đại của phương Tây. Có 9 lữ đoàn đóng ở Bờ Tây, gồm 45 ngàn quân, 270 xe tăng, 200 trọng pháo, với cả các trung đoàn bọc thép tinh nhuệ số 40 và 2 tại thung lũng Jordan. Lữ đoàn A Rập của quân Jordan là một lữ đoàn nhà nghề, thiện chiến được trang bị và huấn luyện rất tốt. Không quân hoàng gia Jordan có 24 máy bay chiến đấu Hunter, chất lượng tương đương với máy bay Dassault Mirage III – máy bay tốt nhất của không lực Israel.

Để đối lại, Israel có 40 ngàn quân và 200 xe tăng (chia làm 8 lữ đoàn).[43] Bộ chỉ huy Trung tâm của Israel gồm 5 lữ đoàn. Hai lữ đoàn đầu tiên đóng thường trực gần Jerusalem, gọi là lữ đoàn Jerusalem và lữ đoàn cơ giới Harel. Lữ đoàn dù 55 của tướng Mordechai Gur được điều về từ mặt trận Sinai. Một lữ đoàn bọc thép từ Bộ Tổng chỉ huy đóng vai trò lực lượng dự bị, hướng về Ramallah để đánh chiếm Latrun. Lữ đoàn bọc thép số 10 đóng ở phía bắc vùng Bờ Tây. Bộ chỉ huy Phía bắc của Israel có một sự đoàn (gồm 3 lữ đoàn), chỉ huy bởi tướng Elad Peled, đóng ở thung lũng Jezreel, phía bắc vùng Bờ Tây.

Phía Israel dự định phòng ngự thụ động ở mặt trận này, để dồn sức cho mặt trận chính tại bán đảo Sinai. Tuy nhiên, này 5 tháng 6, quân Jordan bắt đầu pháo kích tây Jerusalem, Netanya, và ngoại vi Tel Aviv.Ngày 5 tháng 6, Israel gửi điện cho vua Hussein đề nghị ngưng bắn, nhưng vua Hussein trả lời mọi việc đã quá trễ. Mặc dù bị pháo kích, nhưng ban đầu quân Israel không có bất kỳ hoạt động nào đáp trả. Không quân hoàng gia Jordan cũng tấn công các sân bay Israeli.

Ngày 6 tháng 6, quân Israel vội vã gom nhặt các toán quân còn lại tung vào trận chiến Bờ Tây để ngăn chặn quân Jordan. Chiều cùng ngày, không quân Israel (IAF) công kích và tiêu diệt Không quân hoàng gia Jordan. Tới tối, lữ đoàn bộ binh Jerusalem tiến về phía nam Jerusalem, trong khi quân dù các lữ đoàn Harel và Gur vây thành phố từ phía bắc. Lữ đoàn dù dự bị hoàn thành hợp vây Jerusalem sau trận chiến đẫm máu Ammunition Hill. E ngại các khu vực linh thiêng có thể bị hư hại và không muốn chiến đấu trong thành phố, tướng Dayan hạ lệnh cho binh sỹ của mình không tiến vào thành phố.

Ngày 7 tháng 6, giao tranh khốc liệt tiếp diễn, lữ đoàn bộ binh tấn công pháo đài Latrun và hạ được nó lúc tảng sáng, tiến quân xuyên qua Beit Horon về Ramallah. Lữ đoàn Harel tiếp túc đánh về phía đồi núi ở tây bắc Jerusalem, nối liền khu Mount Scopus của trường đại học Hebrew với thành phố Jerusalem. Tới tối, lữ đoàn đã đánh tới Ramallah. Không quân Israel phát hiện và tiêu diệt lữ đoàn 60 Jordan khi nó đang trên đường tiếp viện cho Jerusalem từ Jericho.

Ở phía bắc, một tiểu đoàn từ sư đoàn của tướng Peled được lệnh kiểm soát hoạt động hệ thống phòng thủ của quân Jordan tại thung lũng Jordan. Một lữ đoàn cũng thuộc sư đoàn này đánh chiếm miền tây của khu Bờ Tây, một lữ đoàn khác đánh Jenin và lữ đoàn thứ ba (trang bị bằng xe tăng hạng nhẹ AMX-13 của Pháp) giao chiến với xe tăng hạng nặng M48 Patton của quân Jordan về phía đông.

Tướng Dayan hạ lệnh cho binh sỹ của mình không được tiến vào Jerusalem; tuy nhiên, sau khi nghe thông báo LHQ chuẩn bị tuyên bố ngưng bắn, ông thay đổi ý định, và không cần chờ Quốc hội cho phép, hạ lệnh đánh chiếm thành phố. Quân dù của Lữ đoàn Gur tiến vào Thành cổ Jerusalem qua Cổng Sư tử, đánh chiếm Bức tường than thở và Núi Đền. Lữ đoàn Jerusalem tiếp đó tới tăng viện cho họ, rồi tiến về hướng nam, đánh chiếm Judea, Gush Etzion và Hebron. Lữ đoàn Harel hành tiến về phía đông, đổ xuống sông River. Ở Bờ Tây, một lữ đoàn của tướng Peled hạ được Nablus; rồi nó được hợp với một lữ đoàn bọc thép thuộc Bộ chỉ huy trung ương đánh với quân Jordan trang bị mạnh hơn, và đông ngang với quân Israel.

Một lần nữa, ưu thế không lực của Israel đóng vai trò quyết định, làm đối phương tê liệt, dẫn đến thất bại. Một lữ đoàn của tướng Peled hợp với một lữ đoàn khác thuộc Bộ chỉ huy trung ương từ Ramallah, hai lữ đoàn khác thì chặn các ngả vượt sông Jordan cùng với Trung đoàn số 10 của Bộ chỉ huy trung ương (đơn vị này đã vượt sông sang tận Bờ Đông để hộ tống cho công binh Israel phá cầu, nhưng nhanh chóng rút về dưới sức ép của Mỹ).

Chiến sự trên Cao nguyên Golan



Chiến sự trên Cao nguyên Golan, 9-10 tháng 6

Tin tức sai lệch rằng quân Ai Cập chiến thắng, đánh tan nát quân Israel và dự đoán là pháo binh Ai Cập chẳng mấy chốc sẽ nã vào Tel-Aviv kích thích Syria tham chiến. Lãnh đạo Syria tuy vậy hành động thận trọng hơn, cho bắt đầu bằng cách pháo kích miền bắc Israel. Khi không lực Israel hoàn tất đánh phá Ai Cập, và chuyển hướng tấn công không quân Syria, Syria hiểu rằng thông tin mà họ nhận được từ phía Ai Cập không phải là tin thật. Tối ngày 5 tháng 6, các cuộc không kích của Israel đã phá hủy hai phần ba không quân Syria, và buộc số còn lại phải di tản về các sân bay ở xa, nên không đóng vai trò gì trong các trận chiến sắp tới. Một lực lượng nhỏ quân Syria định chiếm nhà máy nước Tel Dan, nhưng vài xe tăng Syria bị chìm trên sông Jordan. Từ nay, bộ chỉ huy Syria phải từ bỏ hy vọng tấn công trên bộ, thay vào đó bắn phá dữ dội các thị tấn trong thung lũng Hula của Israel.

Quân Syria có 75,000 người, chia làm 9 lữ đoàn, hỗ trợ bởi xe tăng và pháo binh. Lực lượng xung kích của Israel bao gồm 2 lữ đoàn (một lữ đoàn bọc thép của tướng Albert Mandler và lữ đoàn Golan) ở phần phía bắc mặt trận, 2 lữ đoàn (một bộ binh và một của tướng Peled được gọi đến từ Jenin) ở trung tâm. Địa hình đặc biệt của Cao nguyên Golan (sườn dốc, và cứ vài km lại bị chia cắt bởi các dòng suối song song nhau từ đông sang tây), không có đường xá, buộc hai bên bố trí lực lượng và di chuyển theo trục đông tây, giới hạn khả năng hỗ trợ tác chiến giữa các đơn vị với nhau. Quân Syria như vậy có thể di chuyển theo hướng bắc nam trên đỉnh cao nguyên, còn quân Israel có thể di chuyển theo hướng bắc năm ở chân cao nguyên. Tuy nhiên quân Israel có lợi thế quan trọng là họ có được tin tức tình báo từ điệp viên của Mossad là Eli Cohen (anh bị bắt và bị hành quyết tại Syria năm 1965) về bố trí lực lượng của Syria.

Lực lượng quân đội Israel, vốn đã tấn công pháo binh Syria trong bốn ngày trước khi cuộc tấn công nổ ra, được lệnh tấn công tổng lực vào tất cả các vị trí của Syria. Trong khi các vị trí pháo binh được che chắn cẩn thận của hầu như không bị thiệt hại, thì lực lượng bộ binh tại bình nguyên (6 trên tổng số 9 lữ đoàn) dần dần không thể tổ chức kháng cự được. Tối ngày 9 tháng 6, bốn lữ đoàn của Israel chọc thủng hàng phòng ngự tiến vào bình nguyên, nơi họ có thể được các đơn vị khác tiếp viện và thay thế.

Ngày hôm sau, cụm trung tâm và phía bắc hợp binh trong một cuộc điều binh tạo thành gọng kìm bao vây, nhưng họ chủ yếu chỉ chiếm được những vùng đất trống rỗng, vì quân Syria đã chạy mất. Một số đơn vị kết hợp với quân của tướng Elad Peled trèo lên Golan từ phía nam, nhưng thấy các vị trí cũng hầu hết bị bỏ hoang. Cùng ngày, các đơn vị Israel dừng lại sau khi đã chiếm được vùng đất dụng võ nằm giữa vị trí của họ và dãy núi lửa ở phía tây. Phía đông, địa hình bằng phẳng, sườn dốc thoai thoải xuống, tuyến này sau lệnh ngưng bắn trở thành “tuyến tím”.

Tạp chí Time cho biết: “Để gây sức ép buộc Liên Hiệp Quốc áp đặt lệnh ngừng bắn, Đài phát thanh Damascus tự làm hại quân mình bằng cách loan báo thành phố Quneitra thất thủ 3 tiếng trước khi sự việc thực sự xảy ra. Thông báo hấp tấp này làm tiêu tan tinh thần binh lính Syria vẫn còn chiến đấu trên mặt trận Golan”.
Thực tế là phía Israel không hề chuẩn bị để đánh chiếm lãnh thổ từ tay Jordan. Sau khi Thành Cổ Jerusalem bị chiếm, tướng Dayan hạ lệnh cho binh sỹ đào công sự chuẩn bị phòng ngự thành phố. Khi một chỉ huy lữ đoàn thiết giáp tự tiến vào Bờ Tây, và cho biết từ đây có thể nhìn thấy thị trấn Jericho, Dayan hạ lệnh cho ông này phải quay lại. Chỉ sau khi tin tức tình báo cho thấy vua Hussein rút quân qua sông, tướng Dayan mới quyết định đánh chiếm vùng Bờ Tây.

Vì ngày đầu phải đem quân diệt Ai Cập – quốc gia đứng đầu liên minh tay ba – nên ở mặt trận Jordan phía đông, Tel Aviv không mở đợt tấn công ồ ạt ngay được. Cuộc chiến đấu giành giật cổ thành diễn ra ác liệt trên từng khúc đường, từng căn nhà. Rốt cuộc, ngày 7/6, quân Israel chiến được Đông Jerusalem. Trong lúc đó, một cánh quân Do Thái khác chiếm Naplouse, Djenine và tiến vào bờ tây sông Jordan. Chiều 7/6, vua Hussein đành chịu thua. Trên 6.000 người của phía Jordan bị chết hoặc mất tích, 760 bị thương, 460 bị bắt làm tù binh, khoảng 1/3 trong tổng số 300 chiến xa bị phá hủy, máy bay hư hỏng toàn bộ. Quân Do Thái tổn thất 350 người. 300 binh sĩ khác bị thương.

