Thứ Hai, 11 tháng 2, 2019

Người già Trung Quốc di cư

Thì ra nước ngoài là như thế này

Chia sẻ từ fb Tran Hoang Dung

Gần đây, một người Trung Quốc di cư đến Canada đăng tải một bài viết trên mạng internet đã thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng.

Bài viết nói về những phiền não mà các cụ già mang đến cho con cháu khi từ Trung Quốc di cư ra nước ngoài. Có một đoạn được chia sẻ rộng rãi rằng: Không phải là các cụ già “xấu đi” mà là “người xấu” già đi.
Bài viết dưới đây sẽ kể với bạn về các cụ già Trung Quốc có thể ‘tung hoành ngang dọc’ khi ở trong nước, nhưng phải ngây ra khi ở nước ngoài và “học được bài học sâu sắc”.
(Ảnh minh họa)
1. Khoảng 10 năm trước, tôi còn đang học đại học tại thủ đô Ottawa của Canada, ở đây chỉ có vài nghìn người Hoa, có một chị khóa trên người Trung Quốc rất nổi tiếng. Có rất nhiều bạn học ở đây hễ nhắc đến đều biết chị “Goose Li” này, tuy nhiên lại không phải là tiếng tốt gì.
Được biết có một ngày chị ấy đi học, có hai cảnh sát tìm đến nói chuyện với giáo sư vài câu, rồi “mời” chị ấy ra ngoài. Phòng học lập tức trở nên ồn ào, chị ấy cũng sợ hết hồn, khi mới đến nên không giỏi tiếng Anh lắm, đành phải nhờ một bạn học người Đài Loan dịch hộ mới biết được, thì ra là bố của chị ấy sang thăm, ông ấy bắt một con ngỗng ở công viên hồ Ottawa mang về nhà làm ngỗng quay và bị người ta báo cảnh sát. Cảnh sát đến điều tra thì đúng lúc bắt gặp tại trận ông đang xắn tay áo vặt lông ngỗng đang nóng.
Ông ấy một là không biết tiếng, hai là không nhận lỗi, ba là kiên quyết rằng không để “quỷ Tây ức hiếp người Trung Quốc”, ông hùng hồn nói “con gái muốn ăn ngỗng quay, tôi không trộm không cướp thì làm sao đây?!” Ông kiên quyết không phối hợp, ép cảnh sát đến mức phải rút súng ra, trực tiếp áp chế đưa về sở cảnh sát.
Chị khóa trên tội nghiệp là người bảo lãnh của bố, tất nhiên sẽ bị mời đến. Chị ấy từ nhỏ học hành chăm chỉ, lần đầu tiên bị cảnh sát đưa đến sở, trên đường đi chị ấy không ngừng khóc và lặp đi lặp lại rằng, “Tôi chưa từng nói với bố là mình muốn ăn ngỗng.”
Kết quả xử lý cuối cùng là phạt 786 đô la, là người bảo lãnh nên chị ấy bị lưu lại điểm xấu trong hồ sơ. Được biết cho đến khi về nhà, người bố không biết lỗi của chị ấy vẫn còn lớn tiếng quát “cũng đâu phải ngỗng nhà nuôi! Ở quê tôi mấy con ngỗng hoang đó ai bắt được thì là của người đó, là do mấy tên quỷ tây các người không ưa người Trung Quốc chúng tôi!”

2. Nói thật thì tôi rất thương chị khóa trên ấy, không phải là “con dữ” mà là có “bố dữ”. Thói quen nề nếp hoàn toàn không cản được sự tùy ý của bố chị ấy. Sống ở Canada càng lâu, dần dần phát hiện ra những người con gánh họa thay cho “bố dữ” chẳng phải chỉ có một hai người.
Đặc biệt là khi chuyển đến Vancouver, tôi đã tiếp xúc với nhiều người mới di cư từ Trung Quốc hơn, quả thật là được mở rộng tầm mắt. Những cụ này mà “dữ” lên thì còn mạnh hơn trẻ nhỏ nhiều!
Ví dụ như, có một khách hàng đưa bố mẹ đến ở một tháng. Các cụ nấu ăn, nghĩ là chỉ ra ngoài vài phút thôi nên không tắt lửa dẫn đến khói khởi động máy báo cháy gọi cảnh sát, cứu hỏa đến, khiến người dân mấy tầng lầu phải di tản. Chẳng những hai cái cửa trong nhà bị đội cứu hỏa phá, mà còn phải trả 1.000 đô la phí cho cảnh sát.
Theo lý thì việc này cũng xem như là một bài học. Ai ngờ các cụ “mạnh mẽ” quá nên không biết hối cải, mà ngược lại còn tự cho là mình thông minh, dùng túi ni lông bọc hết các máy báo cháy lại, cho đến khi khói trong nhà họ làm máy báo cháy của nhà khác báo động thì cảnh sát mới biết tình trạng này, họ lập tức phạt 500 đô, đồng thời bảo hiểm nhà của họ tăng lên gấp đôi liên tục 3 năm.


3.Lấy một ví dụ khác, năm ngoái trên diễn đàn của Vancouver có bàn luận sôi nổi về một sự cố. Trên đường cao tốc 60 km/h, có một cụ già người Trung Quốc dắt cháu đi qua đường, may mà người lái xe tránh kịp nên chỉ bị đụng nhẹ.


Người lái xe lập tức xuống xe báo cảnh sát và đến hỏi thăm hai bà cháu, không ngờ bà cụ vừa thấy thế thì kéo cháu ngồi vật ra đất kêu đau chỗ này chỗ nọ khiến người kia bối rối gọi xe cấp cứu.


Khi cảnh sát đến nơi biết được tình hình và kiểm tra đoạn phim ghi lại trong xe, họ thông qua phiên dịch để nói với bà cụ rằng người chịu trách nhiệm chính là bà và phí chữa trị là do bà tự chi trả.


Bà cụ lập tức gào khóc, la hét với người qua đời “Mau đến xem người ta ức hiếp người già trẻ nhỏ người Trung Quốc này!”
Cảnh sát thì nghĩ rằng có thể bà bị sợ hãi nên dẫn đến mất kiểm soát về cảm xúc, họ lập tức tách hai bà cháu ra và đưa bà đến bệnh viện. Đến khi các con đến bệnh viện thì đợi họ là tờ hóa đơn viện phí hàng trăm đô la.

Ngoài ra, ở Greater Vancouver thường xuyên xảy ra tai nạn xe cộ do các người cao tuổi Trung Quốc. Những ai chưa từng đến sẽ không tưởng tượng nổi, các cụ này không được nhanh nhạy, nhưng xe thì lại lái rất nhanh, xe càng sang thì càng tùy ý chạy. Số lần và mức độ nghiêm trọng của các vụ tai nạn do các cụ gây ra không hề kém cạnh so với siêu xe của các đại gia.

Vào tháng 1/2016, trên đường quốc lộ No.3 ở Richmond, một chiếc xe Toyota màu bạc tông vào tiệm cà phê của một người Hoa, nhân chứng cho biết người lái xe là một phụ nữ 78 tuổi.
Đương nhiên, những người con hiếu thảo kiếm tiền rất dễ cảm thấy bố mẹ mình vất vả cả đời rồi, phạt thì phạt, chỉ cần bố mẹ không sao là được, cứ xem như là đóng chút học phí cho họ, tiêu chút tiền để thể hiện lòng hiếu thảo thôi mà.
Vì vậy, những nơi nào càng có nhiều người Trung Quốc di cư thì khiến người bản xứ cảm thấy càng có nhiều chuyện kỳ dị.

4. Người dân Vancouver bàn luận trên Twitter về những tin tức kỳ lạ ở Richmond, họ nói họ nhìn thấy những người Trung Quốc lớn tuổi lái nào là BMW, Lexus và thậm chí là Porsche đi lục lọi khắp các thùng rác để nhặt vỏ chai, có khi còn đánh nhau giành địa bàn nữa. Số tiền nhặt rác này còn không đủ trả tiền xăng nữa! Các con của họ nghĩ gì vậy chứ, cũng không khuyên bố mẹ một câu?!
Vào ngày 27/6/2017, một bà Trung Quốc 80 tuổi ném 9 đồng xu về phía động cơ máy bay để cầu bình an dẫn đến chuyến bay phải hoãn 5 giờ đồng hồ.

