Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

Trị tính nóng giận của đàn ông.

Một bà đến gặp bác sĩ.
– Bà gặp trở ngại gì?
– Bác sĩ ơi ! Tôi không biết phải làm sao. Càng ngày dường như chồng tôi càng hay nổi nóng mà không có lý do. Điều này khiến cho tôi lo sợ.
– Tôi có cách trị. Khi bà thấy ông ấy sắp nổi nóng, bà chỉ cần lấy một ly nước rồi hớp một ngụm. Cứ ngặm ngụm nước đó trong miệng, đừng nuốt, chờ cho tới khi ông ấy đi ra khỏi phòng hoặc đi vô giường nằm ngủ.

Hai tuần sau người đàn bà trở lại gặp bác sĩ. Bà trông tươi tỉnh hẳn.
– Thật là một sáng kiến độc đáo ! Mỗi khi chồng tôi bắt đầu nổi giận, tôi lại ngậm một ngụm nước. Thế là ông ấy dịu xuống ngay ! Làm thế nào mà ngụm nước có thể trị được tính hay nổi nóng của chồng tôi ?
Bác sĩ:
– Ngụm nước tự nó không có tác dụng gì hết. Nó chỉ giúp cho bà ngậm cái miệng lại …..
Đó mới là điểm chính !

ST.
__._,_.___

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

NHÌN LẠI SAU LƯNG (16).

Khi còn trẻ ít khi muốn nhớ, ít khi nào muốn nhìn lại sau lưng. Khi cuộc đời cùn mòn theo năm tháng, người già mới lúng túng vội vàng ghi ghi chép chép lại những gì mình đã trải qua vì sợ ngày nào đó lên đường tay trắng. Nhưng về già rất hay nhớ nhớ quên quên.

Lúc già nhớ mài mại nhiều hơn nhớ đúng, thí dụ như một hôm tình cờ gặp lại em Vân hồi đó học chung lớp sáu mà cứ tưởng là em Thu học chung hồi lớp chín. Cười cười dê dê hỏi: Thu lúc này khỏe không? Chà! Anh thấy Thu vẫn đẹp như ngày nào. Còn chêm thêm mấy câu tiếng Hoa cho nó sang: Thu ngày càng pheo-leng (đẹp), anh thấy Thu không có gì biên-hoa (biến đổi) hết dù anh em mình xa cách đã khá lâu.

Em Vân bị nhìn nhầm nên tự ái, tỏ ra hết sức khó chịu: Thôi cha nội, tui là Vân chớ có phải tên là Thu đâu mà nãy giờ ông cứ thu-đạm-thu-đậm hoài vậy? Với lại tui đâu có đi lấy chồng Đài Loan hay Trung Quốc mà ông pheo-leng với biên-hoa. Ông có biết đàn bà con gái ghét nhất là cái gì không? Là bị đàn ông lấy thân xác bên ngoài của người này để tưởng tượng ra tâm hồn, sắc đẹp hay tình yêu dĩ vãng với người khác. Từ đây, hãy luôn nhớ tên tui là Vân, vì tui hơi nặng ký nên mấy ông hồi xưa gọi là Vân-ú nghe chưa. Cấm ông nói lái.

Mà rồi khi hùng hổ vừa xong, em Vân tư lự lạ lùng: Mà ông lầm từ Vân qua Thu cũng phải, tụi tui khi qua được bên đó vô mỹ viện sửa mặt, sửa mũi, sửa lung tung… theo đúng một model bầu bầu hồng hồng căng căng dễ thương… nên khi thẫm mỹ xong thì ai cũng giống ai, người ngoài khó mà phân biệt được. Nhưng nếu hồi đó ông có thương có yêu có để ý tui thì khi gặp lại ông sẽ nhận ra tui ngay dù có biên-hoa tới đâu đi nữa. Cũng chỉ vì hồi đó ông không chịu để ý tui nên ông mới lầm lẫn đó thôi.

Tắt đài, tôi ngượng ngùng hỏi thêm vài câu cụt ngủn cho đỡ quê rồi bỏ đi chỗ khác. Tôi chỉ biết trách trí nhớ của mình lúc về già sao tệ quá chớ không dám trách cô Vân-ú hay cô Thu-đạm nào hết.