Trong 3 nước Ảrập, Syria chiến đấu hăng hơn cả. Damascus dồn lên biên giới lực lượng khá mạnh: 75.000 quân được trang bị đầy đủ với 400 xe tăng. Syria lại có lợi thế cao nguyên Golan hiểm trở với nhiều thành lũy kiên cố do Đức, rồi Nga xây cất. Israel bị tổn thất khá nặng trên chiến trường này dù ngay từ đầu họ làm chủ không phận. Tel Aviv dùng chiến thuật tiêu hao và tấn công bất ngờ. Họ dùng máy bay dội bom dồn dập vào phòng tuyến đối phương, nã đại bác suốt 5 giờ liền, rồi từ thung lũng sông Jordan đánh thốc lên cao. Khi cửa đã mở, xe tăng lập tức xung trận. Tổng kết cuộc giao tranh, Syria có 200 người chết, 5.000 người bị thương, 80 xe tăng bị phá hủy, 40 bị cướp. Còn Israel thiệt 115 quân, 306 bị thương. 18h ngày 10/6, hai bên ngưng chiến theo lệnh của LHQ. Bộ trưởng Ngoại giao Syria đau lòng tuyên bố “Syria thua vì không được không quân yểm hộ” (không lực Ai Cập tan rã ngay từ đầu).

Vậy là khối Ảrập thêm một lần bại trận trước Israel. Tel Aviv đã tranh thủ cuộc chiến 1967 để chiếm thêm nhiều đất của phe Ai Cập. Cao nguyên Golan, khu Bờ Tây, Dải Gaza màu mỡ về tay Israel. Sau khi đình chiến, các nước Ảrập đứng trước tình thế hết sức khó khăn: Nội bộ bất ổn, kinh tế yếu ớt. Nước nào cũng thiếu tiền. Kênh Suez buộc phải đóng cửa khiến Ai Cập thiệt mỗi tuần cả 1,5 triệu đôla. Jordan mất đi thành cổ Jerusalem – nguồn lợi du lịch đem lại 34 triệu USD mỗi năm. Cả khu Bờ Tây trù phú cung cấp 80% sản lượng dầu ô liu, 65% rau trái cho nước này cũng bị quân Do Thái chiếm mất. Các quốc gia khác như Ảrập Xêút, Iraq, Kuwait cũng mất nguồn tiền bán dầu khi tức giận cắt quan hệ với phương Tây. Khối Ảrập bị chia rẽ mạnh. Hội nghị Khartoum (tháng 8/1967) do Ai Cập chủ xướng thất bại trong việc tìm ra một giải pháp chung buộc Israel rút quân.

Về phần mình, quốc gia Do Thái chiếm được nhiều đất, tạm thời loại bỏ được mối nguy từ các nước Ảrập. Tuy nhiên, điều này làm sâu sắc thêm sự hằn thù dân tộc ở Trung Đông. Sau chiến tranh, rất nhiều người Israel đem gia đình tới lập khu định cư ở Bờ Tây và Dải Gaza. Cho tới nay, 2% dân số quốc gia Do Thái (khoảng 400.000 người) đang ngụ tại khu vực này. Giải quyết bài toán đảm bảo cuộc sống cho những người định cư và kiến tạo hòa bình với Ảrập từ đó luôn làm Tel Aviv vò đầu bứt tai. Thực tế, nội bộ Israel luôn chia rẽ trên vấn đề đó. Những người cánh hữu cảm thấy vùng đất mới là chiến lợi phẩm hợp lý trong cuộc chiến chính nghĩa, trong khi cánh tả cho rằng nên đổi nó lấy hòa bình.

Một lần nữa, chiến thắng quân sự lại khiến người ta lo ngại hơn cho số phận của đất nước Do Thái. Sự xấu hổ và phẫn nộ của thế giới Ảrập từ thất bại ê chề trên đã đẻ ra phong trào Hồi giáo quá khích ở Trung Đông. Chiến tranh cũng dẫn tới một cuộc tái thiết hoạt động du kích và sự xuất hiện của lực lượng kháng chiến Palestine thực sự khi thêm nhiều người trở thành dân tị nạn.

Sau năm 1967, uy tín của Liên Xô suy giảm ở Trung Đông do nước này không can thiệp để cứu Ai Cập. Còn Mỹ và phương Tây giành thắng lợi lớn về tinh thần. Một loạt nước Ảrập (tiêu biểu là Jordan) quyết định ngả hẳn sang phe Washington.

Cuộc chiến Yom Kippur năm 1973
Chiều 6/10/1973, những tiếng cầu nguyện trong ngày lễ Sám hối (Yom Kippur) lặng lẽ và thiêng liêng nhất của năm đột ngột bị ngắt quãng bởi tiếng còi hú dồn dập. Trên đường, xe tải, xe buýt và xe jeep quân sự phóng như điên. Toàn thể Israel bàng hoàng trước tin quân Ai Cập và Syria đã vượt biên giới.

Tình thế quả thực vô cùng nguy ngập. Liên quân Ảrập tấn công đúng vào ngày lễ trọng khi mà toàn dân Do Thái hầu như ngừng làm việc. Tất cả các viên chức đều nghỉ và đến giáo đường cầu nguyện. Đài phát thanh im tiếng. Hệ thống giao thông liên lạc giảm hoạt động đến mức tối thiểu. An ninh quốc phòng hết sức lơi lỏng.

Chiến sự nổ ra ở biên giới, Bộ Quốc phòng Israel đột ngột sôi lên như đàn ong vỡ tổ. Tin từ mặt trận báo về tới tấp. Vào đúng 1h55′ (giờ địa phương), Syria điều 1.400 xe tăng và hơn 1.000 khẩu pháo tấn công lên cao nguyên Golan. Trong khi đó ở đây, Israel chỉ để gần 180 xe tăng và 50 pháo. Chênh lệch lực lượng quá lớn (tỷ lệ 12:1, lợi thế nghiêng về Syria), cộng với sự bất ngờ khiến quân Do Thái phải lùi liên tục. Cùng lúc, ở phía nam Israel, quân Ai Cập vượt kênh Suez, dễ dàng vượt qua phòng tuyến Do Thái lỏng lẻo, nhanh chóng lập ra một đầu cầu khoảng 10 km xuyên sâu vào bán đảo Sinai.

Với người Do Thái, tháng 10 năm 1973 thực sự là những ngày đen tối. Chiến tranh Yom Kippur xảy ra bất ngờ và khủng khiếp, đột ngột đe dọa an ninh, thậm chí cả sự sống còn của Israel. Mặc dù vào cuối cuộc xung đột, Tel Aviv lật ngược tình thế, kề dao vào cổ cả Cairo lẫn Damascus, nhưng điều này chẳng thể loại bỏ được nỗi choáng váng khiến cả đất nước Do Thái chao đảo rất lâu sau đó. Người ta đặt câu hỏi: Làm thế nào mà một thảm họa như vậy lại xảy ra? Tại sao tình báo Israel – được đánh giá là mạnh nhất vùng – lại không đánh hơi được việc hai nước láng giềng chuẩn bị chiến tranh?

Mặt trận Sinai



Thoạt đầu quân Ai Cập không tiến xa hơn khỏi một dải đất hẹp dọc theo kênh đào, vì sợ không được lưới lửa phòng không SAM, nằm ở phía bờ bên kia, bảo vệ. Trong cuộc chiến tranh Sáu ngày, không quân Israel đánh cho quân A Rập tơi tả. Lần này Ai Cập và Syria phòng thủ chặt chẽ phòng tuyến của mình bằng các khẩu đội pháo phòng không do Liên Xô cung cấp. Không lực Israel không có phương cách gì chế ngự được lưới lửa phòng không này. Israel vốn sử dụng một phần lớn ngân sách quốc phòng của mình để xây dựng lực lượng không quân mạnh nhất khu vực, nhưng sẽ phải nhìn không lực của mình bị vô hiệu hóa bởi các khẩu đội tên lửa SAM của đối phương.

Ai Cập dự tính quân Israel sẽ nhanh chóng tung ra một đòn phản kích bằng xe tăng, nên trang bị cho lớp bộ binh xung kích của mình một số súng phóng lựu và tên lửa chống tăng Saggernhiều chưa từng thấy. Số khí tài này sẽ gây tổn thất nặng nề cho cuộc phản kích bằng xe bọc thép của Israel. Cứ ba binh lính Ai Cập thì có một người được trang bị vũ khí chống tăng. Một sử gia quân sự viết “Chưa bao giờ hỏa lực chống tăng lại được sử dụng tập trung nhiều đến thế trên chiến trường.” Thêm vào đó, bờ kênh bên phía Ai Cập được đắp cao gấp đôi bờ kênh bên phía Israeli, khiến cho quân Ai Cập có ưu thế tuyệt đối để chụp hỏa lực xuống quân Israel cũng như bất kỳ xe tăng nào dám tới gần. Tầm vóc cũng như tính hiệu quả của chiến thuật triển khai vũ khí chống tăng mà quân Ai Cập sử dụng, cộng với sự bất lực từ phía không lực Israel nhằm vô hiệu hóa chúng (do vướng lưới phòng không SAM) khiến cho quân Israel bị tổn thất nặng nề trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.

Quân Ai Cập dành rất nhiều nỗ lực nhằm tìm ra một giải pháp hữu hiệu và nhanh chóng để chọc thủng chiến tuyến của Israel. Người Israel dựng lên một lớp chiến lũy cát cao đến 18 mét. Các kỹ sư Ai Cập ban đầu tính dùng thuốc nổ để phá chướng ngại vật, cho tới khi một sỹ quan cấp thấp đề xuất sử dụng vòi phun nước áp lực lớn. Ý tưởng trên được đem ra thí nghiệm, và tỏ ra hữu hiệu, nên người ta cho nhập nhiều máy bơm cao áp từĐông Đức. Quân Ai Cập sử dụng các máy bơm nước này để hút nước từ kênh đào Suez và thổi băng đi lớp chướng ngại vật bằng cát.

Tới 2:05 chiều, không quân Ai Cập mở cuộc không kích lớn với chừng 200-250 máy bay, bay rất thấp, đánh vào 3 sân bay, 10 vị trí tên lửa phòng không Hawk, các sở chỉ huy chính, trung tâm gây nhiễu điện tử, trạm radar, hai căn cứ pháo tầm xa và một cứ điểm mạnh ở phía đông Port Fuad của Israel. Bộ chỉ huy Ai Cập tính là không quân của họ đã hoàn thành đánh phá 95% mục tiêu, mà chỉ mất có 5 máy bay. Cùng lúc với cuộc không kích, quân Ai Cập tiến hành pháo kích dữ dội với hơn 2000 pháo trong 53 phút, bắn vào tuyến phòng thủ Bar Lev và các lô cốt, hầm chỉ huy, khu vực tập trung xe tăng.

Được pháo binh bắn yểm trợ, 8.000 quân Ai Cập vượt kênh đợt đầu bằng 1000 xuồng cao su, đánh chiếm hoặc phá hủy gần hết các đồn trên tuyến Bar-Lev (chỉ còn duy nhất một đồn tiếp tục chống cự). Các tổ diệt xe tăng bắt đầu đặt mìn, tổ chức phục kích xe tăng của Israel, ngăn chặn xe tăng của Israel quấy rỗi cuộc đổ bộ. Tới 2:30 chiều quân Ai Cập đã cắm cờ trên bờ đông của kênh Suez, và đến 2:46 quân Ai Cập đã chiếm được đồn đầu tiên. Quân đoàn cơ giới bắt đầu lập cầu phao, được pháo binh và bộ binh yểm trợ. Quân đặc nhiệm Sa’iqa(nghĩa là “chớp nhoáng”) được trực trăng đổ vào sâu tới 40km trong Sinai để đánh phá và ngăn cản quân dự bị Israel can thiệp. Không quân Israel tìm cách ngăn chặn quân Ai Cập lập cầu phao, nhưng bị tên lửa SAM của Ai Cập bắn rát; 13 máy bay của Israel bị bắn cháy từ khi cuộc đổ bộ bắt đầu cho tới 5 giờ chiều. Các cuộc không kích trên nhìn chung là không có hiệu quả, vì các cầu phao bị hư hại được nhanh chóng sửa chữa và đưa vào hoạt động trở lại. Lữ đoàn quân Israel phòng ngự phòng tuyến Bar-Lev bị tiêu diệt. Chỉ trong chưa đầy sáu giờ, quân Ai Cập đã hạ 15 đồn, tiến sâu đến vài km. Cũng trong thời gian này, quân Ai Cập đưa năm sư đoàn bộ binh và 850 xe tăng vượt kênh.