5. Còn ở siêu thị, các dì đeo túi Gucci, LV thì nào là túi ni lông đựng thực phẩm, giấy cuộn trong nhà vệ sinh, giấy lau tay… đều nhét hết vào túi xách, bất cẩn bị nhân viên phát hiện thì còn hùng hổ đối đáp: “Chẳng phải là lấy miễn phí sao? Tôi lấy nhiều hơn một chút thì sao nào? Cũng đâu có phạm pháp, hơn nữa chẳng phải chỉ có mình tôi lấy đâu!”

Người dân Vancouver thì bàn luận rằng người Trung Quốc lớn tuổi đạo đức quá kém, không tuân thủ quy định xã hội cơ bản, các con của họ lại còn tức giận phản pháo, nói rằng dựa vào cái gì mà phê phán bố mẹ họ. Không chỉ là tùy tiện khạc nhổ, tùy tay vứt rác, tùy ý chen mua hàng, nói chuyện lớn tiếng, tham những thứ nhỏ nhặt, qua đường vô tội vạ, tiểu bậy giữa đường, đôi khi gây sự, đập phá, nuông chiều “trẻ dữ” trong nhà sao… Các con của họ lý luận: “Họ đã ăn cơm uống nước của nhà các người à? Bố mẹ chúng tôi đã sống ở Trung Quốc ở đời theo cách này rồi, chúng tôi chịu mệt chịu tức còn không dám nói, làm gì có cửa cho các người nói chứ.”

Đương nhiên cũng có một số những người Trung Quốc di cư sống cuộc sống trung lưu bằng số tiền do mình học hành đi làm kiếm được, họ thật sự đau đầu với vấn đề “bố mẹ dữ” này. Việc gì nên làm, việc gì không được làm, ban đầu đều đã nói rõ ràng rồi, nói đến khô cả cổ, nhưng các cụ vẫn làm theo ý mình như cũ, hoàn toàn không để lọt tai chữ nào.

6. Ở Vancouver tôi có một người bạn là phiên dịch chuyên về lĩnh vực pháp luật, thường xuyên bị gọi gấp đến hiện trường, sở cảnh sát, tòa án làm phiên dịch, trong đó anh ấy tiếp xúc với khá nhiều người lớn tuổi đến từ Trung Quốc.

Mỗi lần trong nhóm bạn bè nhắc đến vấn đề đau đầu này, anh ấy luôn cười cười an ủi, “Không sao, cậu không dám nói rồi sẽ có người dạy”. Sau đó anh ấy kể một vài cuộc trò chuyện mà thường hay phải dịch nhất:
Ông cụ: “Tôi có biết là không được làm vậy đâu!”
Cảnh sát: “Không, chắc là ông biết. Là một người trưởng thành, ông hẳn phải biết hành vi của ông buộc phải tuân thủ pháp luật nơi ông sinh sống.”
Ông cụ: “Ở quê tôi người ta đều làm thế, chẳng ai quản cả.”
Cảnh sát: “Ông có thể làm bất cứ điều gì mà nước ông cho phép trên nước ông, nhưng ông đang ở Canada thì phải tuân thủ pháp luật Canada.”
Ông cụ: “Tôi phạm tội lần đầu tiên, có thể bỏ qua được không, lần sau tôi nhất định sẽ chú ý.”
Cảnh sát: “Trước mắt mức phạt được quyết định dựa theo lần đần tiên vi phạm, lần thứ hai vi phạm pháp luật sẽ bị phạt nặng hơn.”
Ông cụ: “Tôi lớn tuổi rồi, cũng không cố ý, không thể bỏ qua được sao?”
Cảnh sát: “Bất cứ người trưởng thành nào đều cũng phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình, không có liên quan gì đến tuổi tác.”
Ông cụ: “Có phải các người xem thường người Trung Quốc không? Cố ý kiếm chuyện với chúng tôi! Kỳ thị người Trung Quốc chúng tôi!”
Cảnh sát: “Nếu ông có bất kỳ câu hỏi hoặc khiếu nại nào về quy trình thực thi pháp luật của tôi, số cảnh sát của tôi là XXXX, ông có thể kiện lên tòa án trong vòng XX ngày.”
Ông cụ: “Các người ức hiếp người, ức hiếp ông già như tôi, tôi không sống nữa, tôi liều với các người!!!” (Ngồi vật ra đất la hét gào khóc)
Cảnh sát: Trực tiếp lấy còng, thậm chí rút súng ra áp chế người bị xem là có tính công kích hoặc hành vi tự làm hại mình.
Ông cụ: Giả vờ bệnh, giả vờ ngất.
Cảnh sát: Gọi xe cấp cứu đưa đến bệnh viện. Phí do đương sự tự chi trả.

(Xe cấp cứu ở Canada nếu không phải trường hợp bắt buộc thì sẽ thu phí rất cao. Phí gọi cấp cứu áp dụng đối với người không phải cư dân địa phương của tỉnh British Columbia là 1.200 đô la Canada, phí kiểm tra tính riêng, trung bình một ngày nằm viện phải mất 7.000 đến 10.000 đô Canada)
.
Người bạn làm phiên dịch này cũng thường hay an ủi những người con phải gánh họa cho các cụ đang lo lắng ấy rằng:“Các anh chị nói xem, là chính phủ (Trung Quốc) dạy các anh chị không được dạy người lớn tuổi phải làm thế nào là đúng, là tốt, nói cách khác, dù làm sai cũng sẽ không bị phạt một cách nghiêm túc. Nhưng ở đây họ sẽ có chế độ giáo dục và quản thúc mỗi người, phạt hành vi vi phạm và để mỗi người biết rằng phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Người già hay trẻ nhỏ có quyền hoặc không có thế, giàu hay nghèo đều không ngoại lệ..”

Anh ấy còn nói: “Đây cũng không hẳn là chuyện xấu. Các anh các chị đi di cư thường đều là để con cái được giáo dục tốt hơn. Thật ra cũng tương tự như vậy, đón các cụ ra nước ngoài có thể để họ được học những ‘bài học’ tốt hơn.”

Ngọc Trúc

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019




Thứ Năm, 7 tháng 2, 2019

LỘ MẸ ĐỒNG CHÍ

Nhờ bọn cướp lộ mịa nó đồng chí trong đống rơm
Tác giả: FB nhà báo Nguyễn Hồng Thanh

Công an vào cuộc điều tra vụ án thấy theo sổ sách thì số tiền bị cướp lên đến 2,2 tỷ đồng. Và đây chỉ là tiền của ca thứ 3 trong 1 ngày.
Vậy là VEC và trạm thu phí BOT này đã gian dối trong tổng hợp, báo cáo tài chính. Theo nguồn tin riêng thì tổng số tiền thu hàng ngày khoảng 6,6 – 7,5 tỷ đồng.

KD: Cảm ơn “kẻ cướp”  😀  . Nhờ có “kẻ cướp” mới lộ ra Bọn cướp ngày!


Sau khi xảy ra vụ cướp tiền ở BOT Long Khánh – Dầu Giây theo thông tin truyền thông ban đầu của Cty đường cao tốc VN ( VEC) thì bị mất có 300 triệu. Báo cáo thu một ngày của BOT này chưa đến 1 tỷ đồng


Công an vào cuộc điều tra vụ án thấy theo sổ sách thì số tiền bị cướp lên đến 2,2 tỷ đồng. Và đây chỉ là tiền của ca thứ 3 trong 1 ngày.
Vậy là VEC và trạm thu phí BOT này đã gian dối trong tổng hợp, báo cáo tài chính. Theo nguồn tin riêng thì tổng số tiền thu hàng ngày khoảng 6,6 – 7,5 tỷ đồng.

Quá bất ngờ phải không? Số tiền chênh lệch vào túi ai? Ngân sách thất thu bao nhiêu ? Việc ăn chia ” khoản vênh” chắc không chỉ trong nội bộ VEC, mà tới tầm cao hơn ???!

.Dự rằng thủ tướng N.X.Phúc sẽ phải cho tổng thanh tra tất cả các trạm thu phí BOT rồi. Lò của anh Tổng Chủ lại có thêm củi gộc rồi !



https://kimdunghn.wordpress.com/2019/02/08/nho-bon-cuop-lo-mia-no-dong-chi-trong-dong-rom/?fbclid=IwAR0EY6YT1pSphqjm9iumsh7GeN2vBtJ2gSkdGgIfniOcAXOaxAb51yqakcM

TÌNH CHA

Trong đám cưới, người cha nói với con rể:

"Tôi là người đầu tiên nắm tay cô ấy, không phải cậu
Người đầu tiên hôn cô ấy là tôi, không phải là cậu
Người đầu tiên bảo vệ cô ấy là tôi, không phải cậu.

Nhưng mà
Có thể đi cùng cô ấy suốt cuộc đời,
Đó là cậu chứ không phải là tôi.