Chuyện cũ Sài Gòn qua bốn mươi năm cũng “biên-hoa” nhiều lắm chớ không còn giống như những gì đã thực sự xảy ra. Một phần do cách viết sử theo định hướng chính trị hay theo sự thiên vị cá nhân, một phần do nguồn sử liệu bị mất mát nhanh chóng quá mà chưa ai lưu trữ một cách khoa học kịp, phần nữa do con người thích nêm mắm nêm muối vào lịch sử cho nó ngon lành.

Thế cho nên đối với những người kể chuyện đời xưa không chuyên nghiệp như tôi, chuyện nhớ mài mại rồi ghi lại sai tùm lum là chuyện rất thường tình. Những người đã từng sống ở Sài Gòn trước năm 1975 có thể phê bình: Nói chi mà nói quá vậy? Dóc tổ, ba xạo... Thôi, hãy thông cảm cho tôi.

Những năm cuối thời học sinh trung học của tôi cũng là những năm cuối của cuộc chiến hai mươi năm 1954-1975. Năm cuối lớp mười hai tôi chưa học hết hai ba bài học cuối. Vì tháng chín năm 1974 tôi mới được lên lớp mười hai, cuối tháng tư năm 1975 khi chưa kịp thi Tú tài (thường vào tháng bảy mỗi năm) thì tôi và các bạn học phải bỏ trường, bỏ lớp, bỏ Sài Gòn hết năm năm. Và cũng nhớ lại rằng có nhiều bạn đã bỏ học luôn. Cho nên những chuyện cũ của Sài Gòn trước năm 1975 tôi thường tìm cách ghi nhớ theo năm học.

Sau Tết 1971 khi tôi đang học lớp tám thì trung tướng Đỗ Cao Trí mất (nếu tôi nhớ không lầm) và ông được vinh thăng đại tướng. Đám tang của ông Trí được phát trên truyền hình Sài Gòn suốt mấy đêm liền. Ông Trí sinh ở Biên Hòa và khi còn sống luôn có nguyện vọng muốn được chôn cất ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa nếu chẳng may bị tử trận.

Ông Nguyễn văn Thiệu (tổng thống) và ông Nguyễn Cao Kỳ (phó tổng thống) trực tiếp lo đám tang. Hai ông tỏ ra buồn rầu, tư lự, lo lắng suốt buổi đám tang kéo dài gần nửa ngày. Có lẽ dù ghét hay thương thì sự ra đi của ông Trí chính là điềm báo trước cho hai ông sự hụt hẫng nhanh chóng của quân đội Sài Gòn trong những tháng năm kế tiếp.

Tôi mạo muội chép lại những chuyện có liên quan nhiều ít tới ông Trí và những người cùng thời với ông Trí như sau:

Ngày 23/02/1971 khi chiếc trực thăng chở trung tướng Đỗ Cao Trí vừa cất cánh khỏi sân bay dã chiến bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn Ba ở Tây Ninh được chừng mười phút thì phát nổ. Tướng Trí và toàn bộ các binh sĩ, sĩ quan, phi công tháp tùng cùng ông trên chiếc máy bay trực thăng đó đều tử vong. Nguồn tin trong quân đội cho biết: Trước ngày máy bay nổ khoảng nửa tháng, tướng Trí đã ra lệnh thay thế toàn bộ phi công, sĩ quan tùy viên, cận vệ cũ… bằng các người mới tâm phúc hay cùng họ hàng với ông. Sau này ông dân biểu Võ Long Triều có viết lại: Có lẽ trước khi chết ông Trí đã linh tính hay biết trước một âm mưu nào nó sẽ xảy đến cho ông cũng không chừng.