Một lữ đoàn chiến xa lội nước gồm một ngàn quân, 20 xe tăng PT-76 và 80 APC vượt Đại hồ Bitter ngày 6 tháng 10. Mục tiêu của họ là cắt đứt hệ thống liên lạc và chỉ huy dọc theo các con đèo Mitla và Gedy. Lữ đoàn này tấn công các vị trí radar và trạm vô tuyến của Israel tại các con đèo đó, và tấn công sân bay Bir-el-Thamada trong ngày 7-8 tháng 10, trước khi rút lui về phòng tuyến Ai Cập ở bờ kia kênh Suez. Bị hỏa lực phi pháo Ai Cập đánh phủ đầu, Công binh Ai Cập lập nhiều cầu nổi bắc qua kênh đào Suez cho bộ binh, chiến xa băng qua nhanh chóng như nước vỡ bờ. Những cứ điểm dọc theo phòng tuyến bị bao vây, chiến đấu trong tuyệt vọng. Quân đội Do Thái thiết lập mười sáu cứ điểm cách nhau năm dặm, dọc theo bờ kênh đào Suez, tất cả đều bị cô lập, bao vây tấn công. Trong mỗi cứ điểm trên phòng tuyến, có khoảng 20, 30 binh sĩ nằm chiụ trận trước những đợt pháo kích dồn dập của Pháo binh Ai Cập. Sau trận điạ pháo kinh hoàng, bộ binh, chiến xa Ai Cập tấn công, tất cả các cứ điểm đều bị tràn ngập, Cứ điểm Quay trên phòng tuyến Bar Lev có 42 binh sĩ, khi bị quân Ai Cập tràn ngập thì 5 người đã chết và 37 người bị thương, thiệt hai quân số 100%. Chỉ ngoại trừ một cứ điểm có mật hiệu là Budapest nhờ điạ thế chiến lược đặc biệt và tiếp tục nằm dưới quyền kiểm soát của Israel cho tới hết cuộc chiến.

Quân Ai Cập hoàn thành cuộc vượt kênh với rất ít tổn thất: 280 binh sỹ, 15 máy bay và 20 xe tăng. Trong khi đó, tổn thất của Israel lớn hơn nhiều: tới ngày 7 tháng 10, tướng Mandler thông báo sư đoàn bọc thép của mình từ 291 xe tăng chỉ còn 100 xe, lữ đoàn bọc thép Shomron ở phía nam từ 100 xe tăng chỉ còn 23 xe tăng. Tổng cộng, có 300 xe tăng của Israel bị phá hủy trong cuộc tấn công của Ai Cập vào chiến lũy Bar-Lev, lữ đoàn bộ binh bảo vệ chiến tuyến bị tiêu diệt. Tới 16:00 Elazar được biết tổn thất của IAF trong vòng 27 giờ đầu lên tới 30 máy bay.

Trong một chiến dịch đã được tập luyện thành thục, quân Ai Cập tiến sau chừng 4-5km vào sa mạc Sinai với lực lượng tổng hợp của hai quân đoàn, bao gồm cả sư đoàn bộ binh số hai từ quân đoàn số hai phía bắc.[15] Quân Ai Cập tiếp đó củng cố các vị trí của họ. Tới 7 tháng 10, các đầu cầu này được mở rộng thêm 4km, cùng lúc đẩy lùi các cuộc phản công của Israel. Trong các đêm 7 và 8 tháng 10, sư đoàn bộ binh 18 Ai Cập đánh chiếm thành phố Qantara.

Ngày 8 tháng 10, tướng Shmuel Gonen, chỉ huy mặt trận Nam Israel—người chỉ mới nhậm chức ba tháng trước khi tướng Ariel Sharon về hưu—hạ lệnh phản công với ba lữ đoàn từ sư đoàn bọc thép 162 của tướng Abraham Adan. Tuy nhiên, một lữ đoàn bị kẹt vì giao thông quá tải, hai lữ đoàn khác mới chỉ tập hợp được nửa quân số.. Họ tấn công quân Ai Cập cố thủ tại Hizayon, nhưng bất kỳ xe tăng nào tiến đến gần đều bị hỏa tiễn Sagger phá hủy, quân Israel thất bại nặng. Tới tối, quân Ai Cập phản công, nhưng bị Sư đoàn xe bọc thép 163 của tướng Ariel Sharon chặn lại— tướng Sharon được điều lại làm chỉ huy sư đoàn khi chiến tranh bùng nổ. Giao tranh lắng xuống vì không bên nào muốn mở cuộc tiến công vào chiến tuyến của bên kia nữa. Tổn thất của phía Israel trong các trận giao tranh tới lúc này lên đến 49 máy bay và khoảng 500 xe tăng bị mất.

Cùng ngày, sư đoàn số hai bộ binh Ai Cập hoàn thành tiêu diệt lữ đoàn pháo binh 190 của Israel và bắt sống chỉ huy đơn vị này, trong khi đó, ngày 10 tháng 10, lữ đoàn bộ binh số một thuộc quân đoàn ba đánh chiếm các vị trí bố phòng tại Ain Mousa với hai khẩu đội đại pháo 155mm, khoảng 14km về phía tây nam Suez. Không quân Israeli (IAF) tăng cường tấn công trong những ngày tiếp đó vào các vị trí của quân Ai Cập bố trí dọc bờ kênh Suez.

Trong ngày 9 tháng 10, trên toàn mặt trận, quân Ai Cập tiếp tục tiến công thăm dò nhằm củng cố và mở rộng đầu cầu. Quân Israel phản kích, và cũng giống như các cuộc tấn công mà họ tiến hành trong ngày 8 tháng 10, với tổn thất nặng nề. Trong hai ngày đó, người Israel mất tổng cộng 260 xe tăng.[26] Ở mặt trận do tướng Sharon chỉ huy, trong khi sư đoàn 16 bộ binh định chiếm lại mấy dải đất hẹp quan trọng, thiếu tướng Ai Cập Shafik Mirti Sedrak tử trận. Sharon, để trả đũa, hạ lệnh mở một số cuộc tấn công, vi phạm lệnh chuyển sang phòng ngự của tướng Elazar. Quân đoàn hai đưa một tiểu đoàn xe tăng sang hỗ trợ sư đoàn 16 để đẩy lui cuộc phản kích của Israel. Cùng lúc, hai lữ đoàn xe bọc thép mở cuộc tấn công để chiếm các vị trí tại Hamutal, Televiza và Machshir, nhưng không chiếm được vị trí nào. Tới tối, Sharon mất thêm 50 xe tăng mà không giành được thắng lợi, dù quân Israel rút được đơn vị quân đóng tại cứ điểm Purkan.

Sau khi biết được hành động bất tuân lệnh của tướng Sharon, tướng Elazar phát khùng lên, nhưng thay vì bãi chức tướng Sharon, người được coi là rất sáng tạo, ông cho thay thế tướng Gonen, người tỏ ra hết sinh khí, bằng tướng về hưu Chaim Bar-Lev. Để khỏi ảnh hưởng đến tinh thần binh sỹ, tướng Gonen thay vì bị bãi chức, lại được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng cho tướng Bar-Lev. Tới ngày 10 tháng 10, cả hai phía tạm ngưng chiến

Sau vài ngày chờ đợi, quân Ai Cập nhận ra Israel tập trung nỗ lực vào mặt trận Golan đánh lại Syria. Sadat, muốn giảm áp lực lên Syria, hạ lệnh các tướng tổng chỉ huy (Saad El Shazly và Ahmad Ismail Ali) tấn công. Quân đoàn hai và ba sẽ tấn công đồng loạt về hướng đông, chỉ để lại năm sư đoàn bộ binh để bảo vệ đầu cầu. Lực lượng tấn công, gồm 400 xe tăng sẽ không được tên lửa SAM bảo vệ, nên không quân Ai Cập (EAF) được giao nhiệm vụ bảo vệ họ khỏi các cuộc tấn công từ không lực Israel. Các đơn vị xe bọc thép và cơ giới bắt đầu cuộc tấn công ngày 14 tháng 10 với pháo binh bắn yểm trợ. “Cuộc tấn công lớn nhất kể từ khi Ai Cập mở màn cuộc chiến Yom Kippur, hoàn toàn thất bại, định mệnh lần đầu tiên quay lưng lại với Ai Cập kể từ khi chiến tranh nổ ra. Thay vì tập trung lực lượng để tấn công, trừ cuộc tấn công vào lòng suối cạn, còn lại họ ném lực lượng vào các cuộc đối đầu với các lữ đoàn Israel đợi sẵn. Quân Ai Cập mất chừng 150 cho tới 250 xe tăng trong ngày hôm đó.”

Ngày tiếp theo, 15 tháng 10, quân Israel mở Chiến dịch Abiray-Lev (“Quả cảm” hay “Dũng sỹ”)—để phản công lại Ai Cập và vượt kênh Suez. Cuộc tấn công là một bước chuyển lớn về mặt chiến thuật của Israel, vốn vẫn dựa vào hỏa lực hỗ trợ của máy bay và xe tăng—nhưng bị quân Ai Cập vốn có sự chuẩn bị kỹ càng tiêu diệt. Thay vào đó, Israel sử dụng bộ binh để thâm nhập các vị trí tên lửa SAM và các khẩu đội pháo phòng không, không có khả năng kháng cự hiệu quả chống lại lính bộ binh.

Tướng Ariel Sharon dẫn một sư đoàn đánh vào quân Ai Cập ở phía bắc hồ Bitter, cạnh Ismailiya. Quân Israel đánh vào điểm yếu trong chiến tuyến Ai Cập, là điểm nối giữa Quân đoàn hai ở phía bắc và Quân đoàn ba ở phía nam. Sau những trận ác diến dữ dội nhất trong toàn cuộc chiến quanh Nông trại Trung Quốc (một công trình thủy lợi ở phía đông kênh đào, và phía bắc đầu cầu vượt kênh), quân Israel chọc thủng chiến tuyến Ai Cập và tiến đến kênh Suez. Một toán quân vượt kênh và thiết lập một đầu cầu ở bờ bên kia sông. Chỉ trong hơn 24 giờ, binh lính Israel, không có xe tăng hộ tống, dùng bè nhỏ bằng cao su vượt sông. Họ sử dụng hỏa tiễn chống tăng M72 LAW của Mỹ để khắc chế mối đe dọa xe tăng Ai Cập. Một khi hỏa lực phòng không và hệ thống chống tăng của Ai Cập bị vô hiệu hóa, bộ binh Israel quay lại sử dụng hỏa lực xe tăng và máy bay để áp đảo quân địch.

Trước khi chiến tranh nổ ra, các quốc gia phương Tây không bán phương tiện làm cầu phao cho Israel, vì sợ họ sẽ dùng nó để vượt kênh. Tuy vậy, người Israel mua và tân trang các linh kiện cầu phao cổ lỗ từ một bãi phế liệu thời Đệ nhị Thế chiến tại Pháp. Họ cũng sáng tạo một cây “cầu đẩy” rất tinh vi, nhưng do tiếp tế bị chậm bởi đường xá tắc nghẽn, nó đến bờ kênh chậm mất mấy ngày. Lập cầu phao trong đêm 16/17 tháng 10, sư đoàn 162 của tướng Adan vượt kênh rồi ùa về phía nam, định cắt đứt đường rút của Quân đoàn ba Ai Cập trước khi nó tháo lui kịp về Ai Cập. Cùng thời gian, cánh quân này tung các toán quân đột kích phá hủy các khẩu đội tên lửa SAM ở bờ đông kênh Suez. Tới 19 tháng 10, Israel đã thiết lập được bốn cây cầu ở phía bắc Đại hồ Bitter dưới làn hỏa lực dữ dội của Ai Cập. Tới cuối cuộc chiến, quân Israel đã ở trong biên giới Ai Cập, và chỉ cách thủ đô Cairo của Ai Cập có 101km.