Nếu có một ngày cậu không yêu cô ấy nữa
Đừng phản bội cô ấy
Đừng đánh cô ấy
Đừng nói với cô ấy.
Nói với tôi,
Tôi đưa cô ấy về nhà! ! ! 」

Cậu con rể quỳ xuống,lúc đó các khách mời đều rơi nước mắt

Nếu bạn là một người đàn ông,
Xin hãy tử tế yêu quý người phụ nữ bên cạnh mình
Bởi vì họ là những cô con gái quý báu của người khác.

Lúc nhỏ tiêu tiền là ở nhà bố mẹ đẻ
Lúc khôn lớn đi kiếm đươc tiền là ở nhà chồng

Thế nên bạn nên nhớ, ngoài cha mẹ của họ ra,
Họ không nợ bất kỳ ai.

MÃN CHÂU THẦN TIỄN

****

Hai tháng sau. Con rễ nói với bố vợ. 
Địt mẹ mày dẫn nó về ngay .

Tom Vu

7/2/2019



Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

Bối cảnh và diễn biến hải chiến Hoàng Sa 1974


Tác giả: Carl O. Schuster
Biên dịch: Lê Đỗ Huy; Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.

HQ- 16 tới đảo Hữu Nhật (Robert Island) vào 16/1 và nhận thấy đảo này đã bị “ngư dân” Trung Quốc, từ hai thuyền đang neo tại bãi ven đảo, chiếm đóng. Chỉ huy tàu HQ – 16 lệnh cho những người Trung Quốc rời đảo và bắn thị uy để họ hiểu ý định của ông. Sau đó họ bắn và phá hủy các lá cờ Trung Quốc và một khu vực chế biến cá mà những “người đánh cá” triển khai 6 ngày trước đó. HQ – 4 tới Hoàng Sa ngày 17/1 và phái một đơn vị đặc nhiệm SEAL của Nam Việt Nam lên đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh (Money Island) gần đó để nhổ những cờ Trung Quốc. Ngày 18/1, hai tàu chiến của Nam Việt Nam đuổi một tàu đánh cá bằng lưới rà của Trung Quốc, buộc con tàu bị phá hủy nặng nề này phải rời vùng biển. Sau đó các tàu khu trục Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu quét mìn Nhật Tảo HQ-10 tới Hoàng Sa.

Sài Gòn nghĩ rằng đã chặn được nỗ lực trong suốt 6 tháng liền của Bắc Kinh nhằm chiếm nửa phía tây của Hoàng Sa. Những “ngư dân” có vũ trang của Trung Quốc trước đó hầu như đã đẩy được các ngư dân Nam Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa, và ít nhất có hai tàu đánh cá Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động tại vùng nước mà Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng biến động gần nhất này của Trung Quốc lại là khởi đầu của một giai đoạn mới trong nỗ lực nhằm chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Lần này, những “ngư dân” Trung Quốc là thành viên của lực lượng Dân quân biển  – một lực lượng bán vũ trang của Hải quân Trung Quốc.

Hai chiếc tàu cá gần đảo Hữu Nhật báo cáo về Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải Trung Quốc. Ngày 16/1, Bộ Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực. Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi. Bắc Kinh quyết định giải quyết tranh chấp tại Hoàng Sa bằng vũ lực nếu thời cơ cho phép.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 130 đảo san  hô, mỏm đá ngầm và bãi cát nằm rải rác trên 5.800 dặm vuông trên Biển Đông, cách gần đều cảng Đà Nẵng của Việt Nam (200 hải lý) và đảo Hải Nam của Trung Quốc (162 hải lý). Diện tích của toàn quần đảo (chỉ tính mặt đất) là khoảng 3 dặm vuông. Hầu hết các đảo hợp thành Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) về phía đông bắc và Nhóm đảo Lưỡi liềm (Crescent Group) về phía tây, cách nhau khoảng 39 hải lý. Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh là lớn nhất trong các đảo thuộc Hoàng Sa, có diện tích khoảng 530 mẫu Anh.

Cho dù những tuyên bố chủ quyền của cả Việt Nam và Trung Quốc đều có từ các triều đại phong kiến xa xưa, gốc rễ của sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam gắn với những năm 1930 và các tham vọng của thực dân Pháp. Nước Pháp, cường quốc đô hộ Việt Nam từ 1858, đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1932 nhưng từ đầu không quan tâm đến việc chiếm giữ các đảo này trên thực tế. Điều này thay đổi vào năm 1937 khi cuộc chiến của Nhật Bản với Trung Quốc – vốn bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật chiếm Mãn Châu Lý –  leo thang khi Nhật tiến quân sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Người Pháp lo Trung Quốc hay Nhật sẽ chiếm các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nên đã đặt một trại lính gồm khoảng 100 lính Pháp và Việt tại đảo Phú Lâm vào năm 1938 như một khu đệm để mở rộng chu vi phòng thủ cho các thuộc địa Đông Dương của Pháp.

Nhà cầm quyền Anh ủng hộ bước đi này của Pháp vì nó mở rộng phạm vi phòng thủ của thuộc địa Malaya của Anh. Cả hai cường quốc châu Âu này cho rằng cuộc chiến tranh của Nhật chống Trung Quốc chỉ là bước đi ban đầu của kế hoạch chiếm các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á. Nhưng thay vì răn đe hành động của Nhật trên Biển Đông, việc đồn trú tại Hoàng Sa của Pháp lại khiêu khích Nhật. Nhật cho một đơn vị nhỏ lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đảo Phú Lâm chỉ một tháng sau khi Pháp cho quân đồn trú. Quân đồn trú trên đảo đầu hàng, không nố súng chống lại. Nhật sáp nhập Trường Sa và Hoàng Sa vào năm 1941, tuyên bố chúng thuộc Đài Loan, đảo đang bị Nhật chiếm đóng lúc đó.

Sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật ngày 6 và 9/8/1945, Tokyo bắt đầu rút quân khỏi các quần đảo này. Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite) hai tháng sau đó, và đặt một đồn trên đảo Phú Lâm vào tháng Giêng 1946. Pháp sau đó do không đẩy được quân Quốc dân Đảng ra khỏi Nhóm đảo An Vĩnh bằng một cuộc biểu dương lực lượng hải quân đành tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Lưỡi liềm và đổ bộ một trung đội lê dương lên đảo Hoàng Sa (Pattle) để ngăn quân Quốc dân Đảng chiếm đóng đảo này.

Chính phủ Quốc dân Đảng lặp lại yêu sách đối với toàn bộ Biển Đông năm 1947, xuất bản một bản đồ đưa các yêu sách lãnh thổ vào khuôn khổ một “đường chín đoạn” dọc vành ngoài của Biển Đông. Năm 1949, quân Trung Cộng đẩy chính quyền Quốc dân Đảng ra Đài Loan. Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, nhưng không giao quyền kiểm soát của mình cho bất cứ một bên có yêu sách cụ thể nào khác, đẩy vấn đề sở hữu các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) rơi vào tình trạng không được giải quyết. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng họ thừa kế các yêu sách đối với Biển Đông từ chính phủ Quốc dân Đảng.

Mặc dù vậy Nam Việt Nam đã chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi liềm từ năm 1954 và đặt một lực lượng đồn trú nhỏ trên ba hòn đảo. Trung Cộng giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh và đảo Phú Lâm vào năm 1956. Ngư dân Trung quốc đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) năm 1959 nhưng phía Nam Việt Nam đã đuổi họ đi.

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, Sài Gòn, tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hải quân Mỹ, đã rút các đơn vị đồn trú của mình. Tới năm 1967, sự hiện diện của Nam Việt Nam tại quần đảo chỉ còn một trạm khí tượng. Trung Quốc tỏ ra chấp nhận nguyên trạng.

Hai biến chuyển trong tình hình những năm 1970 đã thay đổi bàn cờ Biển Đông: các báo cáo về trữ lượng dầu tại thềm lục địa vùng này xuất hiện vào giữa năm 1972, và Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Các lãnh đạo châu Á đột nhiên nhận thấy tranh chấp Biển Đông không chỉ là một vấn đề chính trị và hành chính, mà còn là vấn đề phát triển kinh tế. Nhóm thân cận với Mao tính toán rằng những phần thưởng về kinh tế lớn hơn những rủi ro xảy ra xung đột quân sự. Vả lại, những rủi ro đang giảm xuống.