Cho tới nay chưa tìm ra được nguyên nhân tại sao máy bay của ông Trí bị nổ. Một số người thì cho rằng đó là do sự tranh giành quyền lực giữa các tướng lãnh chỉ huy ở miền Trung với ông Trí do tin tức ông Trí sẽ được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh quân khu và quân đoàn Một thay thế cho ông Hoàng Xuân Lãm (tư lệnh quân khu Một 1966-1972). Ông Lãm đã chỉ huy quân đội Sài Gòn tại miền giới tuyến từ giữa năm 1966 nhưng càng ngày càng không làm được việc. Ông Lãm thiếu tin tức tình báo nên để xảy ra tình hình quân sự tồi tệ ở ở Huế năm 1968 khi Hà Nội chiếm giữ Thành Nội gần một tháng ròng, và rồi lại tiếp tục sa lầy ở Hạ Lào ngay vào đầu tháng hai năm 1971 khi mới đem quân vượt qua biên giới Lào- Việt.

Hồi ký, hồi ức chiến tranh xuất bản ở Mỹ sau này (như của dân biểu Võ Long Triều và một số sĩ quan làm việc ở quân khu Ba trước năm 1975) cho rằng chính ông tổng thống Nguyễn văn Thiệu là tác giả vụ nổ máy bay để giết ông Trí vì sợ ông Trí với ảnh hưởng càng ngày càng lớn trong quân đội sẽ đứng ra tổ chức hay châm ngòi cho một cuộc đảo chính quân sự tại Sài Gòn nhằm ngăn ông Thiệu đứng ra tái ứng cử chức vụ tổng thống trong năm 1971.

Năm 1971 tình hình miền Nam dưới sự lãnh đạo của ông Thiệu xuống dốc do Mỹ rút quân và giảm viện trợ. Uy tín của ông Thiệu xuống rất thấp do ông và gia đình vắng mặt tại Sài Gòn ngày Tết Mậu Thân trong khi Cộng quân tấn công vào tận thủ đô. Uy tín xuống thấp do nhiều người nghi ngờ ông hấp tấp loại trừ những người thuộc của phe ông Kỳ bằng nhiều thủ đoạn khó chấp nhận, do điều hành kinh tế quá bết bát khi không biết xử dụng tốt đồng tiền viện trợ của Mỹ, do để xảy ra nạn buôn lậu hàng hóa triền miên trong quân đội. Ông Thiệu không hề khống chế được nạn tham nhũng, lại tìm cách tăng thuế và phí lên cao… Những điều đó làm những người đối lập thuộc phe thứ ba chỉ trích kịch liệt.

Đến đầu năm 1975 thì cả các tu sĩ thuộc giới Công giáo cực hữu trước giờ ủng hộ chính quyền Sài Gòn cũng lập phong trào chống tham nhũng chống lại ông Thiệu, đòi ông Thiệu từ chức để cứu vãn tình hình miền Nam.

Khi viện trợ Mỹ bắt đầu giảm dần và người Mỹ chủ trương rút quân Đồng Minh ra khỏi miền Nam, để bù đắp ngân sách bị thiếu hụt ông Thiệu đã cho ban hành luật Thuế Kiệm ước với thuế suất một trăm phần trăm đánh trên hàng hóa đang lưu hành trên thị trường, mới xuất xưởng, hay mới nhập khẩu. Ngay lập tức đồng tiền Việt Nam bị rớt giá thê thảm, người ăn lương cố định như binh lính, công chức, tư chức bị thiệt hại nặng nề.

Sau hai ba năm cầm quyền thì ngay cả quân đội trước đây luôn ủng hộ ông Thiệu cũng bắt đầu chán ông Thiệu. Năm 1971 dự định có bầu cử tổng thống, ông Thiệu lại muốn một mình một ngựa được làm tổng thống lần nữa nên đã tổ chức bầu cử độc diễn và rồi đã thắng với số phiếu bầu khó tin là chín mươi bốn phần trăm. Những tướng lĩnh và binh sĩ ngoài chiến trường sau vụ bầu cử gian lận này lại càng không thích ông Thiệu, do họ chẳng có mấy quyền lợi hay được ưu ái gì khi ông Thiệu tiếp tục không quan tâm tới tình hình quân sự mà chỉ lo thao túng chính trường.

Ngay cả ông Trí là người lúc ban đầu thuộc phe ông Thiệu cũng tỏ ra rất khó chịu khi biết ông Thiệu dự định sẽ ra tái ứng cử vào năm 1971.

