Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

RƯỢU RẮN

(TIẾP) CHUYỆN NHẶT TỪ MỒM CHỊ TÒA ÁN
Hôm rồi, chị tòa án kể cho nghe chuyện này:
Một bà trên sáu mươi tuổi tìm đến phòng của chị. Chị hỏi có việc chi rứa bà, kiện cáo đất đai hay có việc chi khác! Bà già cởi nón, khép nép ngồi xuống ghế, húng hắng bảo:
- Ở đây mát hè!
Chị ngước lên, nói dạ, nhưng có chuyện chi rứa. Bà già ho 3 cái, nói "Tui đến hỏi thủ tục...ly dị".
Chị nghe xong suýt ngã vật ra, nhưng vẫn từ tốn hỏi lại:
- Dạ, bà hỏi thủ tục cho ai? Con hay cháu ạ?
Thở dài cái thượt, bà già bảo:
- Cho tui chớ ai! Nói thật với chị tui chịu hết nổi lão nớ rồi. Kể ra thì rầy rà, nhưng... tui phải bỏ lão thôi chị ạ!
Rót ly nước lọc, chị động viên bà già kể ra hết sự tình, coi có thể cứu vãn được không. Chớ đầu bạc răng long cả rồi, bỏ nhau làng xóm họ cười chết. Nhấp ngụm nước, bà già lắc đầu nguầy nguậy một hai xin bỏ:
- Để kể cho chị nghe. Tui năm ni 63, lão nớ 73, cháu nội, cháu ngoại đủ cả rồi. Rứa mà trưa mô lão cũng đuổi tôi chạy quanh vườn như gà đòi đạp mái. Mùa hè nắng nôi đã khó chịu trong người, nhưng cứ ăn xong, làm đôi chén riệu rắn vào, lão lại đuổi tôi từ nhà ra vườn, tui chạy ra vườn lão lại đuổi tôi chạy vòng quanh mấy bụi chuối. Có bữa nhọc quá tui nằm vật xuống giữa vườn chuối, nói ông thích mần thì để tối mần, giờ tui chạy hết sức rồi. Rứa mà lão không chịu, bồng bằng được tui vô nhà để mần cái rồi mới tha cho. Chị thấy có ai khổ như tui không? Tui hết chịu nổi lão điên ấy rồi.
Chị nghe đến đây không chịu nổi liền phì cười, nói "Dạ công nhận ông nhà khỏe thật. Nhưng cháu hỏi tí, ông đuổi bà để mần cái là mần cái chi ạ?"
Bà già đỏ mặt nói:
- Thì để... để... đạp mái chớ mần chi nựa! Tui nói đạp mái kể ra cũng không được tế nhị cho lắm, nhưng chị ơi, lão ta cứ rượu vào là hùng hùng hổ hổ như gà đạp mái chị ạ! Mà sức tui trừ hèn rồi, chạy mô nổi.
Chị tòa án gật gật đầu đồng cảm nói, trường hợp ni thì đúng là hi hữu trong ngành tòa án. Chừ bác cứ về suy nghĩ thật kỹ đi, nếu vẫn không chịu nổi thì lúc ấy viết đơn mang lên đây bọn cháu xem xét để giải quyết. Bà già run run hỏi lại "Rứa trong đơn tui nên ghi lý do xin ly dị là chi rứa chị?". Chị bảo, dạ thì cứ ghi những lý do khiến bà không chịu nổi thôi, nhưng đừng có ghi lý do là vì chồng khỏe quá hay suốt ngày đòi đạp mái là được.
Tháng sau hai người ra tòa. Gọi là ra tòa nhưng chỉ cần đến viết cái giấy xin ly hôn, ký vào mấy tờ A4, nộp 200 nghìn tiền án phí rồi ra về. Nghe chị tòa án kể, bà già ghi lý do ly dị là "Tui khổ vì ông nớ khỏe quá, chịu không nổi".
Mình nghe kể mà cười như ma làm. Chị tòa án hỏi cười chi mà cười. Mình nhìn lên trần nhà, mắt chớp chớp nói "Chị cho em số điện thoại ông 73 tuổi phát". Chị hỏi để mần chi!
Mình nói, để xin lão chai riệu rắn về uống.
(Song Hà).

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

LÊNH ĐÊNH.

Ngồi bệt ở vỉa hè nhiều năm tháng mới thấy Sài Gòn sao lắm kiếp lênh đênh. Những ngày gần đây mưa rất nhiều không lối thoát, nước lai láng tràn ngập vỉa hè càng thấy thêm nhiều số phận lênh đênh. Có nước nhiều mới có lênh đênh, hết nước nôi lênh đênh kiểu gì? Nhiều ngày nay nước Kinh Tẻ sau mỗi cơn mưa dâng cao không rút nên không còn ngồi bệt được nữa vì sợ ướt đủng quần. Lại đứng lênh đênh. 

Những nhân vật lịch sử cũng thường lênh đênh. Năm 1933 ông Bảo Đại chỉ định ông Ngô Đình Diệm làm thượng thư bộ Lại. Nhưng chỉ làm được vài tháng thì ông Diệm xin từ chức sống kiếp lênh đênh suốt hai mươi năm.

Hai mươi mốt năm sau, vào năm 1954 quốc trưởng Bảo Đại đồng ý chỉ định ông Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng để lập chính phủ mới tại Sài Gòn. Lúc ấy ông Diệm đã mấy năm ở Mỹ rồi ở Pháp. Suốt mấy tháng đầu năm 1954 hai ông Bảo Đại và Ngô Đình Diệm cùng ở Pháp nhưng không liên lạc với nhau vì ông Diệm sĩ diện và ông Bảo Đại không muốn dùng ông Diệm. Ông Diệm muốn được quốc trưởng Bảo Đại chính thức bổ nhiệm làm thủ tướng nhưng im lặng nhẫn nhục chờ mãi mà không thấy ông quốc trưởng nói gì. Rồi cuối cùng khi tình hình quân sự của người Pháp trở nên quá nguy kịch tại Đông Dương, Bảo Đại phải cắn răng gọi ông Diệm đến yêu cầu về Sài Gòn làm thủ tướng.

Ông Bảo Đại sau này viết: Lúc ấy trong các phe phái Quốc gia tôi không biết chọn ai ngoài ông Diệm. Biết rằng rất bất lợi vì tính ông Diệm khe khắt cực đoan, là một người tôn sùng Nho giáo nhưng ông ta lại quá ngoan đạo, chỉ biết trung thành với giáo hội Công giáo của ông ấy, trong khi dân Việt mình chẳng mấy người theo đạo Gia-tô. Nhưng lúc ấy người Mỹ chỉ đồng ý ủng hộ ông Diệm… nên tôi cũng chẳng biết làm sao.

Ông Bảo Đại đã từng làm việc với ông Ngô Đình Diệm mấy tháng tại Huế.  

Vào đầu năm 1933 khi ông Nguyễn Hữu Bài, đang làm thượng thư bộ Lại kiêm quan “tể tướng” trong triều đình Huế, ra sức ngợi ca giới thiệu ông Ngô Đình Diệm với vua Bảo Đại thì ông Diệm mới 32 tuổi. Theo ông Bài, ông Diệm dù còn trẻ nhưng rất giỏi dang, khi mới tốt nghiệp trường Hậu bổ đã được triều đình cho làm tri huyện Hải Lăng (Quảng Trị), quản đạo Ninh Thuận, tỉnh trưởng Bình Thuận. Ông Bài nói chỉ có ông Diệm mới có thể đủ tài năng làm thượng thư bộ Lại thay thế cho ông Bài.

Ông Bài nhấn mạnh tới công lao dẹp loạn của ông Diệm khi đang làm việc ở Ninh Thuận và Bình Thuận mấy năm gần đây khi bọn ly khai người Chăm và cộng sản địa phương nổi loạn. Nghe ông Bài nói khẩn trương một hơi dài nhưng ông Bảo Đại rất thờ ơ. Ông hỏi lại: Ông Diệm mới ra trường đã được bổ làm tri huyện, mới trên ba mươi đã làm tuần vũ, có phải vì ông ta theo đạo Gia-tô giống như ông hay không? Nay lại đưa ông ta lên làm thượng thư quá trẻ thì người ta có ý nghĩ gì không tốt về mình không?

Người ta đây là người Pháp.

Người Huế kể lại ông Bảo Đại không ưa thích những người đàn ông trong gia đình ông Diệm, và có lẽ ghét ông Diệm nhất. Làm quan khá thanh liêm nên cha ông Diệm là ông Ngô Đình Khả không giàu có lại bị bãi quan sớm. Các con trai của ông Khả như ông Khôi, ông Thục, ông Diệm, ông Nhu… do theo đạo Công giáo nên được giáo hội giúp đỡ lo chuyện học hành, nhưng không được đỡ đần tiền bạc. Họ sống khá cần kiệm thậm chí hà tiện, nhưng lúc nào cũng cố biến cái mặc cảm tự ti nghèo đói thành cái tự tôn khinh khỉnh của bọn con quan gia giáo có học. Bảo Đại thì rất phóng khoáng tự nhiên, nghe người ta nói nhiều về vẻ đạo mạo giả dối của anh em nhà Ngô Đình thì không thích.