Mao nhận thấy một chính phủ Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam sẽ thiếu ý chí dấn vào một cuộc xung đột khác, lại đang mong được Trung Quốc hỗ trợ chống lại một Liên Xô đang ngày càng thách thức hơn. Nguyên thủ Trung Quốc kết luận rằng chế độ Sài Gòn khó có khả năng được Mỹ hỗ trợ, và sự tồn tại của nó cũng đang được tính bằng ngày. Nhóm thân cận với Mao cũng hiểu rằng Bắc Việt Nam vẫn còn cần viện trợ của Trung Quốc trong nỗ lực chiến thắng Nam Việt Nam, đồng thời đồng minh khác của Hà Nội là Liên Xô không có lực lượng trên địa bàn này để cản trở Trung Quốc hành động đối với các đảo (trên Biển Đông). Mao ra lệnh tiến hành một loạt những bước đi nhằm ép Nam Việt Nam từ bỏ Hoàng Sa.

Không biết các ý định của Bắc Kinh, Sài Gòn tuyên bố quyền kiểm soát về hành chính tại nhóm đảo Lưỡi liềm vào tháng 8/1973 và một tháng sau cho phép thực thi các hợp đồng thăm dò dầu khí tại các vùng nước quanh nhóm đảo này. Cuộc đột nhập đầu tiên của đội tàu đánh cá của Trung Quốc xảy ra vào cuối tháng 7. Một số “ngư dân” có vũ trang, và ít nhất một tàu trong số này là loại bọc thép, nhưng chúng rút ngay mỗi khi các đơn vị Hải quân Nam Việt Nam tới. Sài Gòn triển khai các đơn vị đồn trú có quân số khoảng một trung đội trên ba hòn đảo thuộc nhóm đảo này.

Tháng 10/1974, các tàu đánh cá lưới rà số 402 và 407 của Trung Quốc đưa thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Quang Hòa, thiết lập một trạm cung cấp, hầm hào, và cắm cờ Trung Quốc khắp trên đảo. Nam Việt Nam bắt giữ một số tàu đánh cá Trung Quốc vào tháng 11 cùng thủy thủ đoàn của chúng. Các thủy thủ Trung Cộng bị đưa về Đà Nẵng nơi họ phải thú tội trên truyền hình về các hành động phạm pháp và các tội ác đối với nhân dân Việt Nam trước khi được thả. Nhưng những vụ tàu đánh cá Trung Quốc tấn công dân chài Việt Nam tiếp tục diễn ra. Cùng kỳ, Mao ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc chuẩn bị hành động quân sự để hỗ trợ các ngư dân Trung Quốc.

Ngày 10/01/1974, một nhóm ngư dân Trung Quốc tiến hành đánh bắt cá tại đảo Hữu Nhật thuộc nhóm đảo Lưỡi liềm. Nhóm này đã bị các dân chài Việt Nam phát hiện 3 ngày trước, nhưng họ không thông tin được cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cho tới khi về tới Đà Nẵng hôm 11/01/1974. Cùng ngày, Bắc Kinh ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền không thể tranh cãi của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như bãi ngầm Macclesfield, một đảo san hô vòng cách quần đảo Hoàng Sa 70 hải lý về phía Đông.

Nhận thấy những ý đồ của Bắc Kinh, Sài Gòn cử các tàu khu trục HQ-16, HQ-4, HQ-5, và tàu quét thủy lôi HQ-10 chở đội đặc nhiệm SEAL đến đảo Hữu Nhật. Hai trong số các tàu khu trục trên là thủy phi cơ đời Thế chiến II được cải tiến, tháo bỏ các thiết bị hỗ trợ thủy phi cơ, còn chiếc thứ ba là tàu khu trục hộ tống được cải tiến. Tất cả chúng ở trong tình trạng kém, thường xuyên xảy ra các vấn đề về kỹ thuật và vũ khí, khiến tốc độ và hỏa lực đều bị hạn chế.

Đến nơi vào ngày 16/1, các tàu chiến của Nam Việt Nam đã nhanh chóng đuổi các ngư dân Trung Quốc đi. Tàu đánh cá (TQ) số 407 báo cáo sự việc HQ-16 tới lên Bộ chỉ huy dân quân biển tại Du Lâm trên đảo Hải Nam ngay sáng 16. Điện báo này về tới Bắc Kinh vài giờ sau.

Chiều tối hôm đó, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phái hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 đón một đại đội dân quân biển gồm bốn trung đội (mỗi trung đội 10 người) từ đảo Phú Lâm đưa sang Nhóm đảo Lưỡi liềm. Bắc Kinh cố gắng tăng viện cho quân của họ, nhưng giống như đối phương, tàu chiến của Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tồi tệ.

Cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc – một cuộc thanh trừng chống các ảnh hưởng phi chủ nghĩa xã hội và các đối thủ của Mao – đã làm hư hoại gần như hoàn toàn các xưởng đóng tàu của nước này. Hơn 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư, nhà giáo, công nhân lành nghề, cán bộ hành chính bị tù đày hoặc giết chết, gồm cả những người đã đóng và bảo dưỡng tàu bè của nước này cũng như mạng lưới đường sắt chuyển vật tư tới các xưởng đóng tàu.

Kết quả là tàu chiến tốt nhất của Hải quân Trung Quốc, các khu trục hạm loại Type 065 đã không thể khởi hành. Còn chiếc 271 vừa xuất xưởng và chưa hoàn tất việc chạy thử trên biển, và chiếc 274 với động cơ diesel ở tình trạng kém, không thể đạt tốc độ 18 hải lý/giờ. Vậy mà chúng vẫn nhanh hơn, được trang bị tốt hơn các tàu của hải quân Nam Việt Nam. Hai chiếc tiêm kích Thẩm Dương J-6, bản copy của MIG – 19 do Liên Xô sản xuất, yểm hộ đường không cho các tàu săn ngầm, nhưng không có năng lực hoạt động tầm xa đủ để trực chiến trên đầu các tàu khi chúng nhập cuộc sáng 17/1.

Vào rạng sáng 18/1, hai tàu Trung Quốc đã đưa được một trung đội dân quân biển lên đảo Duy Mộng, một trung đội khác lên đảo Quang Hòa tây, và hai trung đội lên đảo Quang Hòa. Các trung đội này lập tức tiến hành đào hầm hào và đặt mìn và bẫy phía trước trận địa của họ. Hai tàu rà thủy lôi loại Type 10 đóng ở Quảng Châu, mang số hiệu 389 và 396, được lệnh tăng cường cho các tàu săn ngầm loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274. Chúng cũng đến nơi vào cuối buổi sáng hôm đó.

Hai chiếc tàu chiến khác có thể hoạt động được lúc đó của Trung Quốc là hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam được điều từ Sán Đầu, cách đó khoảng 476 hải lý. Chúng tiến về Hoàng Sa với tốc độ tối đa, được tiếp dầu ở Trạm Giang, phía nam Hồng Kông, và tại Du Lâm. Các tàu chiến này được lệnh hỗ trợ các thuyền đánh cá của dân quân biển với điều lệnh chiến đấu “không gây sự; không bắn trước; nhưng nếu lâm chiến, phải thắng”.

Vào sáng sớm 19/1, hạm trưởng chia tàu của Trung Quốc thành hai nhóm: tốp đầu gồm 4 chiếc do các tàu săn ngầm Kronstadt dẫn đầu, và tốp sau gồm các tàu săn ngầm lớp Hải Nam vừa tới. Hạm trưởng được lệnh đáp trả mọi thách thức đối với các tàu đánh cá của dân quân biển và hỗ trợ các ngư dân trên các đảo nếu cần.

Hải quân Nam Việt Nam cũng chia thành hai tốp. Tốp đầu bao gồm các tàu khu trục HQ-4 và HQ-5. Tốp này chạy vòng quanh các đảo Quang Ảnh (Money) và Hải Sâm (Antelope) từ phía nam và tiếp cận đảo Quang Hòa. Tốp thứ hai gồm các tàu quét mìn HQ-10 và tàu khu trục HQ – 16, băng qua vùng đầm phá tại Nhóm đảo Lưỡi liềm từ phía tây bắc.

Hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt của Trung Quốc chiếm vị trí để theo dõi các tàu HQ-4 và HQ-5, trong khi các tàu quét mìn loại Type 10 bám theo các tàu HQ-10 và HQ-16. Hạm trưởng HQ – 16 dự cảm trận đánh sắp xảy ra – đã tăng tốc vượt lên các tàu quét mìn Trung Quốc, và 14 lính đặc nhiệm của Nam Việt Nam được đưa lên hai thuyền cao su để giành lại đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây. HQ-16 đâm mạnh và làm hỏng nặng tàu quét mìn 389; thủy thủ trên chiếc 389 bắn vào cầu tàu và ụ súng phía trước của HQ-16, giết hoặc làm bị thương hầu hết thủy thủ Nam Việt Nam trên đó. Cuộc giao chiến sau đó đã diễn ra theo như ý đồ của Trung Quốc.