Năm 1967 ông Trí quay trở lại quân đội và được phục chức trung tướng là nhờ ông Thiệu cất nhắc. Tuy nhiên với bản tính của một người miền Nam không khéo léo ăn nói và không biết làm chính trị như người Bắc hay người Trung, nên chỉ sau một thời gian ngắn làm việc dưới quyền ông Thiệu, ông Trí đã bắt đầu có những phát biểu không khôn khéo ngầm ý sẽ làm đảo chính để quân đội cải thiện tình hình ở miền Nam vì ông Thiệu quá lừng khừng, quá tính toán, không dứt khoát… dẫn tới không được việc.

Ông Thiệu luôn muốn chỉ huy trực tiếp các đơn vị quân đội nên thiết lập trong dinh tổng thống một hệ thống liên lạc quân sự thẳng tới tận các quân khu, các tiểu khu tỉnh và chi khu quận… mà không cần thông qua hệ thống liên lạc chính thức đặt trong bộ Tổng tham mưu của tướng Cao văn Viên. Nhưng vì không dành nhiều thời gian cho quốc phòng bằng dành thời gian cho những công việc chính trị linh tinh nên hậu quả là các đơn vị quân đội trên chiến trường thường không nhận được mệnh lệnh đúng và kịp thời từ ông Thiệu, điều đó gây ra nhiều thiệt hại, tạo ra sự bất mãn của binh lính với cấp chỉ huy.

Ông Thiệu thâm trầm bao nhiêu thì ông phó Kỳ phổi bò to tiếng bấy nhiêu. Còn ông Trí là dân Nam Bộ ruột bỏ ngoài da nên ưa nói những chuyện to tát mà chưa chắc gì ông dám làm. Tuy nhiên ông Thiệu nghĩ với uy tín trong quân đội quá lớn, phát biểu của ông Trí nhiều khi sẽ mang tính định hướng cho người khác chống lại ông Thiệu. Ông Thiệu có thể nghi ngờ: Cuộc đảo chính nếu xảy ra trong tương lai chắc chắn không phải do ông Trí chủ mưu, nhưng những người khác vì nghe lời công kích của ông Trí mà sẽ đứng ra thực hiện cho bằng được.

Suốt mấy chục năm nay chưa có một điều tra nào để giải thích nguyên nhân về cái chết đột ngột thê thảm của ông Trí cùng với đoàn tùy tùng trên bầu trời biên giới, nên mọi chuyện vẫn còn bỏ ngỏ với nhiều suy đoán khác nhau. Việt Cộng đã cho đặc công đặt thuốc nổ trước khi máy bay cất cánh hay máy bay bị trúng đạn phòng không? Một số tướng lĩnh miền Trung phe ông Lãm đã giết ông Trí? Ông Kỳ hậm hực chuyện cách chức ông Khang và chuyện ông Loan bị bắn què chân nên trả thù ông Thiệu bằng cách giết ông Trí? Người Mỹ đã giết ông Trí để tránh một cuộc đảo chính nữa sẽ làm miền Nam mất ổn định thêm? Ông Thiệu giết ông Trí vì sợ ông Trí cổ vũ đảo chính?

Thời gian trôi đi và rồi cũng có nhiều ý kiến từ những người có thời gian làm việc sâu sát với ông Thiệu, họ cho rằng ông Thiệu trong thời gian làm tổng thống do bản tính do dự và rất tin tưởng vào câu “ác giả ác báo” nên chưa bao giờ dám hại ai hay ra lệnh hại ai tới chết. Những cái chết đầy ẩn uất trong thời ông Thiệu như tướng Đỗ Cao Trí, tướng Nguyễn văn Hiếu, giáo sư Nguyễn văn Bông… lúc đó người ta thường nghi ngờ là do ông Thiệu làm. Tuy nhiên sau năm 1975 phía Hà Nội nhận làm vụ ông Bông, còn vụ tướng Hiếu và vụ tướng Trí thì càng ngày người ta càng có cảm giác rõ ràng là ông Thiệu không có động cơ mạnh đến nỗi phải ra tay vì điều đó hoàn toàn không có lợi cho ông Thiệu, vốn là một người ưa do dự tính toán thiệt hơn và khá lành tính.