Bảo Đại được triều đình và người Pháp cho sang Pháp du học từ nhỏ. Sống trong gia đình cha mẹ nuôi người Pháp khá đầy đủ, rất được nuông chiều, được chu cấp nhiều tiền để ngoài giờ học ra ngoài phố tiêu pha giải trí thoải mái. Sau này rất nhiều người chỉ chú ý tới dáng vẻ sang trọng ăn chơi của ông vua trẻ, hay bàn tán về thú vui săn bắn và tính chất đào hoa không thể thiếu vắng đàn bà một giây một phút của Bảo Đại… chớ ít khi nào họ đánh giá được con người thật rất phức tạp của ông này.

Hình như chỉ có ông Hồ Chí Minh là hiểu rõ được cái bản năng hấp dẫn chính trị đầy bcủa ông Bảo Đại nên năm 1945 đã cố gắng lôi kéo xử dụng ông Bảo Đại trong vai trò cố vấn một thời gian ngắn ở Hà Nội. Mà rồi ông Hồ nhanh chóng cảm thấy không yên tâm khi các giới chính trị ngoại giao trong và ngoài nước quá quan tâm tới một cựu hoàng Bảo Đại hết sức phong độ hơn là để ý tới một chính phủ Việt Minh gồm các thành viên ăn mặc nghèo nàn đang mời ông vua hết thời Bảo Đại làm cố vấn.

Nhận xét nhạy bén nên chỉ sau vài tháng ra Hà Nội làm cố vấn, Bảo Đại nhận ra rằng Việt Minh đang dần tìm cách xa lánh mình, ông tự an ủi: Chắc do mình đẹp trai sang trọng quá nên họ ganh ghét không ưa? Bảo Đại được học hành nhiều, cũng hiểu rất rõ quân chủ phong kiến lụi tàn và cộng sản mới nổi dậy đầy hãnh tiến cũng khó mà hòa hợp được. Thế nên, nhân một chuyến công cán nước ngoài do ông Hồ Chí Minh sắp đặt, ông Bảo Đại đi qua nước Tàu rồi lênh đênh ở Hongkong trong tình cảnh vô cùng thiếu thốn tiền bạc.

Tiền thì thiếu nhưng tình thì rất bao la. Làm cố vấn cho ông Hồ ở Hà Nội mấy tháng dù không có tiền bạc dư dã nhưng ông Bảo Đại cũng cặp kè được với một bà Bắc kỳ xinh quá đã. Lênh đênh qua Hongkong mới mấy ngày ông có thêm bà nữa làm nghề vũ nữ nổi tiếng sắc hương trong giới ăn chơi bên đó. Sau này có nhà báo phỏng vấn bà vũ nữ Hongkong sao biết ông Bảo Đại không tiền mà cứ bám theo, bà Tàu này thành thật trả lời: Yêu. Yêu muốn chết.  

Quay trở lại năm 1933.

Ông Nguyễn Hữu Bài người Quảng Trị và ông Ngô Đình Khả người Quảng Bình là hai vị quan lớn theo đạo Gia-tô biết tiếng Pháp và do người Pháp tiến cử làm việc trong triều đình Huế. Cả hai ông đều ra mặt chống đối người Pháp khi họ truất ngôi vua Thành Thái. Ông Ngô Đình Khả bị bãi quan trong khi ông Nguyễn Hữu Bài vẫn tiếp tục làm quan sau vụ việc đó. Người ta tìm hiểu thêm và biết ông Khả bị bãi quan là vì ông tự ý xây một nhà thờ Công giáo trong thành nội Huế chớ không phải vì vụ truất phế vua Thành Thái.

Ông Nguyễn Hữu Bài gả con gái cho ông Ngô Đình Khôi (là con trai trưởng của ông Ngô Đình Khả và là anh ông Diệm). Ông Bài coi ông Diệm như con nuôi và nâng đỡ ông Diệm trên con đường quan lộ nên ông Diệm thăng chức rất mau. Năm 1933 khi Bảo Đại muốn thay đổi các vị quan già theo Nho học bằng các quan trẻ biết tiếng Pháp thì ông Bài đã tiến cử ông Diệm làm thượng thư bộ Lại. Bảo Đại không thích lắm nhưng vẫn phải chấp nhận. Hỏi ông Bài: Ông Diệm làm thượng thư được không? Sao trẫm thấy ông ấy đàn ông không ra đàn ông mà đàn bà cũng chẳng ra đàn bà? Sao sao ấy?

Ông Bài giải thích: À… thưa hoàng thượng, trong dân gian người ta gọi những người như vậy là loại người có cốt tu đó hoàng thượng. Với sự phù hộ của đấng tối cao họ sẽ làm được tất cả. Vua Bảo Đại quay lại nhìn ông Bài cười bí hiểm: Cốt tu kể cả tu đạo có phù hợp với việc làm chính trị rắc rối hay không? Trẫm nghe khanh nói thấy còn nghi ngờ lắm. Lỡ ông ta làm việc không ra làm sao thì trẫm còn mặt mũi nào.

Thế nên ông Bài đã phải dành một quãng thời gian vận động thêm với người Pháp mới đưa được ông Ngô Đình Diệm từ Bình Thuận ra Huế làm thượng thư.

Năm 1933 Bảo Đại muốn thay đổi nhân sự cao cấp trong triều đình nhằm hướng tới việc cải tổ sao cho triều đình có thêm chút quyền lực hành chính. Học hành lâu năm từ Pháp về, nhà vua cảm thấy công việc bù nhìn của mình tại triều đình chán quá. Năm vị thượng thư già theo Nho học là Nguyễn Hữu Bài thượng thư Bộ Lại, Tôn Thất Đàn thượng thư Bộ Hình, Phạm Liệu thượng thư Bộ Binh, Võ Liêm thượng thư Bộ Lễ, Vương Tứ Đại thượng thư Bộ Công được cho nghỉ để thay thế bằng năm vị trẻ tuổi tài cao theo Tây học là: Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn.

Ý đồ thay đổi của Bảo Đại nhằm đòi hỏi người Pháp giao bớt quyền hành cho triều đình Huế nhắm nhiều vào chức năng bộ Lại (nội vụ) của ông Diệm. Ông Diệm cũng có đưa ra một số ý kiến đòi hỏi ngưởi Pháp phải thay đổi một số cơ cấu quản lý hành chính, cơ chế xét xử và cải cách chút ít nền tư pháp bảo hộ, tăng cường quyền bầu cử… cho Trung bộ (nhưng chắc chắn những ý kiến này thực sự là của vua Bảo Đại chớ không phải của ông Diệm).

Người Pháp dĩ nhiên là không thể đồng ý với bất cứ sự thay đổi nào, ông Diệm liền xin từ chức thượng thư về nhà đọc sách. Vua Bảo Đại hỏi ông Bài: Sao khanh nói hễ có cốt tu, tu đạo thì chuyện gì người ta cũng làm được? Chỉ có trở ngại một chút mà ông ấy đã bỏ ngang là sao?

Trong thâm tâm ông Diệm cũng không phục ông Bảo Đại, nên việc về nhà đọc sách là để tránh chạm mặt vua. Có lẽ anh em ông Diệm nghe người ta nói lén quá nhiều về lai lịch Gò Công của Bảo Đại. Ông Diệm khó tính cực đoan là vậy, lai lịch không rõ của nhà vua có liên quan gì tới chuyện làm thượng thư? Sống khắc khổ như một nhà tu, không quan tâm tới đàn bà… ông Diệm cũng khó lòng chấp nhận chuyện phóng túng của Bảo Đại.

Trong số những vị thượng thư trẻ theo Tây học làm việc tại triều đình Huế vào năm 1933 giống như ông Ngô Đình Diệm còn phải nhắc hai người khá nổi tiếng khác là Phạm Quỳnh và Bùi Bằng Đoàn.

Phạm Quỳnh là một nhà báo, một học giả nổi tiếng ở Bắc kỳ, người viết chính của Nam Phong tạp chí. Ông rất nổi tiếng với câu nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”. Nước ta hiện nay còn quá nhiều Kiều nên nước ta sẽ còn mãi. Cuộc đời và nhân sinh quan của Kiều theo quan điểm của các nhà Nho là không tốt, nên khi khen Kiều thì ông Phạm Quỳnh vô tình rơi vào thế đối lập với các nhà Nho xứ Bắc.

Phạm Quỳnh có khuynh hướng thân Pháp trong khi Ngô Đình Diệm luôn hướng về ông hoàng Cường Đễ (dòng dõi của Hoàng tử Cảnh, theo đạo Gia-tô và sống lưu vong bên Nhật). Phạm Quỳnh tiếp tục làm thượng thư và tiếp tục chơi thân với người Pháp trong khi ông Ngô Đình Diệm buông xuôi, lênh đênh chỗ này chỗ khác chờ người Nhật thắng thế ở Đông Dương sẽ giúp ông làm chính trị tốt hơn. Ông Diệm chờ đợi mười hai năm mà người Nhật cũng chẳng giúp ông.

Khi người Nhật sang Đông Dương vào khoảng 1939-1940 thì ông Phạm Quỳnh thân Pháp và anh em ông Diệm tôn sùng Nhật trở thành thù địch không đội trời chung. Tháng 3 năm 1945 Nhật làm đảo chính Pháp ở Đông Dương, họ tuyên bố trả chính quyền lại cho vua Bảo Đại. Ai cũng nghĩ ông Diệm sẽ làm thủ tướng… nhưng rồi cuối cùng người Nhật và vua Bảo Đại lại chọn ông Trần Trọng Kim, một nhà giáo lâu năm và là một học giả uyên thâm người Hà Tĩnh.