Các lính đặc nhiệm, từng dự kiến có hải quân yểm hộ, nay phải một mình đối đầu với các tàu Trung Quốc. Họ lên bờ giữa ban ngày, đối địch với một lực lượng kẻ thù đông, cố thủ trong chiến hào trên cả hai đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây, nên nhanh chóng bị đẩy lùi. Họ cố trở lại các thuyền cao su dưới làn đạn kẻ thù, trong khi các tàu hải quân Nam Việt Nam dàn hàng ngang tiến thẳng vào đội hình địch, bắn vào buồng hoa tiêu của địch và tìm cách xoay chuyển thế trận thành một cuộc chiến của pháo tầm xa. Không may cho lực lượng Nam Việt Nam, họ không có được tốc độ, do đó các tàu cơ động hơn của Trung Quốc có thể quyết định khoảng cách giao tranh. Hạm trưởng Trung Quốc ra lệnh: “Tăng tốc tiến lên, đánh cận chiến, thọc mạnh”. Biết rằng các tàu của mình trang bị kém và sẽ bị áp đảo trong một cuộc đấu súng tầm xa, hạm trưởng Trung Quốc quyết định dùng chiến thuật “giáp lá cà”. Sau 10 phút giao tranh, chiến trường đã thu hẹp từ phạm vi 2, 3 hải lý xuống còn vài trăm mét.

Các tàu săn ngầm lớp Kronstadt bắn cấp tập vào HQ-4, trong khi các tàu quét mìn Type 10 tập trung hỏa lực pháo 37mm vào chiếc HQ-16, nhằm vào buồng hoa tiêu, trung tâm thông tin và các radar. Bị bắn hỏng nặng, chiếc HQ-16 phải thoái lui. Các tàu quét mìn chuyển sang bắn vào HQ-10, nhằm vào kho đạn ở đuôi tàu, gây một tiếng nổ khiến phần động cơ phía trước con tàu này tê liệt.

Các tàu quét mìn chỉ cách HQ-10 có khoảng mười thước, khiến các nòng pháo còn lại của chiếc tàu Nam Việt Nam này không thể bắn vào những con tàu thấp và nhỏ hơn của đối phương đang tiếp cận sát thân tàu. Súng bộ binh của thủy thủ Trung Cộng quét dọc ngang sàn tàu và buồng hoa tiêu, sát hại thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ điều khiển tàu.

Chiếc HQ-16 bị hư hại cố tiếp ứng cho HQ-10 nhưng bị đẩy ra xa bởi hỏa lực của quân Trung Quốc. Nó phải rút về phía đông nam, trong khi HQ-4 và HQ-5 rút về phía nam. Hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam của Trung Quốc tới nơi khoảng trưa 19/1, bắn tiếp vào chiếc HQ-10 khiến nó chìm vào lúc 1h chiều.

Cùng lúc, Bắc Kinh lo ngại Sài Gòn sẽ tăng cường quân cho các đồn còn lại trên các đảo, gồm khoảng 2 đại đội bộ binh trên các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa (Pattle), và Quang Ảnh, và các lính đặc nhiệm còn sống sót. Hạm đội Nam Hải pha trộn một đội hình chắp vá gồm tất cả những đơn vị nào còn có thể lên đường: một tàu khu trục, năm tàu phóng lôi, và tám tàu tuần tra loại nhỏ. Được tổ chức thành ba đội tàu đổ bộ và vận tải, các tàu này chở 500 lính thuộc 3 đại đội bộ binh, một đại đội dân quân và một nhóm trinh sát vũ trang.

Đội tàu này triển khai thành đội hình thuận cho xuất phát. Tốp đầu gồm bốn chiếc tàu tuần tra và các tàu lưới rà của dân quân biển mang số hiệu 402 và 407, mang  theo một đại đội bộ binh 100 lính. Tốp hai gồm một đại đội bộ binh và đội trinh sát thủy – bộ được rải ra trên bốn chiếc tàu tuần tra và chiếc tàu quét mìn 389. Chiếc tàu khu trục Nam Ninh, vốn là một tàu hộ tống của Nhật trước đây, trở thành thê đội ba, chở một đại đội bộ binh và được bổ nhiệm làm soái hạm của chiến dịch này.

Tốp đi đầu tiến công đảo Hữu Nhật, bắn pháo vào những người giữ đảo để đẩy họ khỏi bờ biển, rồi đổ bộ lính bộ binh bằng các thuyền cao su và xuống ba lá. Hữu Nhật thất thủ sau 10 phút. Thê đội 2 tiến đánh đảo Hoàng Sa (Pattle), đẩy 30 lính giữ đảo về phía giữa đảo nơi họ đầu hàng sau một giờ giao tranh. Trong trận đánh trên đảo này, Trung Quốc bắt được viên thiếu tá Nam Việt Nam chỉ huy lực lượng đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và viên cố vấn được phái tới từ Đại sứ quán Mỹ. Các lính đặc nhiệm trên đảo Quang Ảnh bỏ vị trí trước khi Hải quân Trung Quốc tiến công, trốn thoát được vài ngày trước khi bị bắt.

Cho đến cuối chiều 20/1, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc. Hơn 100 lính Nam Việt Nam bị giết hoặc bị thương, và 48 lính Nam Việt Nam và một sĩ quan liên lạc người Mỹ bị bắt, so với 18 lính Trung Quốc bị chết, 67 người khác bị thương.

Đây là một thắng lợi lớn của Hải quân Trung Quốc: một tàu phá thủy lôi của Nam Việt Nam bị chìm, ba tàu khu trục bị hư hỏng nặng, so với hai tàu săn ngầm, một tàu quét thủy lôi và một tàu đánh cá của Trung Quốc bị hư hỏng nặng.

Trung Quốc dành 2 tuần tiếp theo để gia tăng sự hiện diện hải quân xung quanh các đảo và củng cố phòng ngự, bao gồm cả việc triển khai một tàu ngầm lớp Romeo và ba tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường lớp Thành Đô, mang theo các tên lửa hành trình chống hạm loại Styx.

Về chiến thuật, các đơn vị hải quân Nam Việt Nam có hỏa lực mạnh hơn đối phương, nhưng họ không có một hệ thống radar điều khiển hỏa lực, do đó phải bắn qua lỗ ngắm, làm giảm đáng kể khả năng bắn trúng các mục tiêu cơ động nhanh như các tàu tuần tiễu của Trung Quốc. Mặc dù tình trạng kỹ thuật của tàu chiến cả hai bên ngăn cản họ hành động ở tốc độ cao nhất, các tàu của Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tới 7-10 hải lý/giờ, một ưu thế khiến họ có thể quyết định cự ly giao tranh.

Một khi đã đạt được cự ly cách các tàu của Nam Việt Nam nửa dặm, các vũ khí nhẹ, tác xạ nhanh của tàu Trung Quốc và sự linh hoạt tạo cho họ một ưu thế rõ ràng. Chiến trường được quyết định trong một khoảng cách chỉ 200 thước. Không gian chỉ huy, hoa tiêu và liên lạc của các tàu Nam Việt Nam đối mặt với hỏa lực tầm gần chính xác, và các pháo lớn của họ bị vô hiệu ở tầm bắn gần. Các tàu của Nam Việt Nam đành rút lui, để các đơn vị đồn trú trên các đảo không được hỏa lực hải quân hỗ trợ.

Nam Việt Nam đe dọa sẽ trả đũa nhưng nhận thấy cán cân lực lượng hải quân nghiêng về phía Trung Quốc. Hơn nữa, Sài Gòn có nhiều mối lo đè nặng. Cơ quan tình báo Sài Gòn đang dõi theo các đường vận tải và chuyển quân của Bắc Việt đổ theo hướng qua Lào và đông Campuchia. Việc dồn quân dọc biên giới Nam Việt Nam là một dấu hiệu gây lo ngại về ý định của Hà Nội.

Cùng lúc, Hà Nội phản đối động thái này của Bắc Kinh nhưng không hành động gì. Bắc Việt vẫn cần sự ủng hộ của Trung Quốc để tổ chức, động viên lực lượng của mình cho trận đánh cuối cùng nhằm giành quyền kiểm soát Nam Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước vào tháng 4/1975, Hà Nội nhanh chóng giành quyền kiểm soát các đảo do Nam Việt Nam nắm giữ trên quần đảo Trường Sa. Những năm sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và duy trì tuyên bố khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo này, cũng như với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Nam tuy vậy chưa bao giờ tìm cách chiếm lại Hoàng Sa. Nước này còn bị thua trong một cuộc hải chiến vào những năm 1980 khi Trung Quốc tấn công ba đảo đá san hô do Việt Nam kiểm soát thuộc quần đảo Trường Sa.