Mặt trận Golan



Trên Cao nguyên Golan, quân Syria tấn công hệ thống phòng thủ của Israel gồm hai lữ đoàn và 11 khẩu đội pháo, sử dụng năm sư đoàn và 188 khẩu đội pháo. Lúc trận chiến mở màn, 180 xe tăng và 60 pháo của Israel phải đọ lại với 1.300 xe tăng Syria.[31] Tất cả các xe tăng Israel tại Cao nguyên Golan đều được tung vào trận. Biệt kích Syria đổ bộ bằng trực thăng đánh chiếm cứ điểm quan trọng Jabal al Shaikh (núi Hermon), là nơi bố trí nhiều thiết bị quan sát của Israel.

Cuộc chiến tại Cao nguyên Golan có tầm quan trọng hàng đầu với Bộ Tổng chỉ huy Israel. Do chiến trận tại Sinai còn cách khá xa, các trung tâm dân cư của Israel chưa bị trực tiếp đe dọa, nhưng nếu cao nguyên Golan thất thủ, quân Syria có thể dễ dàng thừa thắng đánh tới Tiberias, Safed, Haifa, Netanya, và Tel Aviv. Quân dự bị Israel được khẩn trương tập trung tại Cao nguyên Golan. Họ được nhận xe tăng rồi tung ra mặt trận ngay tức khắc, không chờ cho tới khi tổ lái mà họ được cùng huấn luyện đến đủ, cũng không chờ cho tới khi súng máy được lắp trên tháp pháo, cũng chẳng cần chờ phải chỉnh nòng pháo (vì mất nhiều thời gian).

Cũng tương tự như quân Ai Cập tại Sinai, quân Syria cẩn thận hoạt động dưới tầm yểm trợ của tên lửa SAM, và sử dụng súng chống tăng do Liên Xô sản xuất (nhưng không hiệu quả bằng, vì địa hình tại đây không bằng phẳng, như tại vùng sa mạc Sinai).

Quân Syria dự tính người Israel phải mất tối thiểu 24 giờ mới đưa quân dự bị ra tới mặt trận được, nhưng trong thực tế, quân dự bị Israel xung trận chỉ 15 giờ sau khi chiến tranh bùng nổ.

Sau ngày đầu giao chiến, quân Syria (với lực lượng đông gấp năm lần quân Israel tại Golan, có những nơi xe tăng Syria đông gấp 11 lần) giành được một số thắng lợi khiêm tốn. Quân Israel kháng cự mãnh liệt, bộ binh và xe tăng Israel kiệt lực chiến đấu để đẩy lùi quân Syria. Họ sử dụng pháo tự hành rất hiệu quả, vì pháo thủ Israel đã thao diễn rất nhiều lần đến thuần thục trên cao nguyên Golan. Tên lửa SAM của Syria bắn rơi 40 máy bay Israel, nhưng phi công Israel nhanh chóng sử dụng chiến thuật mới- bay thấp trên lãnh thổ Jordan- rồi bổ nhào xuống cao nguyên Golan, bất thần đánh vào sườn quân Syria và tránh các dàn tên lửa phòng không. Phi công Israel ném bom thường và bom napalm, phá hủy xe quân sự Syria rải xác đầy mặt đất. Tuy vậy, chỉ trong vòng sáu giờ, tuyến đầu phòng thủ của Israel bị quân Syria đông quá đánh tan vỡ.

Trong vòng bốn ngày đầu giao chiến, Lữ đoàn thiết giáp số bẩy của Israel (do tướng Yanush Ben Gal chỉ huy) cầm cự trên dải đồi đá phòng ngự sườn phía bắc của đại bản doanh lữ đoàn tại Nafah. Vì một lý do nào đó, quân Syria dù đã tiến rất gần đến Nafah, nhưng họ lại ngưng tiến, tạo điều kiện cho quân Israel tập hợp lại thành một tuyến phòng ngự. Lý do có thể là quân Syria tính trước tốc độ tiến công, và chỉ huy chiến trường của Syria không muốn đi chệch khỏi kế hoạch. Tuy nhiên ở hướng nam, Lữ đoàn Barak của Israel, mất hết các thành lũy tự nhiên, bắt đầu bị tổn thất nặng, lữ đoàn trưởng đại tá Shoham bị giết trong ngày thứ hai cuộc chiến, cũng như chỉ huy phó và sỹ quan điều hành tác chiến, khi quân Syria liều mạng tấn công về hướng Biển Galilee và Nafah. Tới lúc này, lữ đoàn không còn hoạt động như một đơn vị thống nhất, mặc dù các xe tăng và tổ lái tiếp tục độc lập chiến đấu. Về phía mình, quân Syria cũng bị nhiều tổn thất, xe tăng Israel tiếp tục nã đạn vào đội hình tấn công của Syria làm họ bị thiệt hại nặng nề, lữ đoàn trưởng Syria, tướng Omar Abrash bị giết khi xe tăng của ông bị trúng đạn.

Tình thế trên cao nguyên Golan bắt đầu xoay chuyển khi quân dự bị Israeli xuất hiện, chặn đứng quân Syria, rồi tới ngày 8 tháng 10, bắt đầu đánh lui cuộc tấn công của quân Syria. Cao nguyên Golan quá nhỏ hẹp, không có giá trị vùng đệm như bán đảo Sinai ở phía nam, nhưng có giá trị chiến lược quan trọng, vì là điểm chốt để ngăn quân Syria bắn phá các thị trấn ở phía dưới. Tới thứ tư, ngày 10 tháng 10, các đơn vị cuối cùng của Syria thuộc bộ phận Trung tâm đã bị đẩy lùi qua tuyến tím, tức là đường biên giới trước khi chiến tranh bùng nổ

Từ ngày 11 tới ngày 14 tháng 10, quân Israel đánh sâu vào nội địa Syria, nhưng quân dự bị Syria kháng cự mạnh mẽ từ các công sự phòng thủ được chuẩn bị từ trước. Quân Israel tiếp tục tiến đánh, và tiến đến tuyến phòng ngự chính quanh Sassa. Israel như vậy đã chiếm được thêm 50 km vuông lãnh thổ quanh Bashan. Từ đây, họ có thể bắn trọng pháo vào ngoại vi Damascus, chỉ cách đó 40 km.

Iraq cũng đưa một lực lượng viễn chinh tới Golan, bao gồm khoảng 30.000 quân, 500 xe tăng, và 700 xe bọc thép (APC). Sư đoàn Iraq này là một bất ngờ chiến lược cho Israel, vì họ tin rằng họ có thể nhận được tin tình báo về sự chuyển quân ngày trước 24 giờ. Bất ngờ này chuyển thành bất ngờ chiến thuật, vì quân Iraq đánh vào sườn phía nam để hở của các xe tăng Israel đang tấn công, buộc họ phải rút lui chừng vài km để đề phòng bị bao vây.

Quân đội liên hợp của Syria, Iraq và Jordan phản công để ngăn bước tiến của Israel, nhưng không đẩy lui quân Israel khỏi Bashan được.

Thực tế, để giành được ưu thế bất ngờ, tổng thống Ai Cập Anwar Sadat – nhân vật chủ chốt trong ban lãnh đạo liên quân Ảrập – đã tính kỹ từng đường đi nước bước.



tổng thống Ai Cập Anwar Sadat

Khi Sadat lên nắm quyền năm 1970, Ai Cập ở trong tình trạng rất xấu: Xã hội bất ổn, kinh tế vô cùng khó khăn. Kênh Suez, mối lợi 1,5 triệu USD mỗi tuần, vẫn phải đóng cửa suốt kể từ cuộc chiến 6 ngày với Israel. Người Do Thái lại chiếm mất bán đảo Sinai giàu dầu mỏ. Vì vậy, suốt từ năm 1970 đến đầu năm 1973, Cairo không ngừng thương lượng với Tel Aviv, hy vọng thu lại được đất đai để cải thiện tình hình. Tuy nhiên, quan điểm của hai bên rất xa nhau. Ai Cập chấp nhận ký hiệp ước hòa bình với điều kiện Israel rút hết quân khỏi những vùng đất chiếm đóng trái phép. Israel kiên quyết bác bỏ yêu cầu này. Sau thắng lợi quá giòn giã năm 1967, Tel Aviv xem quân Do Thái gần như vô địch trong khu vực và tin rằng người Ảrập còn lâu mới dám đối đầu một lần nữa. Đàm phán hoàn toàn bế tắc. Tổng thống Sadat nhận định, chiến tranh là không thể tránh khỏi. Người đứng đầu Syria Hafez Assad cũng đồng tình. Ông muốn giành lại cao nguyên Golan.

Từ năm 1970 tới nửa đầu năm 1973, phe Ảrập liên tục đe dọa chiến tranh. Cứ vài tháng, tổng thống Ai Cập Sadat lại làm báo chí sục sôi khi công khai tuyên bố ý định tấn công Israel. Ông gọi 1971 là “năm quyết định”, nhưng 1971 đến và đi mà không có sự kiện gì xảy ra. Năm 1972, Sadat lại hằm hè với Tel Aviv, tuy nhiên quân Ai Cập vẫn án binh bất động. Đến trước năm 1973, Israel và cả thế giới đã quá mệt mỏi, khi nghe Cairo tuyên bố tấn công, chẳng mấy ai còn tin nữa. Những đợt chuyển quân lớn của Ai Cập và Syria lên vùng biên giới vào tháng 9/1973 để chuẩn bị cho chiến tranh thực sự cũng không làm Tel Aviv cảm thấy cần cẩn thận hơn trong bố phòng biên giới.



Tổng thống Syria Hafez Assad.

Kế hoạch tác chiến của phe Ảrập được tuyệt đối giữ kín. Ở Ai Cập, trước ngày 1/10/1973, chỉ có tổng thống và bộ trưởng quốc phòng nắm được bí mật này. Về phần Syria, chỉ một số nhân vật trong nội các (dưới 10 người) biết rằng chiến tranh chắc chắn sẽ nổ ra. Dè chừng hệ thống nghe trộm điện tử tinh vi của Israel, lãnh đạo Ảrập hạn chế tối đa liên lạc qua điện thoại và điện tín.

Ngay cả khi ngày khai chiến đã gần kề, các nhà ngoại giao Ai Cập vẫn không ngừng “bày tỏ thiện chí hòa bình” với các chính phủ phương Tây. Cairo còn tung hỏa mù bằng cách yêu cầu các học viên sĩ quan trở lại trường vào ngày 9/10 và cho tướng tá quân đội đi hành hương ở Mecca. Vào 4/10, đài Ai Cập cũng loan báo 20.000 lính dự bị đã được phục viên…

Tình báo Israel bối rối vô cùng. Những thông tin họ thu được cực kỳ mâu thuẫn. Ngay từ cuối tháng 4, mật vụ Do Thái đã có trong tay kế hoạch hành quân chi tiết của Cairo và Damascus. Israel biết rằng đội quân thứ 2 và thứ 3 của Ai Cập sẽ vượt kênh và thọc sâu 10 km vào bán đảo Sinai. Sau đó, bộ binh và thiết giáp sẽ đổ quân đánh úp đèo Mitla và Gidi – điểm giao chiến lược. Trong lúc đó, hải quân và lính dù tấn công Sharm el-Sheikh ở cực nam Sinai, v.v. Tuy nhiên, các chính trị gia Israel, sau nhiều lần bị báo động giả, không tin rằng người Ảrập có ý định gây chiến nghiêm túc. Chỉ một thiếu úy tình báo quân đội có tên Binyamin Siman-Tov là không bị lừa. Anh viết liền 2 bản báo cáo dài về nguy cơ chiến tranh vào mồng 1 và 3/10. Lời cảnh báo bị cấp trên của Siman-Tov bỏ qua.