Nhiều ngưởi tin rằng Phạm Quỳnh đã vận động với Bảo Đại không chọn ông Diệm, người khác lại cho rằng người Nhật không thích ông Diệm do ông thiếu vóc dáng, thiếu tầm cở uy tín chính trị và cũng không biết ngoại giao. Cũng có tin do ông Diệm theo đạo Công giáo gốc nhưng người Nhật thì không thích đạo này.

Có sách nhắc tới chuyện hai ông Ngô Đình Diệm và Trần Trọng Kim vào tháng 3 năm 1945 cùng có mặt trong tổng hành dinh của người Nhật ở Sài Gòn. Người Nhật mời ông Kim vào phòng riêng và nói: Ông phải thu xếp ra Huế ngay vì hoàng đế Bảo Đại đang muốn gặp ông có chuyện gấp.

Ông Kim bước ra ngoài hành lang thì ông Diệm chạy tới nôn nóng hỏi: Ông có nghe họ nói gì về tôi không? Ông có nghe người Nhật nói bao giờ họ sẽ đưa ngài Cường Đễ về nước không? Ông Kim nói với ông Diệm: Người Nhật bảo tôi ra Huế ngay để gặp hoàng thượng có chuyện gấp. Ông Diệm thở hắt ra thất vọng: Họ bỏ rơi tôi rồi. Vậy mà họ bắt tôi ngồi chờ ở đây mấy ngày liền.

Khi nghe tin từ Huế báo vào ông Trần Trọng Kim đã được hoàng đế Bảo Đại chỉ định làm thủ tướng, ông Diệm rất chán nản: Ông hủ nho đó cộng với ông hoàng ăn chơi đó thì sẽ làm được gì?

Ông Diệm không được người Nhật đưa lên làm thủ tướng vào năm 1945 có lẽ đó là một điều rất may mắn, vì nội các của ông Kim tồn tại được có mấy tháng thì Bảo Đại giải tán hết để bàn giao chính quyền (chẳng có gì) lại cho Việt Minh. Do không làm thủ tướng nên ông Diệm vẫn còn nhiều cơ hội chính trị dành cho quãng thời gian sau này.

Cách mạng tháng Tám mới được vài ngày thì ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Khôi (anh ông Diệm từng làm tổng đốc Nam Ngãi) cùng với người con trai trưởng của ông Khôi là Ngô Đình Huân bị cán bộ Việt Minh bắt đem đi ra khỏi Huế, giết chết và chôn cùng một nơi. Hai kẻ thù chẳng đội trời chung lại bị giết và chôn chung một chỗ.

Sài Gòn có hai ngày 30 tháng tư chớ không phải chỉ có một ngày. Hai ngày 30 tháng tư cách nhau đúng 20 năm chẵn. Ngồi lần giở những trang sử vỉa hè mà sợ, vì sao những tháng ngày lịch sử trái ngang trùng hợp đến lạ lùng?

Năm 1954 khi chưa có hiệp định Genève phân chia hai miền Nam Bắc tại sông Bến Hải thì ông Diệm đã về tới Sài Gòn. Ở Pháp khá lạc quan nhưng vừa về đến Sài Gòn thì ông chán ngay vì người Pháp không ủng hộ ông và những người thân Pháp tìm cách chống lại ông. Cầm đầu quân đội Quốc gia là tướng Nguyễn văn Hinh nói tiếng Pháp giỏi hơn tiếng Việt, cầm đầu công an cảnh sát là tướng Bảy Viễn thủ lĩnh Bình Xuyên chuyên bảo kê sòng bạc, buôn bán ma túy, tổ chức mãi dâm. Hai người này cương quyết loại ông Diệm.

Quân đội của các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài cũng không chịu theo ông Diệm. Nhiều lần ông Diệm chán nản muốn bỏ hết quay về Pháp. Thế nhưng ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn và đức cha Ngô Đình Thục cố gắng thuyết phục ông Diệm ở lại. Sau một thời gian ông Diệm có thêm lực lượng gần một triệu người Công giáo Bắc di cư hậu thuẫn chế độ cùng với sự ủng hộ tài chính dồi dào của người Mỹ.

Tranh giành quyền bính khá quyết liệt với các phe phái rồi cũng có kết quả tốt nên dần dần ông Diệm vững tâm mà ở lại Sài Gòn.

Ngày 30/4/1955 là ngày sinh tử của ông Diệm. Ngày đó quân nhảy dù dưới quyền của ông Đỗ Cao Trí đang đánh nhau với lính Bình Xuyên tại khu Nhà Bè nhưng đang ngóng lệnh của tướng Hinh để quay về Sài Gòn lật đổ ông Diệm. Sáng đó các phe phái Quốc gia tụ họp tại Tòa đô chính Sài Gòn ra thông báo ủng hộ ông Diệm. Sáng đó tướng Nguyễn văn Vỹ cũng chỉ huy ngự lâm quân định kéo hết quân từ Đà Lạt về Sài Gòn lật đổ ông Diệm theo lệnh của tướng Hinh (đang công tác bên Pháp). Ông Vỹ cùng các cận vệ đến dinh thủ tướng làm áp lực yêu cầu ông Diệm phải ra đi.

Cũng may mắn là lúc ấy những người đang họp tại Tòa đô chính gần đó đã xong nên kéo tới dinh bắt sống ông Vỹ và giải vây cho ông Diệm. Nghe tin tướng Vỹ bị mấy người này bắt giữ, ông Đỗ Cao Trí đòi ngưng hành quân để kéo lính nhảy dù về can thiệp.

Ông Diệm phải nhờ tới sự ủng hộ nhiệt tình của ông Dương văn Minh mới giải quyết rốt ráo vấn đề. Ông Minh lập tức yêu cầu các đơn vị quân đội đang đóng quân hay đang hành quân ở Sài Gòn cam kết ủng hộ chính phủ ông Diệm, cũng ngăn không cho ông Trí di chuyển quân nhảy dù về. Ông Minh lý luận với các sĩ quan quân đội dưới quyền: Cả trăm năm nay người Pháp đã đô hộ nước ta. Nay ông Diệm mang lại cơ hội độc lập tại sao chúng ta chống lại?  

Tới chiều tối hôm đó mọi việc mới tạm ổn khi tướng Nguyễn văn Vỹ được dàn xếp ra đi êm thắm. Chuyện diệt Bình Xuyên, diệt Hòa Hảo… kể cả những chuyện cứu chế độ ông Diệm trong những giây phút hấp hối mà ông Dương văn Minh đã làm vẫn không làm vui lòng anh em ông Diệm, ông Nhu khoa bảng luôn chế nhạo ông Minh học ít: Thằng Minh tướng to như con voi nhưng óc nhỏ như con ruồi!

Nhiều năm ông Minh bị hai anh em ông Diệm sau khi vắt chanh bỏ vỏ cho ngồi chơi xơi nước. Lênh đênh.

Kể cả viên sĩ quan thân cận của nhà Ngô là ông Đỗ Mậu người Quảng Bình sau khi làm đại tá nhiều năm cũng không được thăng hàm tướng bởi bị ông Nhu chê: Thằng Mậu mới có diplôme (bằng cấp hai) mà đòi lên thiếu tướng cái chi? Không sợ bọn Hà Nội hắn cười à? Ông Nhu đâu biết ngoài kia người ta đâu có căn cứ vào học vấn hay bằng cấp để thăng hàm cấp tướng?

Ông Đỗ Mậu lý giải: Sự trịch thượng của ông Nhu xuất phát từ bằng cấp thì ít, mà xuất phát từ cuồng tín tôn giáo hay địa phương tính thì nhiều. Do ông Minh là người Nam lại theo đạo Phật nên anh em ông Diệm không hề tin tưởng. Ông Mậu là đồng hương nhưng theo Phật giáo nên cũng không thể tiến thân.

Thế nên… thù oán chất chồng thù oán mà ông Minh đã ra lệnh giết chết ông Diệm và ông Nhu vào sáng ngày 2/11/1963. Sau ngày đảo chính làm chính trị chưa được bao lâu ông Minh lại bị đám tướng lĩnh trẻ tước hết quyền lực rồi đẩy ra nước ngoài cho tới đầu thập niên 1970 mới được về lại Sài Gòn. 

Lẽ ra ông nên lênh đênh tới cuối đời lại hay. Nhưng ngày 28/4/1975 ông lại đòi lên làm tổng thống.

Ông Minh là tổng thống cuối cùng ở Sài Gòn. Ngày 30/4/1975 là ngày chế độ Sài Gòn dưới quyền ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Người sĩ quan cao cấp nhất của phía Hà Nội mang cấp bậc đại tá có mặt tại dinh Độc Lập vào sáng ngày 30/4/1975 tiếp xúc với ông Dương văn Minh là nhà báo quân đội Bùi Tín. Ông Minh sống tại Sài Gòn thêm mấy năm thì được ông Võ văn Kiệt can thiệp xin qua Pháp.

Ông Bùi Tín là con trai của ông Bùi Bằng Đoàn từng làm thượng thư năm 1933 dưới triều vua Bảo Đại cùng với ông Ngô Đình Diệm và ông Phạm Quỳnh.

Sau này, nhân một chuyến công tác Âu Châu thì ông Bùi Tín không quay trở về nước nữa. Ở lại bên đó, ông Bùi Tín viết được khá nhiều. Sống lưu vong ở Pháp chắc ông Tín cũng có dịp tiếp xúc trở lại với ông Minh.

Nếu gặp nhau chẳng biết hai người đã nói gì? Bởi lúc đó cả hai người cùng rất lênh đênh.