Trong các cuộc giao tranh kể trên và trong các hành động gần đây, Bắc Kinh đã lặp lại các chiến thuật nó đã sử dụng vào năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa. Thứ nhất, cho các tàu đánh cá thâm nhập vùng tranh chấp, trong đó có cả các tàu đánh cá của lực lượng dân quân biển, để xua đuổi lực lượng bên kia. Các tàu của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc được triển khai gần đó nhằm hỗ trợ các tàu đánh cá nếu cần, còn xa hơn là các nhóm tàu hải quân để hỗ trợ các tàu Hải cảnh. Cả lực lượng hải cảnh lẫn các đơn vị hải quân đều không bắn trước, nhưng nếu chiến sự xảy ra, họ sẽ phải chiến thắng. Trung Quốc cũng thiết lập một sân bay quân sự trên đảo Phú Lâm và đồn trú quân trên một số đảo san hô mà họ chiếm được gần đây tại Trường Sa.

Việt Nam cũng đáp lại bằng cách vũ trang cho các tàu đánh cá của mình và thiết lập quan hệ đối tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, đồng thời tìm cách hợp tác quân sự với cựu thù Hoa Kỳ. Với 5 bên cùng tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc, Biển Đông đã trở thành một “điểm nóng” và kích thích một cuộc chạy đua vũ trang khu vực mà có người lo ngại sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến tranh mới.

Carl O. Schuster là một sĩ quan Hải quân đã nghỉ hưu sau 25 năm công tác, với những năm cuối cùng phục vụ trong ngành tính báo quân sự. Hiện sống ở Honolulu, Schuster tham gia giảng dạy chương trình Ngoại giao và Khoa học Quân sự tại Hawaii Pacific University.

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2019/01/18/boi-canh-va-dien-bien-hai-chien-hoang-sa-1974/?fbclid=IwAR3N0n8-_qoVs70pKEbg-EkmD8_KG3T8Yu08ObORMavxRGHDI0Qjty1O2o4

https://vandoanviet.blogspot.com/2019/01/boi-canh-va-dien-bien-hai-chien-hoang.html

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

Chuyện Hoàng Sa (bbc)

Nhân kỉ niệm lần thứ 40 vừa qua, đã có hàng loạt các bài báo viết về trận hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974 và lòng dũng cảm của quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tuy vậy, lại có ít thảo luận về điều thực sự diễn ra trong trận chiến.

Bản quyền hình ảnhHQVNCHImage captionHộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo

Trong hàng thập niên, nó vẫn được giữ kín, nhưng gần đây một vài cựu binh đã viết hoặc kể lại câu chuyện của mình. Chính quyền Hoa Kỳ cũng đã công bố một vài tư liệu quan trọng từ kho lưu trữ. Gộp lại những thông tin đó, chúng kể ta nghe câu chuyện về những cá nhân anh hùng bị làm hại bởi kế hoạch tác chiến kém, lãnh đạo tệ hại, và lực lượng không cân sức.

Tháng 1/1974 là quãng thời gian rất khó khăn cho Nam Việt Nam. Lệnh ngừng bắn, được thiết lập sau khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, đã sụp đổ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tham chiến với một nền kinh tế hầu như bị tê liệt. Sự kiện ở mấy mỏm đá ngoài khơi cách Đà Nẵng 350 dặm không phải là ưu tiên. Quân lính canh gác Hoàng Sa cũng không có đủ nguồn lực lẫn chiến lược đúng đắn để tự bảo vệ.

Vào thứ Hai 14/1, một tàu thủy của VNCH phát hiện hai tàu hải quân Trung Quốc đang thả neo gần đảo Hữu Nhật (Robert), thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa do Nam Việt Nam chiếm giữ. Chỉ quen với việc đóng quân trên đất liền, quân VNCH đột nhiên phải đối diện với nguy cơ chiến đấu trên biển. Ngay ngày hôm sau, 15/1, tổng thống Thiệu đã trực tiếp đến thăm hải quân tại Đà Nẵng.

Hôm đó, Jerry Scott từ lãnh sự quán Hoa Kỳ đã đề nghị Tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải và là bạn tốt của mình, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cho phép Gerald Kosh, một nhân viên dưới quyền, được lên tàu đi Hoàng Sa.

Ông Thoại nhanh chóng đồng ý‎ và Kosh đã có mặt trên tàu HQ-16. Con tàu này là một trong bảy chiếc tuần dương hạm cũ của Hoa Kỳ giao lại cho VNCH đầu những năm 1970. Mặc dù ra đời từ thời Thế chiến Đệ nhị, loại tàu này được trang bị những khẩu súng cỡ nòng lên tới 5 inch (127mm), tốt nhất trong cả lực lượng hải quân của VNCH. Kosh sau đó đã viết một bản tường trình dài về trận chiến mà hiện đã được phép công bố.

Image captionSự kiện mất Hoàng Sa đang được bàn luận trở lại ở Việt Nam

Ngày hôm sau, 16/1, HQ-16 đưa 16 lính Biệt Hải của VNCH đến bảo vệ đảo Hữu Nhật. Nhưng quân Trung Quốc đã có mặt trên đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Hòa (Duncan) với lực lượng hỗ trợ ở gần đó. Tất cả những thông tin này đều được khẩn báo về Đà Nẵng.

Ở sở chỉ huy đã có sự hoang mang. Tham mưu phó Hải quân Đỗ Kiểm, người có cấp bậc cao thứ ba trong hàng ngũ hải quân VNCH, đã đề nghị phải phản ứng nhanh và kiên quyết. “Nếu chúng ta hàng động bây giờ thì có thể lấy lại được đảo,” ông Kiểm nhớ lại lời ông nói với tư lệnh hải quân, Đề đốc Trần Văn Chơn. Thay vì thế, theo lời ông Kiểm, ông Chơn đã yêu cầu phải có bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo đó. Mấy giờ sau ông Kiểm đã phải tìm trong thư viện hải quân và phòng lưu trữ chỉ để tìm các tài liệu.

Vào ngày thứ Năm, 17/1, 15 lính Biệt Hải đổ bộ lên đảo Quang Ảnh (Money). Trong 7 hòn đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm, lúc đó 3 được quân VNCH chiếm giữ và 2 nằm trong tay quân Trung Quốc. Thêm 3 tàu được vội vàng điều tới Hoàng Sa: HQ-5 (tuần dương hạm cũ của Mỹ), HQ-4 (tàu khu trục USS Forster cũ, được trang bị súng cỡ nòng 3 inch) và HQ-10 (tàu quét thủy lôi cũ USS Serene của Hoa Kỳ, được cải biên thành tàu tuần tra).

Vào sáng thứ Sáu ngày 18/1, tất cả 4 con tàu trên đã có mặt tại Hoàng Sa. Hải đội trưởng Hà Văn Ngạc quyết định thể hiện sức mạnh bằng cách cho lực lượng đổ bộ xuống đảo Quang Hòa. Nhưng hai tàu hộ tống Trung Quốc đã được điều động đến đó và ông Ngạc phải hủy kế hoạch. Quân Trung Quốc thắng hiệp 1.

Vào tối thứ Sáu, mật tin đã được gửi cho ông Ngạc từ Đà Nẵng. Một mệnh lệnh rất kì quặc: tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình. Ông Ngạc quyết định đổ bộ vào sáng hôm sau, thứ Bảy ngày 19/1. Vào lúc 8.29, khi đội lính đi vào đảo, quân Trung Quốc nổ súng, làm một lính VNCH thiệt mạng. Người thứ hai bị giết hại khi cố lấy lại xác đồng đội. Quân thủy đánh bộ VNCH phải rút lui.

Ông Ngạc liên lạc về để tìm mệnh lệnh. Trong trụ sở Hải Quân VNCH ở Sài Gòn, Đỗ Kiểm chạy đi tìm Đề đốc Chơn. Ông ta biến mất. Một trợ l‎ý bảo rằng ông Chơn đã ra sân bay để chuẩn bị đi Đà Nẵng. Ông Kiểm gọi cho phó của ông Chơn ở Đà Nẵng. Ông ta cũng biến mất, để ra sân bay đón ông Chơn. Ngay tại thời điểm mà số phận của Hoàng Sa đang ngàn cân treo sợi tóc, hai lãnh đạo tối cao của Hải Quân VNCH đều mất tích. Cuối cùng, ông Kiểm là người ra lệnh nổ súng.