Bốn mươi năm sau chiến tranh nhiều người tìm cách nhìn rõ lại tư cách, tính tình và hành động thường ngày và trong quá khứ mấy chục năm làm tướng hay làm chính trị của ông Thiệu, kết quả là những nghi ngờ về vai trò của ông Thiệu trong cái chết của tướng Trí cũng dần dần biến mất.

Cái chết của tướng Trí là một tổn thất lớn lao cho thế và lực của quân đội Sài Gòn ngay sau thất bại của trận Hạ Lào. Lúc đó ông Trí đang giữ chức tư lệnh quân khu và quân đoàn Ba, nơi tập trung mọi quyền lực tối cao của chính quyền miền Nam. Nếu tình hình quân khu Ba đi xuống do cái chết bất ngờ của ông, thì điều này sẽ ảnh hưởng nhanh chóng tới toàn bộ các quân khu khác tại miền Nam.

So sánh với các tướng tư lệnh quân khu cùng thời như tướng Hoàng Xuân Lãm ở khu Một, tướng Ngô Du khu Hai, tướng Ngô Quang Trưởng khu Ba… thì tướng Trí luôn được đánh giá cao hơn do thời gian tác chiến thâm niên, am hiểu và có thành tích quân sự ở mức chiến thuật và mức chiến lược hơn hẵn các vị tướng Sài Gòn thời đó. Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí vào năm 1971 cùng với sự rút quân triệt để của người Mỹ đã thực sự gây ra ảnh hưởng lớn tới toàn thể chiến trường Đông Dương.

Sau năm 1971, phía Hà Nội bắt đầu thực hiện những tính toán, những kế hoạch quân sự lớn lao mà không cần phải dè dặt như trước nữa.

Ông Hoàng Xuân Lãm gốc Quảng Trị vào năm 1971 đang nắm quân khu Một. Ông này ăn nói văn hoa nhưng làm việc thiếu dứt khoát nên không được cấp dưới nễ trọng. Do thời gian tác chiến ít, chỉ chuyên quản lý chung chung nên khả năng quân sự của ông Lãm khá hạn chế. Năm 1971, ông làm tư lệnh cuộc hành quân Lam Sơn ở Hạ Lào nhưng đã không điều khiển được các sĩ quan và đơn vị dưới quyền, tới khi ra lệnh rút quân ra khỏi mặt trận lại mang tai tiếng là bỏ rơi binh sĩ.

Ngay khi trận Hạ Lào diễn ra được khoảng tuần lễ và rồi các đơn vị dưới quyền của ông Lãm bắt đầu bế tắc tiến không được mà lui cũng không xong, phía Sài Gòn manh nha có ý định (hay chỉ là tin đồn) sẽ đưa tướng Trí ra thay ông Lãm. Tuy nhiên, ngày 23/02/1971 khi đang chỉ huy một cuộc hành quân lớn ở khu vực Tây Ninh thì ông Trí tử trận.

Năm 1971 quân khu Hai và quân đoàn Hai nằm dưới quyền ông Ngô Du. Ông Ngô Du người gốc Bình Định xuất thân từ một gia đình chuyên buôn bán ngoại thương có qui mô toàn quốc từ thời Pháp. Chuyện đi lính với ông này có lẽ đơn thuần chỉ vì tuân thủ lệnh động viên của ông Bảo Đại đối những người có bằng cấp Tú tài nhằm đào tạo một lớp sĩ quan quân đội mới người Việt trẻ thay thế cho lớp sĩ quan cũ thường là người Pháp hay người bản xứ có quốc tịch Pháp. Khi đi lính ông Du ít có dịp xông pha trận mạc nên thiếu kinh nghiệm đối đầu với những trận chiến gai góc vùng rừng núi như ở quân khu Hai.