17/10/2017.
Fb Momentary

THƠ ĐƯỢC VỢ

.  THƯ GIÃN

.                

Địa phương nọ có ông giáo làng mở lớp dạy học , một hôm sau khi giảng bài xong thày nói:
-Thày có sào ruộng đang trồng rau , chim chóc đến ăn quấy phá vậy trò nào chỉ làm câu thơ đuổi đươc lũ chim cò thì thày gả con gái thày cho
Các trò vò đầu bứt tai suy nghĩ ,hồi lâu có cậu thư sinh ra ruông đọc câu thơ:
-   Năm nay lại mở khoa thi
Anh mua giấy bút ra đi tập TÀNH...TÀNH...TÀNH
Anh cố đọc thật to mấy câu TÀNH nhưng lũ chim cò vẫn thản nhiên như không , anh đành chịu
Sau một trò khác vốn ở nông thôn đứng lên xin ra đuổi , dứng trên bờ anh dõng dạc đọc:
-  Nhà quê vui sướng ung dung
Chỉ tội cà mặn quả sung chát SÌ...SÌ...SÌ..
Anh cũng cố đọc thật to và dai tiếng SÌ nhưng lũ chim cò vẫn thản nhiên
Đúng lúc có anh bộ đội về nghỉ phép, bà mẹ lại đang dục tìm vợ , anh chàng nghe chuyện đuổi chim của thày giáo liền xin đến thi thố , anh chàng ra đứng đầu ruông đọc luôn:
- Địch bắn phải chạy cho mau
Kẻo không đạn nó phía sau ĐÙNG...DOÀNG...DOÀNG
Quả nhiên lũ chim cò sợ quá vỗ cánh bay hết . Vậy là chàng bộ đội nghiễm nhiên được vợ mà chẳng pải tán tỉnh cưa cẩm gì
Vậy có thơ rằng
   Tưởng bộ đội chỉ lăn , bò
Hóa ra đânh giặc đuổi cò cũng hay
   Mấy câu vớ được con thày
Học trò trố mắt cứ ngây tình đời
   Thơ rung tận đáy tim côi
Đùng đoàng mấy tiếng mà mơi được nàng

Fb Nguyễn Cố Nhân

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

NÊN ĐI TIỂU NHIỀU

Cô gái hỏi chàng trai:
-anh ơi sao mắt anh to thế?!
chàng trai trả lời:
-mắt anh to vì hồi bé anh khóc nhiều.
Cô gái tiếc nuối:
-thế sao hồi bé anh không đi tiểu nhiều?

ĐỔI TIỀN

Đồng tiền nối liền khúc ruột cho nên mọi sự thay đổi về tiền tệ từ phía chính quyền trong bất kỳ thời kỳ nào cũng có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân sống trong tầm chi phối của nhà cầm quyền đó.
Tính từ năm 1975, lịch sử Việt Nam đã có đến 3 lần đổi tiền với cột mốc là các năm 1975, 1978 và 1985.

Vào thời điểm cuối tháng 4/1975, lượng tiền mặt tại miền Nam do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành và lưu trữ trong ngân khố VNCH được tính khoảng hơn 1.000 tỷ đồng, tương đương hơn 2 tỷ USD. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng tiền mặt trong lưu thông trên thị trường miền Nam vào lúc đó chiếm khoảng 615 tỷ đồng.

Tại Sài Gòn, ngay chiều
30/4/1975, hầu hết các Ngân hàng của VNCH ở khu vực Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn đều đã được niêm phong, bộ đội tiếp quản toàn bộ kho tiền và các ngân hàng.
Sáng 1/5, Uỷ Ban Quân quản của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra lệnh quốc hữu hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng cũ.

Tại miền Nam, từ năm 1953, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã lưu hành đồng tiền được sử dụng trên toàn cõi Việt Nam Cộng hòa.
Đặc điểm dễ nhận nhất của các loại tiền giấy phát hành tại miền Nam trước năm 1975 là trên đồng tiền luôn luôn có câu:
“Hình luật phạt khổ sai những kẻ nào làm giả mạo giấy bạc do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát ra”.

Trên các giấy bạc còn có 2 chữ ký của Tổng kiểm tra và Thủ quỹ Trung ương.
Đến năm 1968, đổi là chữ ký của Tổng kiểm soát và Giám đốc Sở phát hành;
Đến năm 1970, đổi sang chữ ký của Tổng kiểm soát và Thống đốc; Năm 1971 đổi là chữ ký của Một quản trị viên và Giám đốc Phát hành.

Trong năm 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam in giấy bạc 5.000 và 10.000 đồng với chữ ký của Tổng kiểm soát và Thống đốc.
Tuy nhiên, 2 loại giấy bạc này chưa được phát hành trên thị trường thì đã đến ngày miền Nam thất thủ.

Sau khi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ hoàn toàn và được thay thế bằng chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, qua danh nghĩa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đã tổ chức đổi tiền trên qui mô toàn miền Nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân hàng Việt Nam" (còn gọi là tiền ‘giải phóng’).
Tiền này được sử dụng tại miền Nam cho đến khi đổi tiền năm 1978 nhằm thống nhất tiền tệ hai miền Nam Bắc.

Ngày 6/6/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời đã ra Nghị định số 04/PCT-75 về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc. Thông qua danh nghĩa là cơ quan đại diện chính thức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, ngân hàng này thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH trong các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Cũng chiếu theo Nghị định 04, đến ngày 22/9/1975 thì tiền VNCH có mệnh giá trên 50 đồng bị cấm lưu hành tại miền Nam và phải đổi sang tiền mới của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
Tiền mới được in tại Tiệp Khắc từ năm 1966 (!), không mang chữ ký, gồm 8 mệnh giá:
10 xu,
20 xu,
50 xu,
1 đồng,
2 đồng,
5 đồng,
10 đồng
và 50 đồng.
Tỉ giá hối đoái vào thời điểm ban hành Nghị định 04 là 1 USD tương đương với 1,51đ Cộng hòa Miền Nam.

Điều đáng nói là giá trị chuyển đổi của đồng tiền mới không thống nhất về mặt địa lý mà thay đổi theo từng vùng theo Nghị định 04:

- Từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở xuống miền Nam, giá trị tiền đổi được tính theo tỉ lệ 500đ VNCH tương đương với 1đ tiền mới.

- Từ Thừa Thiên Huế trở lên miền Bắc, tỉ lệ đổi tiền là 1.000đ VNCH tương đương với 3đ tiền mới.

Việc thu đổi tiền VNCH được bắt đầu lúc 6g sáng ngày 22/9/1975 và chấm dứt vào lúc 6g chiều cùng ngày tại Sài Gòn.
Riêng tại các tỉnh xa xôi thuộc phía Nam, việc đổi tiền có hạn chót là ngày 30/9/1975.
Định mức đổi tối đa không quá 100.000đ tiền VNCH cho nhu cầu sinh hoạt của mỗi gia đình;
Các hộ kinh doanh được phép đổi từ 200.000đ đến 1.000.000đ tiền VNCH sang tiền mới.

Đối với người dân miền Nam, việc đổi tiền năm 1975 là cú xốc đầu tiên mà chính quyền mới dành cho vùng đất còn đang bàng hoàng trước những thay đổi về thể chế chính trị từ ngày 30/4/1975,
chỉ chưa đầy 2 tháng sau là một sự kiện kinh tế-tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày tại miền Nam.

Xét về mặt quản lý kinh tế-tài chính, việc đổi tiền là một điều tất yếu đối với một đất nước vừa được thống nhất trong đó lưu hành 2 thứ tiền:
tiền VNCH và tiền miền Bắc.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách đó như thế nào là cả một vấn nạn đáng mổ xẻ. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và cho đến bây giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Người dân miền Nam chỉ thấy sau khi Nghị định 04 được ban hành, túi tiền của họ bỗng trở nên teo tóp một cách đáng kể.

===

Cuộc đổi tiền lần thứ hai được diễn ra vào năm 1978.
Ngoài mục đích thống nhất tiền tệ giữa hai miền Nam Bắc, đổi tiền lần thứ hai được coi là một trong những phương thức tiến hành cuộc cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam Việt Nam.
Với quyết tâm xóa bỏ hình thức kinh tế tư bản hiện hữu tại miền Nam, chính quyền mới đã thực thi mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa trên cả nước.

Theo nghị quyết khóa III, nhà nước chủ trương xóa bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng hợp tác xã, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ.
Đổi tiền là một bước trong quá trình đó. Hiện tượng này trong quá khứ đã từng được thực hiện một cách bất ngờ ở các nước cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên nhằm tịch thu tài sản và giảm thiểu nền kinh tế chợ đen.

Theo Sắc lệnh của Thủ tướng Chính phủ mang số 88 CP, ký ngày 25/4/1978 thì lệnh đổi tiền được giữ kín cho đến ngày 3/5/1978 là thời điểm công bố trên toàn quốc. Sắc lệnh quy định tiền tệ cũ của cả hai miền Nam Bắc bị cấm lưu hành, những ai sở hữu tiền cũ thì phải đem đổi lấy tiền mới.

Ở miền Bắc, một đồng mới trị giá bằng một đồng cũ, loại tiền này được phát hành từ năm 1958. Riêng ở trong Nam, một đồng mới đổi được 0,80 đồng cũ (8 hào) phát hành năm 1975 qua đợt đổi tiền lần thứ nhất.