Vào lúc 10.29, hai giờ sau khi hai lính thủy đánh bộ bị giết hại, 4 tàu của phía Việt Nam nổ súng vào 6 tàu Trung Quốc.

Thật không may, súng trên tàu HQ-4 lại bị hỏng và con tàu nhanh chóng bị trúng đạn bởi một trong hai tàu hộ tống Trung Quốc. HQ-5 đã bắn trúng và làm hư hỏng nặng tàu hộ tống còn lại, nhưng rốt cuộc nó cũng bị trúng đạn. Mười lăm phút sau, HQ-5 vô tình bắn trúng tàu HQ-16. HQ-16 bị mất kiểm soát nguồn điện và bị nghiêng 20 độ. Sau đó tàu HQ-5 lại bị trúng đạn, hỏng mất tháp pháo và hệ thống radio. Cuối cùng, tàu HQ-10 nhỏ nhất đoàn, bị trúng tên lửa của quân Trung Quốc khiến cho đài chỉ huy bị phá hủy và thuyền trưởng thiệt mạng.

Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, mặc dù đã làm hư hỏng nặng hai tàu của Trung Quốc, đội tàu của VNCH hầu như đã mất khả năng chiến đấu. HQ-10 bị chìm còn ba chiếc còn lại lê lết về được Đà Nẵng.

Đánh giá một cách khách quan, trận chiến là một thảm họa, tuy nhiên những lính quay trở về được chào đón như những người hùng. Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. Nhưng trên thực tế, đó lại là một thảm họa.

Nhà báo Bill Hayton, làm việc ở BBC, là tác giả cuốn Vietnam: Rising Dragon (2010). Tác phẩm mới của ông về tranh chấp Biển Đông, The South China Sea - dangerous ground, sẽ được xuất bản năm nay bởi NXB Đại học Yale.

THÔI KHÔNG LÀM THƠ

Bạn tôi yêu đàn bà và thơ anh trăm phần trăm viết về họ,  ngợi ca và say đắm
Với anh mọi cuộc chia tay mặc định là lỗi đàn ông.
Bọn nhậu nhẹt bê tha rồi thiếu trách nhiệm với vợ là kẻ thù của anh.
Có người bạn làm ăn thất bát, vợ bỏ theo đại gia, đến than thở với anh, anh quay mặt đi chả tin.
Lại có đứa sinh lý yếu, vợ tậu thêm phi công, biết rõ vậy anh còn mắng xơi xơi thằng chồng không biết giữ vợ. Với anh phụ nữ là thiên thần, ngay và luôn éo nói nhiều.
Oái oăm là chả cô nào chịu làm vợ anh, ngoài thơ ra, anh có mỗi con chim dắt sịp, mà theo bạn bè nó chẳng hoành tráng lắm. Bởi anh cực ghét thằng nào yêu gái bằng chim, loại phàm phu phục tử đầu đất và vô văn hoá.
Nhưng nhịn mãi cũng có lúc thèm. Bạn bè dắt anh đi đá phò cho đỡ vã.
Đêm ấy họ dắt anh đi ra ngoại ô, nơi có đồng lúa lao xao, gió đồng mát rượi.
Họ biết tính anh chổng đít vào phò chạy SH cầu Thị Nghè hay quanh Sở Thú.
Sau khi làm mấy chai, họ dẫn anh đến một căn nhà giữa đồng, nhà có hai chị em gái.
Họ tới hơi muộn, khách đang xếp hàng đông như phở Bát đàn. Anh thẫn thờ khi thấy đủ thành phần đang đợi đến lượt. Họ uống trà, đọc báo và tán gẫu. Có cả những cụ hưu trí mũ phớt ba toong mặt nghiêm như đi sinh hoạt chi bộ.
Chờ mãi rồi cũng đến lượt. Anh bảo nàng mở hết cửa sổ, cơ thể nàng mềm mại như sóng lúa dạt dào , anh vứt mẹ bao cao su bạn đưa ra ngoài ruộng. A nhắm mắt lại như đang bay trên chín tầng mây, tứ thơ tuôn ào ạt.

Tuần sau, đột nhiên anh gọi giật
- Chim tao có vấn đề, đau lắm
Cả hội hớt hải chạy tới. Vừa nhìn, một thằng la lên
- Mày bị lậu rồi !
Mặt anh thảm như đến ngày tận thế, đến nước này thơ chả giúp được gì. Dẫn anh qua bác sỹ chích mấy phát vào mông, ba ngày sau khỏi biến.

Gặp nhau, hễ cứ nhắc chuyện cũ, anh đỏ mặt bảo thôi không làm thơ nữa

KHP (Phạm Kiều Hưng)

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019

Điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực tại Trung Quốc


Có người cho rằng, những chữ Hán giản thể giống như là một điềm báo chẳng lành. Thực ra, điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực, chuẩn xác một cách đáng sợ!


Văn hóa Á Đông không hề đơn giản như bề mặt mà mọi người nhìn thấy. Từng nét lễ nghi, từng bộ trang phục, từng nét chữ đều ẩn chứa những nội hàm vô cùng sâu sắc và liên hệ mật thiết với từng hơi thở trong cuộc sống của chúng ta.

Có một nét văn hóa mà không thể không nhắc đến, chính là nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình – Chữ Hán chính thể. Tuy nhiên, sau khi chữ Hán bị giản lược, thì những nội hàm ấy cũng bị mất đi, thay vào đó là sự lệch lạc, thậm chí biến dị. Đồng thời, chữ Hán giản thể còn mang một điềm báo chẳng lành.

Có một cư dân mạng Trung Quốc đã liệt kê ra hàng loạt các chữ Hán giản thể. Tác giả đối chiếu những chữ Hán giản thể này với các hiện tượng tai nghe mắt thấy trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Và điều nhìn thấy được khiến người ta không khỏi phải giật mình kinh ngạc.

1. Thân bất kiến

Chữ “Thân” chính thể 親 (người thân)


Chữ “Thân” giản thể 亲, mất chữ “Kiến”  


Thân bất kiến: Người thân không gặp được nhau. Một năm chẳng biết cha mẹ, con cái, người thân tại Trung Quốc được đoàn tụ bao nhiêu lần? Nơi nào cũng thấy lưu lại những cuộc tình chớp nhoáng. Các quý ông, quý bà khinh thường đạo lý, lang chạ khắp nơi. Điều này khiến những người cùng huyết thống cũng chẳng  được vui vầy bên nhau.

2. Sản bất sinh

Chữ “Sản” chính thể 產 (sinh sản)


Chữ “Sản” giản thể 产, mất chữ “Sinh” 生 


Sản bất Sinh: Đậu thai mà không sinh. Ngày nay các phòng khám tư, phẫu thuật phá thai ở Trung Quốc nơi nào cũng thấy. Ngoài ra, chữ “Sản” chính thể còn có nghĩa là của cải về mặt đất đai. Ruộng màu thì bị bỏ hoang, mọi người đổ dồn về  các khu công nghiệp và thành phố lớn, không cần ngũ cốc chỉ lo kiếm tiền.

3. Hương vô lang

Chữ “Hương” chính thể 鄉 (Quê hương)


Chữ “Hương” giản thể 乡, mất chữ “Lang” 郎 – những người trẻ 


Hương vô Lang: Quê nhà không có người trẻ. Ở Trung Quốc, ai nấy đều đổ về thành phố  lập nghiệp mưu sinh. Trong thôn làng khó có thể bắt gặp những khuôn mặt trẻ trung. Khắp cả ngôi làng chỉ thấy những người già yếu, trẻ con và người  tàn tật. Đây cũng chính là một cảnh tượng thường thấy nhất tại Trung Quốc  ngày nay.

Người già cô đơn ở ngoại thành Trung Quốc.

4. Ái vô tâm

Chữ “Ái” chính thể 愛 (Yêu)


Chữ “Ái” giản thể 爱, mất chữ “Tâm” 心 – trái tim 


Ái vô tâm: Yêu không xuất phát từ trái tim. Ngày nay thử hỏi có mấy người còn giữ tấm chân tình son sắt, hay là chỉ quen chạy theo thời thế xô bồ. Đại gia cặp với chân dài. Kẻ ham tiền, người háo sắc, hễ có lợi là trao thân. Tình một đêm, tình sét đánh, tình chớp nhoáng khiến nhà nghỉ mọc lên nhan nhản khắp nơi. Quả là tình yêu không còn sự kết nối thiêng liêng  và trách nhiệm suốt cuộc đời.