Vào ngày 4/10, Zvi Zamir, giám đốc cơ quan tình báo Mossad, bắt đầu cảm thấy lo lắng. Hôm đó, toàn bộ cố vấn Xô Viết và gia đình của họ đột ngột rời Ai Cập và Syria mà không đưa ra lời giải thích chính thức nào. Trong khi đó, máy bay vận tải chở nhiều vũ khí và quân trang lại nối đuôi nhau bay từ Matxcơva tới Damacus.

Đêm 5/10, ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy quân Ảrập tập trung nhiều xe tăng, bộ binh gần cao nguyên Golan và trên bờ tây kênh Suez. Hệ thống phòng không dùng tên lửa đất đối không (SAM) do Liên Xô cung cấp cũng ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, chính quyền trung ương Do Thái vẫn không có phản ứng gì.

Chiều 5/10, Zamir nhận được điện khẩn từ một điệp viên kỳ cựu khẳng định Ai Cập và Syria sẽ tấn công Israel, tuy không biết rõ ngày giờ cụ thể. Giám đốc Mossad liền bay sang châu Âu trực tiếp xác minh tin trên. 3h45′ sáng 6/10, Zamir gọi điện về báo “chiến tranh sẽ xảy ra vào lúc mặt trời lặn” – một sự nhầm lẫn bởi Cairo và Damascus quyết định tấn công sớm hơn mốc này vài tiếng.

Dù thế nào thì Tel Aviv vẫn trở tay không kịp. Gần trưa 6/10, lệnh động viên lực lượng dự bị mới được phát đi. Nội các Do Thái tranh cãi kịch liệt xem phải phản ứng thế nào trước cuộc xâm lược của Ai Cập và Syria. Cuối cùng, nữ Thủ tướng Golda Meir tán thành kế hoạch phản công tích cực do Bộ trưởng Quốc phòng Moshe Dayan đề xuất. Ông Dayan lập luận rằng cần thẳng tay trừng trị người Ảrập bằng cách đưa quân vào lãnh thổ của họ.

Bà thủ tướng trấn an toàn dân trên đài phát thanh. Giọng vẫn chắc nịch nhưng bà Meir tỏ ra kiềm chế hơn mọi ngày: “Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ chiến thắng”. “Mặc dù tôi tin rằng Ai Cập và Syria đang hành động hết sức điên rồ”, bà nói thêm. Tướng độc nhãn Moshe Dayan tỏ ra lạc quan hơn, khẳng định người Ảrập sẽ không thu được gì trước khi có lệnh đình chiến. Ông thừa nhận quân đội Do Thái đang bị dàn mỏng ra dọc kênh đào Suez. Dù vậy, bán đảo Sinai rất rộng, có thể che chắn cho các thành phố lớn của Israel. Dayan nhấn mạnh: “Quân Ai Cập sẽ bị đánh bật khỏi Sinai ngay khi lực lượng dự bị tham chiến. Về phần Syria, họ sẽ không bao giờ giành lại được cao nguyên Golan”.

Tuy nhiên, trận chiến diễn ra ác liệt hơn so với những gì tướng Dayan nghĩ. Ở phía bắc, Syria tập trung 6 sư đoàn với tổng cộng 100.000 quân và gần 1.400 xe tăng. Phía nam, Ai Cập huy động trên 120.000 binh lính với sự yểm hộ của 2.000 tăng và suýt soát 700 máy bay. Trong hai ngày đầu (6-7/10), Israel thua liểng xiểng. Quân Syria chiếm được cao nguyên Golan và đánh thẳng vào những khu vực đông dân cư Do Thái gần biên giới. Trên biển, Damascus cũng làm Tel Aviv bất ngờ bằng đội tàu phóng tên lửa Komar do Nga trang bị. Hải quân Syria tiến nhanh tới biển Galilee, uy hiếp các khu định cư miền bắc, gây nên một nỗi hoảng loạn mà dân chúng Israel không bao giờ quên được.

Giao tranh ở kênh đào ác liệt hơn cả. Sau khi lập được một đầu cầu ở Sinai, Ai Cập thả lính dù xuống bắc bán đảo định cắt đường tiếp tế của quân Do Thái. Cairo tuyên bố bắn rơi 27 máy bay Israel, mặc dù phải đổi bằng 15 chiếc tiêm kích. Ở mặt trận này, độc long tướng quân Dayan mất rất nhiều thiết giáp. Súng chống tăng Sagger do Liên Xô sản xuất tỏ ra lợi hại hơn so với nhận định của tình báo Do Thái. Các dàn tên lửa đất đối không SAM cũng gây khó dễ không ít cho không quân Israel.

Tối mồng 7/10, gió bắt đầu đổi chiều ở phía bắc. Quân Do Thái xốc lại đội hình và tổ chức phản công, đánh bật lực lượng Syria khỏi cao nguyên Golan. Những ngày sau đó, Israel tiến không ngừng tới sát Damascus, thủ đô nước láng giềng.

Xung đột ở biên giới phía nam kéo dài hơn. Phải tới giữa tháng 10, Tel Aviv mới giành lại được thế thượng phong. Lính của tướng Moshe Dayan đốt sạch thiết giáp của đối phương, vượt kênh, chặn đường tiếp tế của quân Ai Cập. Cairo bị dồn vào chân tường.

Liên Xô và Mỹ vội vàng can thiệp. Hai nước lớn lập cầu hàng không tiếp viện cho “gà nhà”. Matxcơva đe dọa sẽ gửi quân tới Trung Đông. Washington, muốn giữ thế hòa hoãn với khối XHCN, gây sức ép buộc Tel Aviv dừng tay. Hội đồng Bảo an LHQ ra nghị quyết 338 yêu cầu các bên lập tức ngừng xung đột. Ngày 22/10, chiến sự ở mặt trận bắc Israel chấm dứt. Đến 26/10, khu vực Sinai và kênh Suez cũng im tiếng súng.

Tổng kết lại, các nhà sử học cho rằng, Israel thua thiệt nhiều nhất trong cuộc xung đột 1973. Lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lập quốc, đất nước Do Thái thấy sự sống của mình mong manh đến thế. Sự tự tin của Tel Aviv không còn mạnh mẽ như trước. Người dân đổ lỗi cho ngành tình báo đã không kịp thời nhìn ra kế hoạch tấn công của Ai Cập và Syria. Nhưng giới phân tích nhận xét, lãnh đạo chóp bu cũng có phần trách nhiệm không nhỏ. Họ quá chủ quan khinh địch. Vì sai lầm đó, gần 2.700 quân nhân Do Thái đã ngã xuống. 3.000 người khác bị thương. Thiệt hại của Israel ước tính bằng một năm thu nhập quốc nội. Sau chiến tranh, nội bộ Tel Aviv bị xáo trộn nhiều.

Phe Ảrập thì được một dịp “khoe” sức mạnh. Ngoài Syria và Ai Cập trực tiếp tham chiến, một số nước như Iraq, Algeria, Ảrập Xêút, Kuwait cũng gửi quân tới. Ảrập Xêút và Kuwait trang trải hầu hết chi phí chiến tranh. Qua xung đột 1973, Ai Cập giành lại một phần bán đảo Sinai, giải quyết thế bế tắc trong nước và quốc tế. Còn Syria, trong những cuộc đàm phán sau đó, đòi được một góc cao nguyên Golan.

Liên Xô và Mỹ cũng có cơ hội chứng tỏ ảnh hưởng của mình trong vùng. Dưới sức ép của các cường quốc, Israel và Ai Cập cùng Syria phải ngồi vào bàn thương lượng và ký kết các hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau (thoả thuận lần lượt đạt được trong những năm 1974 và 1975). Sau chiến tranh, Ai Cập và Syria phụ thuộc nhiều hơn vào Liên Xô. Israel cũng nhận thêm viện trợ quân sự kinh tế từ Mỹ.

Có lẽ một trong những kết quả quan trọng nhất của chiến tranh 1973 là việc các nước Ảrập tìm ra một vũ khí mới để gây sức ép với phương Tây. Việc cấm vận dầu mỏ đối với các nước ủng hộ Israel kéo dài suốt từ tháng 10/1973 tới tháng 3/1974 đã khiến phe Mỹ gặp không ít khó khăn.

Tổng hợp từ vnexpress.net và  vi.wikipedia.org

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

SỬ KÝ HAY SỬ NGHỊ

Fb Giang Kiến Phương

Sử phải được ký, tức những sự kiện đã qua được ghi chép lại như nó đã là chứ không phải được soạn thảo trên bàn thương nghị như một giáo sư nào đó của Hà Nội đề nghị thương thuyết với phía China để thống nhất Sử Việt. Cùng là Sử, nhưng Sử ký khác hơn Sử nghị!

Tương tự vậy, nghệ thuật không thể được sản xuất theo đơn đặt hàng mà phải được sáng tác bằng tâm tư tình cảm, bằng cả tấm lòng của người nghệ sĩ. Khi đó, nghệ sĩ và tác phẩm hòa quyện vào nhau thành một, không còn phân biệt đâu là nghệ sĩ, đâu là tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong tác phẩm nghệ thuật luôn đâu đó phảng phất con tim và khối óc của người nghệ sĩ làm ra tác phẩm.
Còn lại, cái được sản xuất theo đơn đặt hàng tuy có thể mang màu sắc, dáng dấp giống như nghệ thuật. dễ khiến ta nhầm lẫn đó là nghệ thuật. Nhưng không chắc, thực chất có khi đó chỉ là những sản phẩm công nghiệp vô hồn, được sinh ra để phục vụ cho những nhu cầu nào đó rồi chết đi theo đúng quy trình, như người ta quăng cái ly giấy vào thùng rác sau khi uống nước vậy!

Ngoài "Dư âm" ra, nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Tý còn tác phẩm nghệ thuật nào để người đời trân trọng ghi sâu vào ký ức? Hay chỉ còn là những sản phẩm công nghiệp được sản xuất theo đơn đặt hàng, những quả trứng được gà đẻ ra sau khi gà được cho ăn lúa? Liệu những "Bài ca năm tấn", "Em đi làm tín dụng", "Dáng đứng Bến Tre"...có là những tác phẩm nghệ thuật?

Xin chú ý, cái giống nghệ thuật không chắc đã là nghệ thuật.

Cho nên, thôi, hãy để ông yên nghỉ và đừng tốn thời gian suy nghĩ tại sao ngoài "Dư âm" ra, người đời không còn nhớ đến "tác phẩm" nào nữa của ông. Bởi cùng là phẩm, nhưng tác phẩm khác hơn sản phẩm.

R.I.P ông, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý!

Giang Kiến Phương



Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

CHẾT THẾ CÓ OAN KHÔNG ?



Chủ tịch Hiệp hội những người chết oan đến tuổi hiu. Ông lo lắm, đợt này không tìm được chủ tịch mới thì lại phải làm thêm khóa nữa. Bốc điện thoại gọi cho thư ký của hội, chủ tịch hỏi, anh em chết oan năm nay có đứa nào mới nhể, chết xứng đáng thì bầu lên thay tao, chứ tao đéo làm nữa. Chết cũng không được nghỉ, suốt ngày họp hành nhọc bỏ mẹ ra.

Tổng Thư ký hội chết oan trình bày, năm nay khá đông anh ạ, nhưng cũng cứ nhàn nhạt như nhau, đúng là chết cũng chả có điểm nhấn.

Chủ tịch Hội gắt lên, thì phải xem kỹ, chú cái gì cũng chê. Hỏi xem thằng cu ruộm tóc xanh bị đâm xem nó như nào.

Thằng cu nhuộm tóc xanh hiện lên, mếu máo trình bày, cháu đang đi chơi, vừa nhuộm quả đầu xanh, bọn thanh niên nó đâm luôn. Nó bảo ngứa mắt.