Dân thị thành được đổi tối đa 100 đồng cho mỗi hộ 1 người; 200 đồng cho mỗi hộ 2 người; hộ trên 2 người thì từ người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người.
Hạn mức tối đa cho các hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng mỗi hộ.

Dân vùng quê được phép đổi theo hạn ngạch 100 đồng cho mỗi hộ 2 người (50 đồng mỗi người); hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người.
Tối đa cho mọi hộ vùng quê, bất kể số người, là 300 đồng.

Số tiền sở hữu trên mức tối đa phải khai báo và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng thì tiền đó có thể rút ra nếu… có lý do chính đáng. Một điều kiện nữa là người dân phải chứng minh rằng số tiền trên mức tối đa là tiền kiếm được bằng ‘lao động cá nhân’ chân chính chứ không phải tiền trục lợi qua lao động của người khác.

Cũng như lần đổi tiền năm 1975, cuộc đổi tiền năm 1978 đã phá giá đồng tiền của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đang lưu hành tại miền Nam.
Tuy nhiên, tại miền Bắc, giá trị của đồng tiền vẫn giữ nguyên.

Tại miền Nam, dù đã qua một lần đổi tiền vào năm 1975 nhưng đa số người dân vẫn bị bất ngờ vì lệnh đổi tiền lập lại 3 năm sau đó. Chính sách đổi tiền lần này chủ yếu nhắm vào giới tư sản miền Nam, nhưng trên thực tế, cuộc sống của mọi người, nhất là những người sinh sống tại miền Nam, đều bị ảnh hưởng.

Năm 1978 nhà nước vẫn duy trì chính sách quản lý người dân bằng hộ khẩu, nói một cách khác, hộ khẩu kiểm soát lương thực qua chế độ tem phiếu. Đến khi đổi tiền, hộ khẩu quyết định tiêu chuẩn định mức tiền được đổi nên bi thảm nhất là những gia đình bỏ về từ những vùng kinh tế mới.
Họ không còn hộ khẩu tại thành phố nên cũng không đủ tiêu chuẩn để đổi tiền, cuộc sống hàng ngày vốn đã khốn khổ phải tạm trú nơi mái hiên, gầm cầu đến lúc đổi tiền lại không có giấy tờ hợp pháp. 

Vào thời điểm 1978, mức sống của dân miền Nam vẫn còn cao hơn miền Bắc nên tỷ lệ sở hữu tiền tiết kiệm của từng gia đình tại Sài Gòn, nói chung, vẫn cao hơn tại Hà Nội. Biện pháp ‘đổi tiền có giới hạn’ chính là một hình thức ‘cào bằng’ giữa hai miền.
Tuy nhiên, đa số người miền Nam vẫn có thói quen mua vàng hoặc đô la thay vì giữ tiền mặt dù việc mua bán vàng và ngoại tệ vẫn bị nhà nước nghiêm cấm vào thời điểm đó.

Số lượng vàng còn lại tại miền Nam sau 1975 vẫn còn là một ẩn số nhưng qua các vụ vượt biên người ta có thể nói ‘tiềm lực vàng’ của người miền Nam vẫn còn rất mạnh. Trung bình một người vượt biên phải trả cho chủ tầu khoảng 3 ‘cây’ (một danh từ phổ biến để chỉ 1 lạng vàng), nếu làm một con tính nhẩm với gần nửa triệu người đến được bến bờ tự do hoặc bỏ thây ngoài biển cả ta sẽ thấy một số vàng khổng lồ có trị giá hàng tỷ Mỹ kim mà người miền Nam đã đổ vào các cuộc vượt biên.
Có người còn vượt biên nhiều lần, điều này chứng tỏ ‘tiềm lực vàng’ của người dân miền Nam là rất lớn.

Sự kiện ‘nạn kiều’ của người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức bằng đường bộ và đường thủy năm 1979 với giá trên 10 cây vàng một đầu người cũng là một minh chứng việc ‘đánh tư sản’ không đạt được kết quả như mong muốn. Trong Chợ Lớn không thiếu gì những trường hợp người buôn bán nhỏ lẻ, thậm chí hành nghề ve chai, bán dạo vẫn có vàng để trả cho các chuyến vượt biên bán chính thức.

===     

Lần đổi tiền thứ ba diễn ra vào ngày 4/9/1985 với việc phát hành tiền mới có mệnh giá:
10 đồng,
20 đồng,
50 đồng.

Như vậy, trong vòng 10 năm (1975-1985) Việt Nam đã có ba lần đổi tiền.
Điểm nổi bật của lần đổi tiền năm 1985 là 10 đồng tiền cũ đổi được 1 đồng tiền mới. Người dân bình thường nhận thấy tiền của họ khi đổi sang tiền mới chỉ cần bớt một con số không. Chẳng hạn, một tô phở trước khi đổi tiền có giá 1.000đ nay chỉ còn 100đ tiền mới.

Tuy nhiên, đối với những chuyên gia kinh tế, thực tế phức tạp hơn những gì người bình thường suy nghĩ. Cuộc đổi tiền năm 1985 đã khiến đồng tiền lưu hành tại Việt Nam vào thời điểm đó bị giảm đi 10% trong khi đồng Việt Nam vẫn chưa ‘có khả năng chuyển đổi’ (transferable) trên thị trường hối đoái quốc tế.
Đồng tiền Việt Nam vẫn là tiền ‘có khả năng tự do chuyển đổi thấp’, chưa trở thành đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế.

Tháng 11/2009, Chính phủ Việt Nam quyết định phá giá 5% đồng tiền Việt Nam, đồng thời tăng lãi suất lên 8%. Chính sách này được xem như là hành động làm căng thẳng thị trường tài chính Châu Á, vì các nền kinh tế trong vùng đang tranh nhau tạo ưu thế với thị trường Âu Mỹ.

Ngày 11/2/2010, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam định lại mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa tiền đồng Việt Nam và đôla Mỹ, qua đó, một đôla Mỹ ăn 18.544 đồng. Nếu so với mức tỷ giá 17.941 đồng một ngày trước đó, đồng tiền Việt Nam bị giảm giá 3,4% so với đôla Mỹ.
Ngày 28/2/2010, mức tỷ giá ở thị trường chợ đen là 19.500 đồng.

Ngày 18/08/2010 Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932 đồng/USD (tương đương tăng 388 đồng).
Ngày 11/02/2011 Ngân hàng Nhà nước công bố quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND, từ 18.932 VND lên 20.693 VND (tăng 9,3%), cùng với đó là thu hẹp biên độ áp dụng cho tỷ giá của các ngân hàng thương mại từ +/- 3% xuống còn +/- 1%.
Tuy nhiên, đến ngày 19/02/2011 tỷ giá USD ở thị trường chợ đen là 22.300 đồng.

Những diễn biến vừa nêu trên cho thấy sự bất ổn của đồng tiền Việt Nam. Đồng tiền hiện đang lưu hành trên thị trường Việt Nam có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng, nhiều người nghĩ một ngày nào đó sẽ xuất hiện tờ giấy bạc 1.000.000 đồng nhưng không ai nghĩ Việt Nam sẽ soán ngôi ‘đơn vị tiền tệ thấp giá nhất’ của Zimbabwe với mệnh giá 100 nghìn tỷ đô la.

Fb phạm xen

MỘT ĐIỂN HÌNH

Nhỏ em nó gửi cho đường link Facebook của một ngài tiến sĩ giảng viên đại học Quy Nhơn với lời nhắn: Quê anh nè.

Thấy ngộ ngộ, nhiều bạn chung. Mình chột dạ tự nghĩ, sao đất Bình Định lại có thể sản sinh ra một đứa hèn, nguyện bưng bô đổ cứt cho cộng sản mà không hề biết ngượng. Hoá ra không phải, cũng là nguồn gốc ở ngoải mò zô.
Ờ ! Như vậy ít ra cũng còn có lý.

Trước đây mình từng biết cái đám dư luận viên cao cấp thuộc tổ ngàn lai, nay mở rộng thêm tầm mắt bởi thằng này. Dù lời lẽ sặc mùi bợ đỡ nhưng bài nào post lên cũng quá trời like. Điều đó thêm một lần nữa khẳng định cho nhận xét: "Dân tộc này là một dân tộc ngu muội, bởi thế nên bị Cộng Sản đè đầu cởi cổ là hoàn toàn xứng đáng"

Những người đủ năng lực để cầm cái Smartphone, hoặc lên máy tính vào mạng xã hội có thể coi là thành phần tinh tuý của đương thời. Người trung chính không nghe điều nghịch nhĩ, không im lặng trước cái sai, không cổ suý cho những trò mị dân bỉ ổi.
Thế nhưng cứ nhìn vào lượt thích ở các bài viết của thằng tiến sĩ này thì hiểu. Với văn phong xu nịnh, lời lẽ mị dân, nguỵ biện bao che cho loài Cộng Sản. Thế nhưng với những bài viết như vậy hắn ta nhận được nhiều ngàn lượt thích. Chừng đó cũng đủ để người ta nhận ra cái trình dân trí của một bộ phận công dân ở đất nước này.

Đưa cái hình một tay đảng trưởng lên Facebook rồi tung hô nào là anh hùng kiệt xuất, nào là thế thiên hành đạo, sĩ phu nhập thế etc...
Mình chẳng hiểu cái học vị kia nó đến từ đâu. Nếu là người học thật thì tui tin rằng sẽ không ai mặt dày lộng ngôn bợ đỡ như vậy. Ở cái thời mà thiên hạ đang chuẩn bị di cư ra ngoài trái đất lại có một thằng tiến sĩ cổ xuý cho hành động thiết lập một mô hình phong kiến mới để trị quốc. 