5. Miến vô mạch

Chữ “Miến” chính thể 麵 (Mỳ)


Chữ “Miến” giản thể 面, mất “bộ Mạch”麥 – Lúa mỳ 


Miến không mạch: Bột mỳ không làm từ lúa mạch, thì làm từ thứ gì, bạn  thử đoán xem? Bột mỳ không có mùi lúa mạch, kỳ thực đã trộn lẫn phoóc môn. Đây cũng là tình trạng làm giả thực phẩm, gạo giả… phổ biến trong xã hội Trung Quốc ngày nay.

Hàng ở Trung Quốc giả từ thương hiệu giả đi.

6. Tiến bất giai

Chữ “Tiến” chính thể 進 (Tiến tới)


Chữ “Tiến” giản thể 进, mất chữ “Giai” 佳 – Tốt 


Tiến bất giai: Bước tiếp sẽ không may mắn, mà thành con ếch ngồi trong  đáy giếng. Chữ Tiến chính thể là bước tới điều tốt đẹp (Giai) thì nay là tiến xuống giếng (Tỉnh 井: cái giếng). Sự nghiệp cả đời truy cầu chỉ như mò trăng đáy nước, tiền tài cũng như hái hoa trong gương.

ADVERTISEMENT


7. Ứng vô tâm

Chữ “Ứng” chính thể 應 (Đáp ứng)


Chữ “Ứng” giản thể 应, mất chữ “Tâm” 心 


Ứng vô tâm. Lời nói gió bay, dẫu hứa hẹn cũng khó thành hiện thật, nói lời  lật lọng mà không biết ngượng ngùng. Người xưa rất xem trọng chữ Tín, coi lời thề hẹn nặng tựa núi Thái Sơn,  lời nói ra là đã được Trời Đất làm chứng, ắt phải thực hiện. Nhưng trong xã hội Trung Quốc ngày nay ‘thành tín’  ngày càng mai một, dường như đã trở thành một thứ gì đó xa xỉ không thể với tới.

8. Thính bất nhĩ

Chữ “Thính” chính thể 聽 (Nghe)


Chữ “Thính” giản thể 听, mất chữ “Nhĩ” 耳 – tai 


Chữ “Thính聽” (lắng nghe) ở dạng chính thể gồm bộ “Nhĩ耳” (tai), bộ “Vương 王” (vua), chữ “Thập 十” (mười), chữ “Mục目” (mắt), chữ “Nhất一” và chữ “Tâm 心”.

Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà cổ nhân  muốn gửi gắm. Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy họ quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng  đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn  và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ,  điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều  họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe  trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu  và trân trọng người khác.

Chữ “Thính” 听 giản thể là Thính thiếu Nhĩ: Nghe mà thiếu mất tai. Nó chỉ gồm bộ “Khẩu口” (cái miệng) và bộ “Cân斤” (cái rìu). Đại ý là không  phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe như văn hóa truyền thống, mà là đáp lại bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn.

9. Ưu vô lo

Chữ “Ưu” chính thể 優 (Ưu tú)


Chữ “Ưu” giản thể 优, mất chữ “Ưu” 憂 – ưu lo 


Ưu cần phải có lo: Muốn thành người ưu tú, xuất chúng cần phải biết lo lắng cho đại cục, cho người khác. Bậc hiền tài như vậy trong thiên hạ là khó cầu nhất. Người tài thời nay nghĩ đến vinh hoa, phú quý cho riêng mình hay lợi ích cho muôn dân? Những người nhiều tài lắm tật, e rằng lợi ít hại nhiều. Kiểu người này chỉ khiến con người càng thêm lo sầu.

10. Thái vô thủ

Chữ “Thái” chính thể 採 (Hái)


Chữ Thái giản thể 采, thiếu bộ Thủ 手 – Cái Tay 


Thái vô Thủ: Muốn hưởng mà không muốn động tay ra hái. Ngồi mát ăn bát vàng  người người muốn, đục nước béo cò kẻ kẻ cầu. Đây cũng có thể nói là một  thực trạng dễ thấy trong xã hội ngày nay. Những cậu ấm cô chiêu Trung Quốc, những thế hệ trẻ chỉ biết ‘cúi đầu’ chờ đợi từ sự sắp đặt của cha mẹ mình, chỉ mong cầu hưởng thụ cuộc sống giàu sang mà không biết ra tay làm việc.

11. Bút… cong

Chữ “Bút” chính thể 筆


Chữ “Bút” giản thể 笔 


Ngày nay bút không còn thẳng. Con người Trung Quốc thời nay thường dùng bút cong mà viết  sử nên gọi là bẻ cong sử sách. Bút ngay sử thẳng xưa đã có, tới nay  sóng gió đã cuốn trôi.

12. Tân hữu binh

Chữ “Tân” chính thể 賓 (Quan khách)


Chữ “Tân” giản thể 宾, thiếu chữ Bối 貝 – Bảo bối, thêm chữ “Binh” 兵 – Binh lính 


Xưa kia khách quý đến nhà mang theo quà quý (貝– Bảo bối). Chủ nhà bày biện yến tiệc, khoản đãi với tấm lòng thành. Ngày nay binh lính  tới nhà (Bộ “Miên” 宀 chỉ mái nhà), không chỉ thiếu quà quý, mà còn có binh đao. Từ xưa đã gọi chuyện này là loạn cõi thế gian.

13. Miếu bất triều

Chữ “Miếu” chính thể 廟 (Chùa chiền)


Chữ “Miếu” giản thể 庙, thiếu chữ “Triều” 庙 – nghi thức bái lạy 


Miếu bất Triều: Trong miếu mà không thấy thật tâm tiến hành những nghi lễ  bái lạy Thần Phật. Ngày xưa chùa chiền là nơi con người ăn năn sám hối, bởi con người kính cẩn bái lạy Thần Phật, mong tìm được sự thanh thản trong tâm. Ngày nay, chùa chiền như chiếc áo khoác của những kẻ vô Thần, trở thành  thắng cảnh du lịch, thành nơi kiếm chác, trao đổi của kẻ phàm tục.  Người mà quỷ thần cũng không sợ, ắt sẽ to gan dám làm càn.

Phương trượng Thiếu Lâm Tự Thích Vĩnh Tín, còn được gọi là CEO Thiếu Lâm Tự. Thánh địa tu hành linh thiêng giờ trở thành một công ty…

14. Võng vô mịch

Chữ “Võng” chính thể 網 (Lưới)


Chữ “Võng” giản thể 网, mất bộ Mịch 糸 – sợi cước 


Lưới không có cước, lưới vô dụng, cá lọt lưới trước mắt như thể trêu ngươi.  Pháp luật Trung Quốc cũng như một chiếc lưới. Ngày xưa Thiên tử cũng phải chịu tội  như thứ dân. Ngày nay quyền thế thay pháp luật một cách vô nguyên tắc,  thậm chí có thể lợi dụng quyền thế trong tay mà một tay che cả bầu trời.

15. Hậu nhất khẩu

Chữ “Hậu” chính thể 後 (Đời sau)


Chữ “Hậu” giản thể 后, thêm chữ nhất 一, bộ khẩu 口 


Đời sau chỉ được sinh một con, về già cha mẹ ốm đau bệnh tật khó long  nhờ vả.. “Kế hoạch hóa gia đình là quốc sách, sinh quá một con gia đình  nghiêng ngả” – Đây là chính sách một con từng làm điêu đứng xã hội Trung Quốc. Bao nhiêu hệ lụy của xã hội, quả thực cũng khiến lòng người âu lo.

Ở trên chỉ là một số ít ỏi được đưa ra, nhưng cũng đủ để biết rằng chữ Hán sau khi bị giản lược thì những nội hàm tinh túy của  văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng bị mất đi, thay vào đó là sự sai lệch, biến dị.

Mà điều đáng tiếc hơn cả là, sự suy đồi và trượt dốc trong xã hội, dường như cũng đã và đang diễn ra đúng theo từng sự lệch lạc trong  chữ Hán giản thể đó. Vậy nên, có người Trung Quốc cho rằng, những chữ Hán giản thể này giống như là  một điềm báo chẳng lành vậy!

Quả đúng là:

Học giả chân chính đứng một bên,
Cải cách chữ Hán mù văn hóa.
Thiên thu vạn đại trò hề diễn,
Duy chỉ điềm báo chẳng hề sai.

Lưu Hà sưu tm
Hiểu Mai biên dịch