Thư ký lại hỏi, thế mày không cãi được câu nào à, thằng cu tóc xanh nhăn nhó bảo, nó đâm óe phát, chết tươi. Giờ xuống đây trình bày với các bác chứ tính cháu không thích cãi nhau.

Chủ tịch hội bảo, thôi lui ra đi, đúng là ko có điểm nhấn gì cả.

Thư ký lại bảo, để em gọi cái thằng tranh hát karaoke bị đâm lên. Thằng cu bị đâm vì tranh hát karaoke vừa hiện lên vừa nghêu ngao. Tôi quen, tôi đã quen rồi em... Chủ tịch hội nghe nửa câu đã quát ầm ĩ, thôi cút, hát thế thì mày gặp tao cũng xác cmnd luôn.

Thư ký hãi quá chưa biết gọi ai thì chủ tịch lại thét, gọi thằng tỉu lượng kém bị giết, đái vạ bị đâm, đút tay túi quần bị xọc, bị đâm chết vì vật tay thua không đi mua rượu...Bị đá chết vì tranh cãi giới tính của con trâu trên lon nước ngọt... lên đây xem nào.

Thư ký nhăn nhó trình bày, anh ơi, bầu mấy đứa này lên chủ tịch hội, tuyệt đối không được. Còn bên Hội khác người ta nhìn vào chứ. Chúng nó toàn đứa trẻ, chưa có kinh nghiệm chết. Trình độ lý luận lại non.

Chủ tịch Hội thở dài, thôi, kiểu này lại phải cố thêm vài năm nữa chứ đúng là toàn đứa chết nhạt. Không đáng mặt đàn ông.

Thư ký bảo, vâng, thể loại chết vì vợ bơm ngực như anh ai mà qua mặt được.

Chủ tịch mơ màng, mẹ kiếp, đúng là phê thật chú ạ, cái túi silicon nó vỡ ra, mình tối nào cũng chụt choẹt, silicon ngấm dần, ngấm dần, tím tái đi, chết thế mới gọi là chết chứ.

( Copy lại trên trang fb Viet Hoang )

PS: ảnh tìm trên google, ko thấy nguồn



NHỚ TRƯƠNG QUANG THI



Có nhỏ em lấy chồng Việt kiều. Hồi đó chồng nó về Sài Gòn làm việc, hai đứa gặp nhau, cưới nhau rồi sanh ra con bé. Chưa một lần nó đặt chân lên xứ Mỹ nhưng con nó nghiễm nhiên là công dân của Mỹ và hưởng mọi trợ cấp như một công dân Mỹ.

Rồi hai đứa trục trặc dẫn đến ly hôn, con nó cũng chưa tới quê của nó bao giờ, nhưng mỗi tháng nó vẫn nhận hơn một ngàn tiền trợ cấp để ăn học đàng hoàng, mọi vấn đề mẹ nó liên lạc với cơ quan lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn.

Nhà máy mới có hai vợ chồng quê ở Cà Mau. Hai người lên Đồng Nai từ hồi trẻ, gặp rồi lấy nhau đẻ bầy con. Cả nhà không miếng giấy lận lưng. Hộ khẩu không, khai sanh không, kết hôn không, tạm trú không. Coi như cặp này tiên phong đi tắt đón đầu cuộc cách mạng 4.0 do đảng ta khởi “sướng”.

Không có giấy khai sanh thì đương nhiên không được đi học rồi. Thế là hai đứa trẻ lăn lê bò chồm để lớn lên, bất chấp dân tộc đang tiến mạnh về phía thiên đường xã nghĩa.
Lọ mọ chầu chực, năn nỉ ỉ ôi chẳng ai cho nó học vì quy định thế rồi.
Hôm kia mấy đứa công an đi kiểm tra hộ khẩu, qua làm việc mình nói với thằng trưởng công an xã:
Bằng mọi cách ông phải giúp tui cho nó đi học chớ như vầy túi thấy không cam tâm.
Nó ngồi suy nghĩ một hồi rồi móc điện thoại gọi cho cô hiệu trưởng.

Xong nó nói:
Ok! Giờ vầy. Tui xác nhận lụi cho cha mẹ nó tạm trú ở đây. Ông qua gặp cô hiệu trưởng cho nó tham gia học dự thính. Coi như đạt cái mục tiêu của ông là tụi nó biết đọc, biết viết, vậy thôi.

Tốt rồi! Cũng chẳng thể mong nó có bằng cấp để làm cái mẹ gì, tạm thời bằng lòng với những gì đang có. Thiên đường mà.

Hôm qua đi mua cho mấy bộ đồng phục, sáng nay kêu cha nó dắt đi. Cha nó nói chú dẫn đi đi chớ tui qua bển biết đường nào mà nói.
Đù má! Muốn chưởi thề ghê luôn.

Chở qua gặp cô hiệu trưởng, mọi thứ ok.
Cổ nói thôi thì các cô làm công tác giáo dục là chính chớ giờ biết sao. Nhận các cháu đã là sai quy định mất rồi. Sẽ xếp cho hai cháu học dự thính, tiếp thu kịp thì sang năm lên dự thính lớp hai, không thì lại tiếp tục dự thính lớp một thêm năm nữa.

Mình nói thôi thì trăm sự nhờ cô. Mấy đứa này xưa nay chẳng học hành gì, nó lớn lên trong như cây cỏ dại thành ra chắc chắn chẳng ngoan hiền như học trò của các cô đâu.

Cổ cười hiền. Cái xứ mình nhiều thứ ngộ quá phải hông anh? Quy định không phù hợp lẽ ra phải sửa, thế nhưng không. Chúng ta nhất định phải tự sửa mình cho phù hợp với các quy định của ngành, không có cách nào khác.

Mình được cái số hên. Đi đâu cũng gặp quý nhơn phù trợ. Gọi cho thằng công an kêu ra uống cafe, tui tạ ông cái zụ hai đứa nhỏ được đến trường. Nó kêu thôi! Ông làm gì làm đừng có để phiền tới tui là được.

May mà nó hông chơi Facebook.

TRƯƠNG QUANG THI


BÓNG ĐÁ VÀ CHÍNH TRỊ



Bỏ ra ngoài chuyện chính chị chính em gắn bóng đá với lòng yêu nước thì tôi trân trọng cả ông Đức, ông Park với tính cách là những người yêu bóng đá. Một môn thể thao thú vị và tuyệt vời. Nó có tác dụng gắn kết còn người lại với nhau dưới một màu cờ hay sắc áo.

Chính vì thế các chính chị gia thường hay tìm cách gắn bóng đá vào mục tiêu chính trị.

Có khi là định hướng : Nhiều người nói sự cuồng nhiệt với bóng đá thường xảy ra ở những đất nước nghèo khổ kém phát triển. Ok, điều đó rất đúng...Khi tôi còn nhỏ, đất nước chiến tranh, nghèo là chắc... Lũ nhỏ chúng tôi đâu có cine, hý trường, iPhone, iPad... Thì chỉ có lăn ra đồng, banh nhựa, hoặc bất cứ thứ gì tròn tròn đá được là vui. Hơn nửa thế kỷ qua, người nghèo có gì mà chơi... Cho nên người làm chính tri nào mà không lợi dụng bóng đá để tạo niềm vui cho người nghèo khổ, giúp họ quên đi những bất công, chèn ép trong đời. Trong thủ thuật này thì cộng sản là số một bởi vì bóng đá đâu phải là thú chơi dành riêng cho người giàu...

Trong lịch sử thế giới từng có chuyện vì thắng thua trong bóng đá mà phát động chiến tranh. Ai dám nói bóng đá chỉ là một môn thể thao lành mạnh đâu. Chuyện nhảy cầu, chém giết vì thua độ còn sờ sờ ra trước mắt xá gì ba cái đứa cởi truồng nhảy nhót hay phóng xe bạt mạng với danh nghĩa đi bão. Tôi tuy không tham gia nhưng rất nhiều lần chứng kiến, chụp ảnh quay phim ghi nhận lại. Riết rồi cũng thấy nhàm, thấy quen đến độ chẳng còn sức đâu mà buồn giận. Có lần ở Bảo Lộc thấy anh cảnh sát đứng chơ vơ giữa một rừng xe đi bão. Thậm chí có cả băng nhóm đứng quanh anh để chụp hình lưu niệm. Trời ạ, dám mà phản ứng...Lỡ có gì thì ai nuôi vợ con... Tôi lại thấy thương hại anh ta.

Bóng đá, ca hát, nghệ thuật đều phải có tự do mới có những sáng tạo, những tác phẩm để đời. Nếu bóng đá, ca hát chỉ lồng trong khuôn khổ, chỉ lĩnh đồng lương cố định thì ai đâu mà cố sức mà liều lĩnh. Bắc hàn và trung quốc vẫn dành cả đống huy chương nhờ vào chuyện khổ luyện và hy sinh sức người. Họ đã thành công tring việc biến các vận động viên thành những cỗ máy. Mà những cỗ máy đó đạo đức là sáng ngời luôn. Chỉ có hy sinh vì chính nghĩa.. Thậm chí ngay cả khi lĩnh huy chương, họ vẫn ôm khư khư ảnh của lãnh tụ và khóc tức tửi, ai oán khi nghĩ rằng nhờ có lãnh tụ mà họ mới có huy chương. Họ thật lòng đấy không giả tạo đâu. Đây chính là sự độc đáo của cộng sản mà thế giới phương tây đến bây giờ không hiểu được. Cũng như họ không tài nào hiểu được vì sao có những chiến binh iss liều chết ôm bom cảm tử chỉ vì lời hứa nếu chết họ sẽ được lên thiên đàng, được cưới một hơi cả chục con vợ đẹp.

Giữa hai thế giới, hai thể loại con người đó bạn sẽ chọn thể loại nào ?

Có người từng hỏi tôi ở phương tây họ có ăn mừng, nhảy nhót, nhậu nhẹt, đua xe và cởi truồng sa đọa như ở VN không ? Tôi nhớ là có hết chỉ là đua xe đi bão thì hình như không vì xứ người ta đâu có xe gắn máy như ở VN còn lái xe hơi phóng ra đường gây đại họa thì...tù rục xương... Do cơ chế và hoàn cảnh xã hội thôi..

Tôi không đi bão, không ra phố tham gia với mọi người, không cá độ...vvv nhưng dù ở nhà tôi vẫn thấy phấn khích. Tôi cũng la hét, nhảy tưng tưng mỗi khi cầu thủ VN đá tung lưới đội bạn... Đó chính là niềm vui, là sức mạnh của bộ môn bóng đá đem lại cho mỗi người chúng ta.

Tôi ủng hộ bóng đá và những hệ lụy mà nó mang đến. Như vậy không biết tôi có bị xếp vào hàng ngũ những người ba phải hay không ?

TRẦN PHONG VŨ
11/12/2019


TRUYỆN KIỀU VÀ TIẾNG VIỆT



Cách đây ít lâu, một người bạn có nhắc với tôi câu nói của Phạm Quỳnh : Truyện Kiều còn thì Tiếng Việt ta còn...Cứ như đó là một chân lý sáng ngời vậy. Và tôi đoán là con bọ già ND Xuân cũng tin và viện dẫn điều này khi đả phá chữ quốc ngữ vậy...

Tiếng Việt có lịch sử từ mấy ngàn năm nay từ khi khai sinh ra dân tộc VN. Chính tiếng Việt đã giúp phân biệt người Việt trong cộng đồng đa dân tộc của thế giới. Nghe tiếng nói là người ta nhận ra bạn so với những người tàu, người hàn, người nhật, người thái.... Chính tiếng Việt và dân tộc Việt mới khai sinh ra mấy ông nhân tài cỡ Nguyễn Du, Phạm Quỳnh... và các tác phẩm để đời. Từ khi nào mà chúng ta bị mấy ông chính trị gia lừa phỉnh bằng những luân điệu như vậy.