Hắn tung hô Nguyễn Phú Trọng lên tận trời xanh, hắn đổ lỗi cho kẻ tiền nhiệm rằng đã để lại một bộ máy tham nhũng vươn vòi bạch tuột ở khắp nơi.
Thế nhưng hắn lại cố tình quên rằng trước khi trở thành tổng bí thư, Trọng là chủ tịch quốc hội. Ở cái vai trò lãnh đạo một tổ chức mà theo hiến pháp quy định là quyền lực nhất của quốc gia, khi ấy Trọng đã làm gì mà lại để cho đất nước lâm vào cảnh khốn cùng như vậy? Trả lời câu hỏi này sẽ làm rõ nguồn cơn của cái vấn nạn quốc gia.

Hắn mô tả cuộc chiến nội bộ giữa Trọng và Dũng là cuộc "Cứu nguy dân tộc". Trong vế này hắn cố tình đánh đồng khái niệm dân tộc với một tổ chức chính trị, vậy mà cả đống bạn tui vào lai cho hắn mới tài.
Cần minh định rằng đảng Cộng Sản là một tổ chức chính trị thuần tuý, nó không thể là  dân tộc, càng không phải là tổ quốc. Thế nên mọi hành vi thanh trừng, triệt hạ trong nội bộ Cộng Sản chỉ đơn thuần là vấn đề tranh giành quyền lực và nếu có cứu thì họ chỉ cứu chính họ mà thôi.

Trọng tâm của bài viết hắn ca ngợi cái chiến công lẫy lừng của Trọng trong công cuộc chống tham nhũng. Nhưng hắn lại lờ đi cái bản chính từ bên Tàu đó là chiến dịch đả hổ diệt ruồi mà Tập Cận Bình khởi xướng.
Nếu không phải có việc Tập Cận Bình đả hổ diệt ruồi thì dù Trọng có ba đầu sáu tay cũng không hề dám.
Việc này nói lên điều gì? Chúng ta không hề có độc lập, dù chỉ là độc lập trong vấn đề nội bộ của đất nước mình. Chính điều này mới cực kỳ nguy hiểm.

Trước đây, mọi quyết sách của Việt Nam gần giống như Tàu nhưng có một độ trễ nhất định. Càng ngày cái bản sao ấy càng gần lại với Tàu, nếu tinh ý sẽ dễ dàng nhận ra lý do của vấn đề này.
Xét cho cùng, khi mà Việt Nam vẫn còn độc tài đảng trị, khi mà dân chủ chỉ là cái bánh treo lơ lững mãi phía xa thì mọi hành động đấu đá nếu có, chỉ mang ý nghĩa cứu cho cái đảng của họ tồn tại lâu hơn, chứ không hề mang dấu hiệu tích cực nào về cho quốc gia, dân tộc.

Điều đáng buồn như đã nói ở trên, người Việt bây giờ chỉ biết a dua và sùng bái vớ vẩn. Không hề có tư duy độc lập để suy xét mọi vấn đề dù rất nhỏ, dễ bị dẫn dắt bởi những kẻ giả trí thức.
Một môi trường xã hội như vậy chính là mảnh đất tốt để độc tài phát triển và cai trị, đó chính là lý do vì sao Cộng Sản có thể tồn tại lâu đến vậy ở đất nước này.
Dân tộc Việt rồi sẽ phải vong quốc giống như Israel, và chỉ có thể phục quốc vào cái ngày mà một bộ phận lớn công dân đã được thay máu.

https://www.facebook.com/tscuongvn/posts/388850511534733

Fb trương quang thi

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

TÌNH CUỐI

Tôi viết truyện này vào ngày sinh nhật thứ 72 ( Đúng 6 vòng của 12 con giáp ). Sở dĩ tôi gọi là tình cuối vì tôi biết sau khi người yêu tôi chết, tôi sẽ không thể (còn) yêu ai hoặc được ai yêu nữa.

Thường, người ta hay viết truyện về những mối tình đầu. Vì mối tình đầu là mối tình khó quên nhất. Đúng vậy! Ở vào tuổi mới lớn, khi con tim lần đầu biết rung động vì một ánh mắt, một nụ cười, một tà áo…làm sao chúng ta có thể quên được những ngày tháng mộng mơ với một người đẹp.
-Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên
( Thế Lữ )
Nhưng tôi là cái thằng thích ( nói nôm na ) trật đường rầy.
Không thích giống ai nên mới (ti toe) viết về mối tình cuối.

Đó là mối tình của tôi với Thúy Hằng, bắt đầu cách đây hơn 15 năm. Thúy Hằng thua tôi 7 tuổi,
tôi li dị vợ, nàng rẽ gánh chia tay chồng. Người đời thường gọi những mối tình như thế là..Rổ rá cặp lại.
Mà đúng thiệt. Tôi với nàng là hai cuộc đời bị bể, bể tanh banh, bể tan tành thành nhiều mảnh vụn. Cố gắng lắm, cố gắng mệt nghỉ, cố gắng tối đa mới ráp lại được với nhau thành một cặp. Không gọi là rổ rá cặp lại thì gọi bằng cái chi nữa cha ( nội )?
Sở dĩ tôi viết là cố gắng lắm, cố gắng tối đa, mệt nghỉ vì cuộc tình của chúng tôi ban đầu cũng không suôn sẻ gì cho cam.

Tôi li dị vợ thì xong rồi. Trước khi gặp lại Thúy Hằng thì tôi cũng có ( lai rai ) vài mối tình với những người đàn bà ( hoặc ) chồng chết, ( hoặc ) li dị. Những mối tình đó đã đưa đẩy tôi lang thang qua nhiều tiểu bang của Mỹ.
Thúy Hằng ngược lại, sau khi chia tay với chồng thì có người yêu cũ tìm đến.
Người yêu cũ của nàng vốn là một anh Tàu lai tên Triết, có giấy tờ chứng minh (gốc Tầu) đàng hoàng. Nhờ có giấy tờ nên anh ta được nhà nước cộng sản Việt Nam “ưu ái“ cho về nước sau khi chiến tranh Trung Việt ở biên giới phía Bắc nổ ra.

Dùng chữ Cho Về Nước là chính quyền cộng sản Việt Nam hí lộng ngôn từ, chứng tỏ tính ưu việt của đảng ta thôi. Thật ra đây là âm mưu nhằm ăn cướp tài sản, nhà cửa, tiền bạc... của người Tàu và tống xuất họ ra khỏi Việt Nam một cách hợp lý, hợp tình và ( cũng ) hợp pháp luôn, đi đâu thì đi.
Để được “ưu ái” Triết phải đóng đủ 12 lượng vàng, - loại vàng Kim Thành 24 cara, ngôn ngữ bình dân gọi là cây, mặc dù nó chỉ có hình chữ nhật 4x8 cm, mỏng tanh, nặng chừng 37,5 gram, - trước khi bước chân lên những con thuyền nhỏ, mong manh, nhét người chật cứng như cá hộp Sạc Đin Nờ, được đẩy ra khỏi hải phận Việt Nam rồi...muốn trôi đi đâu thì đi, nhà nước cộng sản VN hổng chịu trách nhiệm ( à nghen! ).

Nhờ hai gia đình ở gần nhau trong Chợ Lớn, Thúy Hằng và Triết quen biết nhau từ lúc còn nhỏ, từ khi...xưa đôi ta bé ta ngu, đem dây thung ta quấn con cu..., con cu sưng ta khóc hu hu... Triết hơn Thúy Hằng 4 tuổi.
Cuối năm 1978, khi nghe phóng thanh chương trình vượt biên bán chính thức của người Tàu do Triết tiết lộ, gia đình Thúy Hằng tìm cách “gửi gấm“ nàng theo Triết.
Trong thời gian chuẩn bị, Triết tìm được đường dây làm giấy tờ giả cho Thúy Hằng. Trong lúc chờ đợi, nàng cũng nhờ Triết dạy cấp tốc một số tiếng Tàu cần thiết để lúc ra đi có bị hạch hỏi cũng dễ dàng lọt thoát phần nào.
Triết nhà giàu, khá bảnh trai, ăn nói nhỏ nhẹ.
Thấy nhà Triết có piano, sau những giờ học tiếng Tàu, Hằng thường chơi piano cho Triết nghe. Nhờ học đàn piano từ lúc 5 tuổi đến khi cộng sản chiếm miền Nam nên Thúy Hằng đánh đàn piano, tài nghệ dù chưa đạt được ( đỉnh cao chói lọi ) như Đặng Thái Sơn nhưng nghe cũng lọt lỗ nhĩ và nếu gặp may ( không chừng ) có thể trình diễn ở Carnegie Hall, New York City.
Nhưng rồi cuộc gửi gấm Thúy Hằng không thành vì chờ đợi lâu quá. Gia đình Thúy Hằng bèn quyết định tự đóng ghe, mua bến, lo lót công an, và đi thoát trước khi Triết ra đi. Mối tình hai người tan vỡ vì không còn tin tức, liên lạc được với nhau. Đó là chuyện khi xưa đôi ta bé...
L
Trở lại chuyện nay, hai cái rổ rá rách teng beng Triết, Thúy Hằng cặp lại, không khớp với nhau nên bị bung ra chỉ sau một thời gian ngắn chưa tới 2 tháng.
Theo lời một người quen ( dĩ nhiên là quen, lạ làm sao biết? ) của Thúy Hằng kể lại, Triết biết Thúy Hằng sau khi chia tay với chồng có được một món tiền, đâu khoảng hơn 100.000 Du Ét Đi nhờ bán căn nhà hai vợ chồng mua 15 năm trước, cưa đôi, nên rù quến Thúy Hằng về VN làm ăn, buôn bán chi đó.
Chắc vì sợ rủi ro, bất trắc, mất tiền, hơn nữa qua đọc báo, biết được những vụ người Việt gốc Ngu ở hải ngoại đem tiền về Việt Nam làm ăn như vua chả giò Trịnh Vĩnh Bình hoặc Trần Trường ( tức cha Nhẫn Hòa của Thiền Vô Vi với giáo chủ Lương Sĩ Hằng.
Khoảng năm 1998 thì phải, cha Nhẫn Hòa này chơi bạo lấy tiếng ngu, treo hình Hồ Chí Minh trong tiệm cho thuê Video bị khoảng 50.000 người Việt ở O-Ren-Giờ-Cao-Ti biểu tình chống đối, phải dẹp tiệm và bị phạt vì chơi băng lậu) nên Thúy Hằng từ chối kế hoạch làm giàu do Triết vẽ ra.
Thế là Triết bất mãn, không mặn mà chuyện cặp lại rổ với nàng nữa. Thúy Hằng buồn bã vì vừa đá vỏ dưa văng xa hơn 300 thước thì lại đạp ( nhằm ) vỏ dừa.
Đúng vào lúc đó thì tôi gặp lại Thúy Hằng trong một bữa ăn tối ở nhà một người bạn. Trước đây, tôi và nàng chỉ quen biết nhau nhưng ít khi liên lạc với nhau, vì không thân và ở cách xa nhau.
Sau bữa ăn tối định mệnh ( đã an bài ) đó, tôi và nàng liên lạc gọi phôn, chát trên sờ-kai-pê càng ngày càng lâu, thường xuyên hơn. Nàng coi tôi như một cái thùng Rì-sai-cồ, có nơi ( đổ rác ) kể lể những chuyện đau buồn, khổ sở, không hạnh phúc.. với người chồng cũ.
Tôi hiểu tâm trạng Thúy Hằng nên an ủi nàng, rồi chẳng hiểu ma đưa lối, quỉ dẫn đường, tôi yêu nàng lúc nào không hay.
Sau hơn 4 tháng tâm sự ( loài cua biển ) chán chê, chúng tôi hẹn gặp nhau đi ăn tối ( lại ăn tối ) rồi đi coi phim, tức là là đi coi hát bóng.
Bữa đó nhằm tối chủ nhật, ăn xong tụi tôi vào rạp AMC ở Eastridge, San Hố Dề. Chắc nhằm ngày lành, tháng tốt nên rạp vắng vẻ, có đâu chừng 7-8 cặp ngồi rải rác. Tụi tôi chọn hàng ghế trên cùng, không có ai. Ở hàng ghế đó ta có thể thấy địch mà địch sẽ không thấy ta ( nếu không quay đầu lại ).
Hai đứa tôi ngồi sát bên nhau. Chẳng hiểu có phải do 2 ly bồ đào tửu ( Red Wine ) uống trong bữa ăn với nàng hay do mùi nước bông thơm ngọt như đường mía lau của Thúy Hằng mà khi đèn vừa tắt chừng 10 phút, màn ảnh còn đang chiếu quảng cáo, tôi bạo dạn choàng tay qua ôm vai nàng, ghé sát tai nàng thì thầm:
-Anh thích mùi nước bông em dùng ghê!.
Thúy Hằng chẳng những không phản đối mà còn quay mặt qua phía tôi cười nhẹ:
-Vậy mai mốt đi với anh, em sẽ xài loại này.
Mèng ơi! Nghe câu nói ngọt như đường cát, mát như đường phèn của nàng mà tôi sướng đến run rẩy cả người. Hai khuôn mặt kề sát nhau khiến tôi cầm lòng không đặng, thế là chúng tôi mi nhau.

Sau bữa đi coi phinh mùi mẫn đó, Thúy Hằng đề nghị tôi dọn về ở chung với nàng để... chia tiền nhà, tiền điện nước, tiền rác...
Tôi xin nàng một tuần lễ để... “động não“ suy tính hơn thiệt.
Sau mấy ngày suy nghĩ đến mất ngủ ( đêm năm canh chỉ ngủ có canh đầu, bốn canh sau buồn rầu nên ngủ quên ), tôi đồng ý dọn về ở chung với nàng. Sở dĩ tôi nói suy nghĩ vì ( bản tính ) tôi là một thằng thích tự do, phải so sánh cái được ( lợi ), cái mất ( hại ) khi ở chung với nhau. Cuối cùng thấy cái được nhỉnh hơn cái mất chút đỉnh nên tôi Ô kê Sa Lem.

Nhưng cuộc đời không hề đơn giản như đang giỡn mà vô cùng phức tạp, rắc rối, rắc rối to, rắc rối lớn là khác.
Nói rắc rối và phức tạp vì chưa ở chung thì không thấy, ở chung rồi thì mới có những cái pra-bờ-lầm mà cho dù là có tài tiên đoán như Khổng Minh, có tái thế cũng không có cách chi thấy trước đặng.
Như vừa nói ở trên, tôi là thằng thích tự do. Bởi thích tự do nên khi sống mình ên, tôi không sắm sửa nhiều đồ đạc làm chi, tôi lại luôn có phương châm sống, học được sau hơn 6 năm sống dưới chế độ cộng sản VN:
Tăng thu, giảm chi, tích cực cầm nhầm.
Bởi vậy, bữa sáng tôi dọn đồ đạc về ở với Thúy Hằng, nàng đã ngạc nhiên tột cùng khi tôi đến bấm chuông cửa nhà, chỉ xách theo có một cái va li. Nàng nhìn tôi, ngơ ngác:
-Anh không có đồ đạc gì sao?
Tôi chỉ cái va li:
-Đây nè! Em không thấy sao?
Thúy Hằng ngập ngừng:
-Ý em nói là...bàn ghế, đồ trang trí...“nội thất“...giường, tủ, sách, báo...
Tôi lắc đầu:
-Không! Anh hay di chuyển, đổi chổ ở nên không sắm gì cả.
Còn đồ “nội thất“ toàn của chủ nhà cho thuê.

Đến đây cần phải nói rõ thêm. Thời gian đó tôi đang “se phòng„, chủ nhà có giao hẹn không được dẫn bạn gái về nên tôi chưa bao giờ hẹn nàng chỗ mình ở. Chúng tôi chỉ hẹn hò, gặp gỡ nhau ở nhà nàng.
Sau khi li dị, Thúy Hắng thuê được một áp-pạc-tơ-măng 2 phòng ngủ khang trang ở khu Willow Glen với giá (tình cảm) khá rẻ, chỉ bằng nửa giá thị trường, của người chị là Bờ rốc cờ, có nhiều apartment cho thuê.
Thúy Hằng có vẻ suy nghĩ nhưng không nói gì thêm, lẳng lặng dẫn tôi lên phòng ngủ, xếp quần áo của tôi trong cái va li vào chung tủ của nàng.
Buổi chiều hôm đó, ăn cơm xong, Thúy Hằng rủ tôi ra quán cà phê Gót Hồng ở đường Tully uống nước, tâm sự. Gọi là tâm sự cho văn vẻ chứ thật ra tôi biết ý nàng muốn nói đến chuyện...Tiền là tiền nhiều khi không ...mà có, tiền là tiền nhiều lúc có... như không...

Đúng như tôi đoán, sau khi “xử lý, dứt điểm“ một ly sâm bổ lượng Thúy Hằng nói:
-Anh về ở với em, mỗi tháng anh nên phụ em (chút đỉnh) chuyện tài chính.
Tôi mỉm cười, không biết cái chút đỉnh của nàng định nói là bao nhiêu:
-Đương nhiên rồi! Trước đây anh “se phòng“ bao nhiêu thì bây giờ anh đưa em bấy nhiêu, cộng thêm tiền chợ nữa..
Thúy Hằng cầm tay tôi:
-Tiền chợ anh không cần đưa. Anh đi làm trễ, em nhờ anh đưa con gái em đến trường, thay vì thuê người chở cũng tốn kém.
Anh giữ tiền đó đổ xăng, đưa đón con gái em đi học. Mọi chi tiêu khác như đi coi phim, ăn nhà hàng, du lịch ...mình chai hia.
Thúy Hằng tính toán quá ư hợp lý, hợp tình, hợp đạo nghĩa (góp gạo thổi cơm chung).
Tôi đồng ý cái rụp.
Vấn đề gai góc nhất đã được đôi bên “chủ động“ thỏa thuận êm đẹp, thoải mái, thân thiện, thắm đượm tình đồng chí, đồng sàng.