Nguyễn Du là một đại thi hào, truyện Kiều của ông ấy gắn với văn hóa Việt Nam, thấm vào trong máu người Việt đến độ mẹ tôi một người phụ nữ ít học mà lúc trẻ vẫn ru con à ơi bằng mấy câu thơ Kiều. Nhưng không thể gán ghép một cách vớ vẫn là mất Kiều là mất dân tộc được. Đó là chính trị...

Cũng giống như chuyện mấy anh cổ động viên bóng đá vào sân bóng mà còn ôm theo ảnh ông Hồ, ông Giáp vậy... Đó là thứ niềm tin ngu xuẩn. Đá banh, thắng hay thua đều do trình độ, kỹ thuật tay nghề của cầu thủ và huấn luyện viên..Xa hơn nửa là điều kiện sân bãi, thời tiết và ức chế tâm lý trước sự cổ động của khán giả. Làm gì có ông nào phò hộ ông nào ??

Tất cả chỉ là chuyện chính trị, tuyên truyền để lôi kéo quần chúng vì mục đích chính trị

Bên cạnh tình cảm yêu thích bóng đá, yêu thích văn chương, hội họa thi ca thật sự thì mọi sự cổ vũ, ngợi ca và phê phán đều có liên quan đến chính trị và tuyên truyền

Bài viết này cũng không nằm trong ngoại lệ..
Bạn có tin không ?

TRẦN PHONG VŨ
11/12/2019




Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

SỰ NHẦM LẪN CỦA THẦY MẠNH



Thầy Mạnh này không phải là thầy Mạnh tử. Thầy Mạnh tử mà có nhầm lẫn hay sơ suất điều gì thì hơn hai ngàn năm nay thiên hạ đã mổ xẻ… góp ý hết rồi, không tới lượt tôi “hô hoán. ” Đây là thầy Nguyễn Đăng Mạnh, “nguyên giáo sư đại học”, tác giả cuốn Hồi ký mà nghe nói ông chỉ viết riêng cho mình đọc thôi, chớ không định in hay phổ biến (người ta có nhầm không? Viết riêng cho mình thì thầy viết Nhật ký chớ, sao lại là Hồi ký? ). Nhưng không hiểu sao có kẻ nào tung nó lên mạng Internet khiến thầy Mạnh gặp rầy rà chút chút (dường như là với đồng nghiệp cũ của thầy và một số vị “nguyên” lãnh đạo).

Tôi có một bản pdf cuốn hồi ký này do một người bạn có hảo ý chuyển cho, nhưng tôi bận “chuyện sinh nhai” chưa có dịp đọc cuốn sách cho đến đầu đến đũa mà chỉ đọc “nhảy cóc” theo lối hú họa. Và tôi bắt gặp một vài đoạn như thế này:

(Tất cả các phần và chữ in nghiêng trong bài viết này là nguyên văn trong cuốn hồi ký của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, những chữ in nghiêng đậm là do người viết bài này nhấn mạnh)

(Bắt đầu trích):
“Vào khoảng 1997, 1998 gì đó, Nguyễn Hưng Quốc về nước có đến thăm tôi. Anh vốn là học sinh ở Sài Gòn dưới thời Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30-4- 1975, anh ở lại thành phố và học văn ở Đại học sư phạm Sài Gòn. Tốt nghiệp, anh được giữ lại làm cán bộ giảng dạy. ít lâu sau, anh vượt biên sang Pháp rồi sang Úc và hiện đang làm việc ở đấy.

Anh nói, sở dĩ anh vượt biên không phải vì sợ khổ mà cảm thấy tương lai mù mịt. Anh kể tôi nghe một chuyện thật tội nghiệp.
Hồi ấy còn chế độ bao cấp, mọi thứ thực phẩm đều được phân phối theo tem phiếu, mà tiêu chuẩn thì rất hạn chế. Tuy nhiên do sự tháo vát của công đoàn, thỉnh thoảng anh em cũng được mua thêm ít thịt, ít cá ngoài tiêu chuẩn.

Anh nhớ hôm ấy công đoàn kiếm đâu được một mớ thịt đem về chia đều cho mỗi người một suất. Tất nhiên dù chia cẩn thận đến thế nào vẫn không thể đều nhau tuyệt đối được. Trong khi chia thịt, mọi người đứng vây xung quanh. Không ai bảo ai nhưng người nào cũng chăm chăm quan sát các suất thịt xem miếng nào ngon hơn, miếng nào nhỉnh hơn.

Chia xong, bắt đầu nhận phần. ưu tiên nhận trước phải dành cho bậc cao niên nhất trong khoa, ấy là thầy Viễn - Lê Trí Viễn. Do đã nhằm sẵn, nhằm kỹ trước rồi nên được lệnh, thầy chộp ngay lấy một miếng ngon nhất và có phần nhỉnh hơn các miếng khác một chút.

“Ôi! - Nguyễn Hưng Quốc nói tiếp - em phấn đấu đến bao giờ mới thành giáo sư Viễn để được chộp lấy miếng thịt kia! Phải vượt biên thôi! Vượt biên thôi! ”
Tình cảnh cán bộ, trí thức hồi ấy, giờ nghĩ lại, muốn rớt nước mắt.
Hoàng Ngọc Hiến, sau 1975, có vào Sài Gòn, đến thăm một người họ hàng. Anh nói, khi trở về Bắc, chỉ mong người ta tặng cho mấy thứ đồ điện như tivi, tủ lạnh hay quạt máy. Nhưng do kính trọng ông giáo sư Bắc Hà quá, người ta lại chỉ gửi ra toàn đồ mỹ phẩm đắt tiền để tặng bà giáo.

Anh Lê Quang Long vào Huế cũng gặp phải một trường hợp được kính trọng một cách tai hại như thế. Năm 1977, tôi và anh được mời vào dạy cho Đại học sư phạm Huế - gọi là thỉnh giảng.

Trường cao đẳng sư phạm ở gần kề trường đại học mời anh sang nói chuyện. Họ đón tiếp rất long trọng: tặng hoa, và giới thiệu giáo sư bằng những lời lẽ rất to tát, sang trọng. Nhưng chẳng thấy đưa phong bì gì cả. Đợi mãi mấy hôm cũng không thấy gì. Té ra ở trường này có một anh bạn cũ của Lê Quang Long dạy học ở đấy từ trước 1975. Người bạn này một hôm đến gặp anh Long và nói: “Bọn giám hiệu Cao đẳng nó ngu quá! Nó định đưa tiền cho anh đấy. Tôi vội gạt đi: “Đừng làm thế, bất lịch sự! Ông ấy là giáo sư đấy! ” Lê Quang Long nói với tôi: “Mình chỉ mong nó khinh mình, chứ kính trọng thế thì tai hại quá! ”
….

Hồi giải phóng Thủ đô, ta đã đốt sách đốt vở rất nhiều. Sách vở dưới chính quyền nguỵ đều bị coi là văn hóa nô dịch, phải phát động thanh niên, học sinh tập trung lại, đốt hết. Tưởng việc làm quá khích và dại dột ấy không lặp lại một lần nữa, khi giải phóng Sài Gòn. Té ra vẫn thế. Vẫn tập trung và đốt. Tôi đã được chứng kiến những kho sách tịch thu được gom lại ở sở Văn hoá Sài Gòn. Nhiều sách báo rất quý lẽ ra đưa vào thư viện để nghiên cứu đã bị quăng hàng đống dưới đất, chắc rồi sẽ bị huỷ hoại hết. Nghe nói nhiều người dân Sài Gòn sợ liên luỵ, ban đêm đã phải lén lút đem sách vở của thư viện gia đình vất đi. Một hiện tượng thật vô văn hoá, phản tri thức.


Trở lại với chuyến đi Sài Gòn của tôi cuối năm 1975.
Về đời sống vật chất, trong tương quan với Hà Nội lúc bấy giờ, Sài Gòn thật là giầu có, phồn vinh. Hàng hoá đầy ắp các cửa hiệu, tràn cả ra hè phố, cả lòng đường. Toàn những thứ miền Bắc rất khan hiếm, đặc biệt là quần áo, vải vóc và đồ dân dụng. Xe máy rất nhiều, trong khi miền Bắc xe đạp cũng không dễ có.
Vào Sài Gòn ngay sau 1975, người miền Bắc quả đã bị choáng ngợp. Nếu có chê thì chê theo một định kiến cũ kỹ về mặt đạo đức. Thí dụ, đàn bà con gái mặc áo dài không có áo lót, hở ra bên hông (Ông Vũ Thuần Nho gọi là triangle sexuel.) Nhiều cô mặc áo như cái maillot, có cô mặc quần soóc đi ngoài đường… vv… Giờ thì những cách ăn mặc như thế rất phổ biến ở ngoài Bắc.

Tôi ở Sài Gòn với bà chị ít lâu rồi trở lại Hà Nội, xin được bà chị cái tivi nhỏ xíu 9 inch, và mua được một ít quần áo và đồ gia dụng lặt vặt.

Dọc đường trở ra Hà Nội, thấy một hình ảnh rất phổ biến và cũng rất tiêu biểu của những cán bộ, bộ đội được nghỉ phép trở về Bắc: người nào cũng khuân theo một khung xe đạp và một con búp bê nhựa. Lính thì đi bộ, gánh một đầu cái khung xe, một đầu con búp bê. Khung xe cho bố mẹ, búp bê là quà cho con. Sĩ quan thì đi xe ô tô. Đến các bến phà thì lính cũng như quan dừng cả lại để chờ phà sang sông. Lính nhòm vào xe quan, thấy không phải khung xe đạp, mà ti vi, tủ lạnh, quạt điện…

Hồi ấy có câu: “Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”. Một cách chơi chữ thật thần tình.

Sau chuyến đi này, tôi còn có nhiều dịp vào Sài Gòn và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long. Nhìn chung người nông dân miền Nam ăn ở rất luộm thuộm, tuỳ tiện. Nhà nếu không lợp tôn thì lợp lá. Mái rất mỏng, vách cũng ghép bằng lá. Nền đất lụp sụp, tối tăm, ẩm thấp. Chung quanh cỏ mọc um tùm. Nhà vệ sinh làm ngay cạnh đường đi quay lưng ra những kênh rạch. Không kín đáo gì cả. Người ngồi hở mặt nhìn ra đường. Ngay ở Sài Gòn cũng vậy. ở những xóm nghèo, thấy nhiều nhà chỉ ghép bằng những mảnh gỗ thùng, đóng đinh. Chỗ đi tiểu có khi đặt ngay giữa nhà. Đồ đạc bên trong thì đủ cả ti vi, tủ lạnh, xe máy, nhưng nhà cửa thì cứ tạm bợ vậy. Những con kênh chảy qua thành phố thì hôi thối. Bờ kênh chen chúc những túp lều dựng ngay trên những đống rác, chuột bọ chạy lung tung. Cầu tiêu bắc ngay ra giữa kênh, đàn bà đi tiêu giữa ban ngày, chỉ lấy cái nón che…
Quan sát cảnh vật và sinh hoạt của con người từ Bắc vào Nam, tôi nảy ra ý khái quát này: từ Bắc vào Nam là đi từ miền đất nghèo đến nơi giầu có, từ chỗ hàng năm hễ gặp hạn hán hay lụt lội là đói khát, đến nơi dường như sờ đâu cũng có cái ăn, cây trái, tôm cá ê hề, muốn chết đói cũng khó.

Nhưng mặt khác, đi từ Bắc vào Nam là đi từ nơi văn hoá cao đến nơi văn hoá thấp. ”
(Hết trích)

Đọc đến đây tôi bèn chột dạ: Khẩu khí của một giáo sư đại học ở “nơi văn hóa cao “có khác. Đó là khẩu khí của một bậc đại trí thức ở đất kinh kỳ ngàn năm văn vật nhìn về miền đất tuổi đời non nớt mới ba trăm năm, một cách bao dung và rộng lượng, như một hoàng đế ở trung nguyên nhìn ra man di bốn cõi. Phục quá.