Tuy nhiên chỉ ít ngày sau, vài sự cố “nổi cộm“ khác mới bị “phát hiện“ mà phải động não cực mới “phát kiến“ giải quyết được vấn đề.
Cái sự cố “nổi cộm“ đầu tiên là do tôi “sở hữu” một tật ngáy ít người có. Thật ra công tâm mà nói, tôi ngáy không lớn lắm, chỉ như là...gọi đò sang sông thôi.
Thời gian đầu còn vui vì lửa mới bén, củi, rơm còn đang cháy đỏ... kêu lách tách, Thúy Hằng không nghe tôi ngáy, nhưng chỉ ít lâu sau nàng trở nên mất ngủ vì tiếng ngáy của tôi.
Nhiều đêm khoảng 2-3 giờ sáng, bị đánh thức bởi tiếng gọi đò của tôi, không ngủ lại được, nàng đành ôm mền gối ra sa lông ngủ, tôi không biết.
Sáng nàng dậy trước, đi làm trước nên tôi không “phát hiện“ được vấn đề.
Cho đến một hôm, có lẽ “bức xúc“ quá chịu không nổi, Thúy Hằng đem chuyện ngáy của tôi ra đấu tố, bắt tôi phải đấu tranh tư tưởng với thế lực phản động chủ tâm phá hoại giấc ngủ (hòa bình) của nàng.
Sau khi trình bày, lật tới, lật lui, lật xuôi, lật ngược..., dùng ánh sáng Mác-Lê soi rọi vào tất cả các vùng kín, vùng sâu, vùng xa của vấn đề, tôi thành khẩn nhận khuyết điểm, cam kết sẽ không phá rối giấc ngủ của Thúy Hằng bằng cách...sẽ ra ngủ riêng ở sa lông trừ khi...nàng cho vời.

Vấn đề thứ hai là chuyện đưa đón con gái của Thúy Hằng đi học. Con bé tên Mimi, 15 tuổi, xinh đẹp, thông minh, học giỏi nhưng có tật ngủ dậy trễ.
Thường 8:15g sáng vào học, từ nhà đến trường mất khoảng 15-20´ nếu không bị “ùn tắc“ giao thông. Tôi thường chở nó ra khỏi nhà vào lúc 7:45g.
Thúy Hằng dặn đánh thức con bé vào lúc 7:15, cho nó 30´ sửa soạn vệ sinh cá nhân, làm thức ăn sáng mang theo. Mấy ngày đầu Mimi còn đúng giờ, nhưng không hiểu sao chỉ được chừng hơn tuần lễ con bé trở chứng, gọi dậy lúc 7:15g thì phải 20´ sau nó mới ra khỏi phòng, thành ra bữa nào tời trường nó cũng vội vã để rồi quên mang thức ăn sáng theo.
Tôi không phải bố nó nên không biết giải quyết làm sao.
Đem chuyện nói với Thúy Hằng, nàng nói tôi làm sẵn thức ăn sáng cho nó. Khổ một điều là buổi tối hỏi nó ăn gì để tôi biết mà chuẩn bị, nhưng nhiều lúc tôi cũng quên, nên nhiều khi tôi cứ làm bánh mì kẹp thịt, chả lụa ...theo ý mình.
Cho đến một hôm tôi được nghỉ làm, đi đón Mimi, về đến nhà nó quăng cái backpack lên ghế salon rồi đi vào phòng riêng. Tôi ngồi xuống bên cạnh, chợt ngửi thấy mùi thum thủm, chua chua...,
nhìn quanh không thấy gì lạ tôi bèn ghé mũi vào cái cặp đeo lưng của Mimi mới “phát hiện“ cái mùi khó ngửi phát ra từ đó.
Tôi gọi Mimi ra, nói nó mở ra để xem cái gì bên trong mà bốc mùi như vậy. Hóa ra đó là mấy phần ăn sáng mà nó không ăn nhưng không vứt đi, để lâu quá, lại có cà rốt ngâm dấm nên bốc mùi dữ.
Làm sạch, khử mùi cái backpack cho Mimi xong, tôi nói với nó là sẽ không làm thức ăn sáng cho nó nữa, con bé đồng ý.

Cái “nổi cộm“ thứ ba cũng ác liệt không kém, nhưng không nằm nơi tôi mà ở Thúy Hằng, đó là bệnh hay quên.
Bệnh hay quên của Thúy Hằng không dính dáng gì đến bệnh Đề-men-ti-a hay An-dờ-hai-mơ hết, bởi nàng chỉ quên những lúc...cần nhớ nhất như... trả tiền khi đi chợ, sóp-ping, biu điện thoại...
Tiền nhà, điện nước (cũng may) nàng để cho nhà băng chạc thẳng vào ờ-cao nên tôi không thắc mắc chi cho lắm.

Cái nổi cộm này làm cho tôi khá nhức đầu, mỗi lần đi chợ mua thức ăn, đẩy xe ra tính tiền, khi vừa đến lúc trả tiền là thế nào nàng cũng nói quên một hai thứ để chạy vào trong lấy. Không thể chờ được nên tôi đành phải móc thẻ nhà băng ra cà. Lúc trở ra, thấy tôi đã đẩy xe ra ngoài, Thúy Hằng cười hồn nhiên:
-Ủa? Anh trả tiền rồi hả? Lát về nhà em đưa lại.
Nhưng cái “lát về“ đó chưa bao giờ xẩy ra. Nghĩ tiền chợ không bao nhiêu, nhiều lắm chừng 300 Du Ét Đi mỗi tháng nên tôi cũng ( ráng nhịn ) không kêu ca gì, coi như... cúng (cô hồn) rằm tháng bẩy thôi. Hơn nữa thỉnh thoảng Thúy Hằng cũng dành trà tiền tụi tôi đi coi phinh, ăn kem, ăn nhà hàng hay đi chơi xa mà không đòi chai hia...
Tôi cứ để như thế hơn 2 năm, 7 tháng không nói gì. Cho đến một ngày kia thấy Thúy Hằng làm quá, chịu hết nổi tôi đành phải đem chuyện “lát về“ ra nói.
Thúy Hằng tròn mắt:
-Ủa? Em cứ tưởng có trả anh lại rồi chứ!
Nhìn cặp mắt bồ câu, con đậu con bay, ngây thơ vô (số) tội của Thúy Hằng, tôi cười:
-Em mới 50 tuổi chứ có phải 80 đâu mà dễ tưởng vậy?
Thúy Hằng không nói gì, yên lặng nhìn tôi cả phút đồng hồ rồi bất chợt đứng lên, vào trong phòng ngủ lấy ra một cái hộp hình chữ nhật cỡ khoảng 3 bao thuốc 555 gói giấy vàng, cột nơ thật đẹp và một cái bao thơ lớn, dầy cộm, màu vàng, loại dùng để gửi những bưu kiện nhỏ, đặt xuống trước mặt tôi. Thấy tôi đưa mắt dò hỏi, Thúy Hằng mỉm cười, trút trong bao thơ ra mấy xấp biu đi chợ, mua hàng được bấm dính với nhau bằng Tắc-cơ.
Tôi ngạc nhiên nhìn:
-Biu gì vậy?
-Biu anh trả tiền chơ, điện thoại, sóp-ping... chứ biu gì? Em giữ lại hết ở đây, cộng lại, tất cả gần 4 ngàn đô la. Em dùng số tiền đó, mua cho anh cái đồng hồ Omega Speedmaster Professional Moonwatch làm quà sinh nhật cho anh ngày mai. Anh có thể mở ra coi bây giờ.

Tôi cảm động nhìn Thúy Hằng ngẩn ngơ, không biết nói gì. Hóa ra nàng cố ý không trả lại tiền chợ cho tôi cũng có mục đích.
Từ ngày về chung sống với nhau, thông thường tới sinh nhật của nàng hay tôi, chúng tôi rất ít khi tổ chức, chỉ rủ vài người bạn đi ăn tối cho vui tại một nhà hàng nào đó, cũng không nói trước lý do, sợ họ mua quà tặng thì lại phiền.
Chúng tôi chỉ tặng nhau những món quà như sợi dây chuyền nhỏ, cái vòng cẩm thạch, cái cà vạt, chiếc áo pull-over..., những món quà chưa bao giờ có giá trị tới 100 Du Ét Đi.
Hai đứa tôi ngồi yên lặng nhìn nhau đến mấy phút, tôi nắm tay nàng kéo qua ngồi cạnh rồi mới mở chiếc hộp ra.
Cầm chiếc đống hồ luxury đẹp và sang đeo vào tay, thật vừa vặn, vừa như hai cái rổ rách được cặp lại thật khít khao như rổ mới.
Tụi tôi ở với nhau tới giờ đã được 15 năm. Con gái nàng đã ra trường, đi làm ở riêng, tụi tôi mỗi đứa một phòng, tối ngủ đóng cửa nên tôi có ngáy cỡ nào Thúy Hằng cũng chẳng nghe.
Tụi tôi đã dùng chung Ờ Cao, in-côm hai đứa đổ chung vào một mối, không còn so đo, thắc mắc chia hai, hay chai hia nữa, bởi tôi và nàng đều nhận thấy tiền bạc lúc về già cũng chẳng còn ý nghĩa gì nhiều, không có đủ để sống thì cũng khổ nhưng tình cảm quan trọng hơn nhiều.
Tuổi già, người ta cần sự thương yêu, chăm sóc cho nhau đến khi xuôi sáu tấm nhiều hơn là tiền bạc, nếu không thiếu thốn thì đừng quan tâm đến nó, cũng đừng nghĩ đến chuyện để dành cho con cái.
Chúng nó có đời sống riêng và cũng không cần đến tiền bạc của cha mẹ để lại.
Do đó tôi mới gọi mối tình của tôi và Thúy Hằng là tình cuối.
Nếu một trong hai người ra đi trước, người còn lại chắc cũng khó mà kiếm được cái rổ nào có thể cặp lại với mình bởi vì nó đã tả tơi quá cỡ thợ mộc rồi, khó lòng mà cặp lại được.

Thạch Đạt Lang