Tôi nghĩ mình nên “tranh thủ” đọc cuốn Hồi ký của thầy Mạnh cho có “hệ thống, ” như một cách ngưỡng mộ một vị sĩ phu Bắc Hà mà vì lý do nào đó đã có “nhiều dịp” “đi từ nơi văn hóa cao đến nơi văn hóa thấp. ” Tuy vậy, cũng do “cơm áo không đùa với” … người đọc hồi ký thiên hạ, tôi lại đọc nhảy cóc vào Chương V: “Những bước thăng trầm của công cuộc đổi mới và những vụ “đánh đấm” “qui kết, chụp mũ” của cánh bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa” để xem trong hành trạng của một bậc sĩ phu có khẩu khí lỗi lạc như thế kia đã xảy ra những chuyện gì không hay cho thầy.

Mà quả thật là không hay, trong mấy mươi năm làm cái nghề cao quí là giảng dạy ở đại học và viết sách phê bình văn học, thầy Mạnh phải vất vả chống chọi lại những trận đấu đá khốc liệt, có lần suýt tí nữa thầy không được phong hàm phó giáo sư. Là một bậc trí thức danh vọng, nên mỗi điều thầy Mạnh nói đều rõ ràng chính xác với tên người, chức vụ, học hàm, học vị, và thời gian xảy ra sự việc… Tất cả đều trong giới trí thức của thầy – dĩ nhiên bao gồm nhiều giáo sư đại học và nhiều nhà văn hóa văn nghệ lớn nhỏ - mà dù muốn dù không phải được coi là giới tiêu biểu cho đỉnh cao trí tuệ ở nơi văn hóa cao của đất nước.
Tôi thực sự ngỡ ngàng đọc thấy trong cuốn hồi ký thầy Mạnh kể ra trong số đỉnh cao văn hóa đó có hàng lô hàng lốc những “y” những “hắn” những “thằng” những “bọn” “vừa ngu vừa đểu”, những “thằng đểu, ” “thợ đánh, ” chuyên “đánh dẹp, ” “đánh đấm”, những “tiểu nhân” “có biệt tài dối trá, xỏ xiên, bịa đặt, nguỵ biện… giảo hoạt”, những “đầu gấu nổi tiếng phản bội (phản chúa, phản đảng, phản vợ, phản bạn, phản chủ, “phản thơ”, “phản phê bình, ” ) những “loại người bỉ ổi, ” “vô lại, ” trở cờ” “trở mặt, ” những “Xuân tóc đỏ” “bệnh hoạn” “phản bội” “bất chấp đạo lý làm người” chuyên “đánh hơi” “xuyên tạc, qui chụp có vẻ tinh vi hơn, nghĩa là xảo quyệt hơn. ” Và còn nhiều nữa những kẻ mà thầy Mạnh gọi là “trí thức, ” “lương tâm tắt ngấm” bị “cuốn vào con đường danh lợi” và suy nghĩ “những điều nông cạn, hời hợt. ” Nhiều kẻ trong số đó “vẫn bắt tay tôi – tức Thầy Mạnh - và trò chuyện rất thân mật” mỗi khi thầy Mạnh và họ có dịp tiếp xúc với nhau để thảo luận các vấn đề trí thức quan trọng.

Ngoài ra còn có “Những ông to đầu” mà “Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn, lại dựa theo ý kiến một tên vô lại. ” “… lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn. ” vân vân.

Những chuyện kể của thầy Mạnh có lẽ không hoàn toàn giống cách “cầm đuốc mà rê… cát bụi chân ai” như nhà văn Tô Hoài.
Hóa ra ở “nơi văn hóa cao” đó, thầy Mạnh buộc phải sống trong một môi trường mà chính thầy cũng nói “con người mà bị khinh bỉ mãi thì tự nhiên cũng thấy mình nhỏ bé lại, cũng hèn… ” Có người “chỉ mong nó khinh mình” nữa cơ. Tội cho thầy!.

Ngạn ngữ Tây có câu "Dis moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es. " Nhưng nhất định thầy Mạnh là một loại sen trong đầm (không phải trong bùn vì một nơi văn hóa cao không thể nói là có bùn được. ) Giá như thầy Mạnh là… Thầy Mạnh, ắt thầy đã được mẫu thân dời nhà đi tới chỗ khác sống từ khi thầy còn nhỏ; biết đâu nhờ vậy mà thầy không phải nhìn thấy các vị đồng nghiệp trí thức khả kính của thầy vội vàng chộp ngay lấy miếng thịt sau khi đã nhìn “chăm chăm quan sát các suất thịt xem miếng nào ngon hơn, miếng nào nhỉnh hơn,” hoặc các vị đường đường trịnh trọng chỉ mong người ta tặng cho vài món vật dụng hay đưa phong bì, hoặc chỉ mong nó khinh mình, mà khi được kính trọng thì thật tai hại. Nhất là thầy sẽ không có dịp chứng kiến cái điều quá khích và dại dột mà thầy cho là Một hiện tượng thật vô văn hoá, phản tri thức.

Trong giới trí thức của thầy Mạnh có rất nhiều vị tiến sĩ và phó tiến sĩ, nhưng dường như đạt được những học vị này không cần phải tốn nhiều công đèn sách cho lắm hay sao mà, đến nỗi, “Ông Hoàng Ngọc Hiến nói, dắt con bò sang Liên Xô nó cũng đỗ phó tiến sĩ kia mà! ” Rất may, dường như thầy Mạnh không có học vị tiến sĩ. Tuy vậy, thầy Mạnh được phong giáo sư đại học.

“Tiêu chuẩn phong phó giáo sư, giáo sư” không phải chỉ căn cứ vào “thành tích” và thâm niên sống lâu lên lão, mà chủ yếu là không có vấn đề về chính trị, “phải thông qua đảng uỷ của cơ quan công tác về tư tưởng, ” và được lòng lãnh đạo. Có lần thầy đã suýt không được phong học hàm phó giáo sư, không phải vì thầy dạy học dở mà chỉ vì có kẻ “đâm thọc, ” “tiếng đồn về bài viết của thầy đã vang đến đảng uỷ trường đại học Sư phạm và đảng bộ khoa văn” nơi thầy Mạnh có biên chế, đến nỗi thầy Mạnh phải hốt hoảng chạy vạy một phen giãi bày vất vả. Hú hồn.
Nhưng lẽ nào đối với một vị giáo sư, một bậc trí thức khả kính như Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, những biểu hiện như trên kia trong bộ phận ưu tú của thượng tầng kiến trúc của xã hội lại phản ánh tinh thần “văn hóa cao” của phần đất nước mà từ đó thầy vừa bước lên xe làm chuyến Nam du trong giai đoạn “Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng” (chữ trong hồi ký của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh) ? Nhất là trong đó nhiều lần xảy ra cái “hiện tượng” mà chính thầy cho là “vô văn hóa, phản tri thức. ”

Trên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn, ngay khi còn ở bờ bắc nhìn sang bờ nam sông Bến Hải, điều đầu tiên thầy Mạnh thấy được là “Ở đâu con tố cha vợ tố chồng? ” và thầy hăm hở “thấy mình có cái say sưa hào hứng như là đại diện cho một dân tộc chiến thắng đang tiến quân vào Sài Gòn.” Trong tinh thần say sưa như thế, thầy không trông thấy gì nữa ngoài “người nông dân miền Nam ăn ở rất luộm thuộm, tuỳ tiện. Nhà nếu không lợp tôn thì lợp lá. Mái rất mỏng, vách cũng ghép bằng lá. Nền đất lụp sụp, tối tăm, ẩm thấp. Chung quanh cỏ mọc um tùm… ” “Đồ đạc bên trong thì đủ cả ti vi, tủ lạnh, xe máy, nhưng nhà cửa thì cứ tạm bợ vậy. Những con kênh chảy qua thành phố thì hôi thối. Bờ kênh chen chúc những túp lều dựng ngay trên những đống rác, chuột bọ chạy lung tung… ” Và, với khả năng “khái quát hóa” cao của một nhà trí thức lớn, thầy Mạnh bèn “khái quát” ngay đó là miền Nam “văn hóa thấp” của Mỹ ngụy tương phản với cả một xã hội “văn hóa cao” mà trong đó thầy đã từng tả xung hữu đột để ngoi lên và sống sót (Sống là chiến đấu mà!) Dù sao thầy Mạnh cũng không thấy ai ở miền Nam ăn cơm bằng gáo dừa, và đi dép mo cau. Chỉ có điều có người dại dột nói cho thầy Mạnh biết nhược điểm của người miền Nam văn hóa thấp là họ không khinh bỉ các bậc trí thức – dù là trí thức Bắc Hà – mà trái lại quá coi trọng các vị ấy đến nỗi họ có quan niệm “tai hại” đưa phong bì cho giáo sư là “ngu” là “bất lịch sự. ” Cho nên “Nếu có chê thì thầy Mạnh chỉ chê theo một định kiến cũ kỹ về mặt đạo đức” mà thôi. Đạo đức? Có lẽ theo đạo đức xã hội chủ nghĩa. Chắc vậy.

Người ta nói ban đêm con cú có thể trông thấy một con chuột nhỏ từ cách xa hai cây số, nhưng ban ngày nó không thể trông thấy núi Thái Sơn ngay trước mắt. Thầy Mạnh không phải là con chim cú nên không thể nói ban ngày thầy Mạnh không thấy gì; thầy cũng không như Trần Dần, “không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. ” Thầy Mạnh không vào Sài Gòn và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và miền Nam nói chung, bằng máy bay E Lai – hồi đó chưa có – Thầy cũng không đi ban đêm mà, tuy thầy Mạnh không nói nhưng người đọc biết là thầy đi ban ngày, và thầy có “nhiều dịp” ở lại đó ban ngày. Không kể từ giới tuyến 17 trở ra, từ Trị - Thiên trở vào thầy Mạnh phải đi qua các tỉnh Nam – Ngãi – Bình – Phú rồi Khánh – Ninh – Bình dọc duyên hải miền Nam, rồi đến Long Khánh, Biên Hòa trước khi vào đến thành phố Sài Gòn. “Vào Sài Gòn ngay sau 1975, người miền Bắc quả đã bị choáng ngợp, ” nhưng riêng với thầy Mạnh, thầy không thấy gì cả. Thầy “không thấy phố, không thấy nhà.” Đáng tiếc, thầy Mạnh đứng trên bờ kênh (Nhiêu Lộc chăng? ) thấy một “nơi văn hóa thấp,” không đáng so với một nửa nước “văn hóa cao” có “Những ông to đầu” mà “Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn, lại dựa theo ý kiến một tên vô lại.” “… lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn,” và ở đó người ta “thà bị khinh bỉ hơn là được kính trọng” mà “chẳng thấy đưa phong bì gì cả.”

Cuốn Hồi ký của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có lẽ đáng đọc vì ít ra– theo bảng Mục lục – tác giả đề cập nhiều nhân vật nổi tiếng trong giới giáo sư đại học, các nhà văn hóa và văn nghệ sĩ miền Bắc, thành phần trí thức ưu tú của mỗi quốc gia, chắc là cung cấp được nhiều tư liệu sống động, và nóng hổi có tính văn hóa cao, ngoài “những kẻ xỏ xiên, đểu giả, phản trắc vẫn còn không ít trong xã hội ta hôm nay.” Tôi chỉ mới đọc được có chừng đó. Rồi thôi, không đọc nữa.

Dường như hoặc là Khổng Tử (? ) nói sai, hoặc Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có sự nhầm lẫn. Khổng Tử nói (? ) “Tứ thập nhi bất hoặc. ” Đến tuổi bốn mươi người ta không còn nhầm lẫn nữa. Thầy Mạnh nay đã cách xa cái tuổi cổ lai hy.

Thiếu Khanh

(http://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Tron…/…/bm%2011-5-30.htm)

Đọc lại để suy ngẫm (VŨ)

Photo by Nguyễn Tuấn Anh