Địa bàn quân khu Hai khá rộng từ Bình Định cho đến tận Bình Thuận ven biển và bao trùm luôn vùng Tây Nguyên giáp giới với Lào và Campuchia. Vùng Tây Nguyên là vùng tranh chấp chiến lược do vị thế trung tâm của nó đối với Đông Dương. Ông Ngô Du không đủ tầm để quản lý khu Hai. Quá mệt mỏi vì chiến trận Mùa hè đỏ lửa ở Tây Nguyên, ông Du tỏ ra chán nản nên xin thôi chức tư lệnh khu Hai, và cuối cùng xin giải ngũ vào năm 1974 với lý do phải dành nhiều thời gian đi chữa bệnh tim.

Duy chỉ có tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân từ lính nhảy dù thì có thâm niên và thành tích tác chiến khá dày. Tuy nhiên ông Trưởng chưa có cơ hội được đào tạo bài bản nghiệp vụ quân sự ở các trường nổi tiếng nước ngoài như ông Thiệu hay tướng Trí, ông Trưởng cũng ít kinh qua các trọng trách lớn trong quân đội nhiều năm như tướng Trí. Tuy vậy, tướng Trưởng được các sĩ quan và binh sĩ cấp dưới nễ trọng do sống rất thanh liêm và rất giỏi trận mạc, có khả năng điều động, phối hợp tác chiến cho các đơn vị quân đội từ cấp tiểu đoàn lên tới cấp quân đoàn.

Trong lịch sử chiến tranh 1954-1975, thực tế cho thấy có rất ít tướng lãnh có khả năng thay đổi tình thế chiến trận như đại tướng Đỗ Cao Trí và trung tướng Ngô Quang Trưởng. Những năm cuối chiến tranh có thêm tướng kỵ binh Trần văn Khôi và tướng bộ binh Lê Minh Đảo nhưng hai người này được đánh giá chỉ ở tầm giỏi chiến thuật chớ chưa có cơ hội thể hiện tài năng ở mức chiến lược như ông Trí và ông Trưởng.

Tóm lại: Cái chết của ông Đỗ Cao Trí tạo ra một lỗ hổng quá lớn về chiến thuật và chiến lược cho quân đội Sài Gòn.

Tướng Ngô Quang Trưởng không hề bị tai tiếng về vấn đề tiền bạc tham nhũng như nhiều tướng lãnh Sài Gòn cùng thời. Sài Gòn có cả trăm sĩ quan cấp tướng nhưng chỉ có bốn năm ông tướng sạch: Nhất Trưởng, nhì Thanh, tam Chinh, tứ Hiếu… hay: Nhất Thắng, nhì Thanh, tam Chinh, tứ Trưởng.

Khác với ông Trưởng, ông Đỗ Cao Trí khi làm tư lệnh quân khu Một dưới thời ông Diệm dính líu đầy tai tiếng vào việc giữ gìn giùm tài sản vàng bạc của ông Ngô Đình Cẩn ở Huế sau ngày đảo chính 01/11/1963. Ông Trí không chịu trả lại cũng không công khai sung vào công quĩ số tài sản của ông Cẩn mà ông nhận giữ giùm. Người ta nói ông Trí muốn ông Cẩn chết nên đã lobby với các tướng trẻ tử hình ông Cẩn để bịt đầu mối vụ giữ giùm tài sản đó.

Một số người Công giáo thì cho rằng có hai người rất muốn ông Cẩn chết, một người là ông Trí do muốn chiếm số tài sản giữ giùm ông Cẩn, người thứ hai là ông Thích Trí Quang do lo sợ ông Cẩn ở tù lâu quá rồi khai ra mối quan hệ giữa ông Quang và Đảng Cần Lao.

Cuối năm 1964 ông Trí bị ông Nguyễn Khánh cách chức rồi buộc phải giải ngũ do ông Khánh nghi ngờ ông Trí có liên quan tới cuộc đảo chính do tướng Dương văn Đức cầm đầu. Có thời gian ông Trí đi làm đại sứ tại Hàn Quốc.

Trong những tướng trẻ nổi lên sau ngày 01/11/1963 thì tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ về mặt hình thức tỏ ra có năng lực và quyết tâm làm chính trị nhiều nhất. Ông Kỳ bắt đầu tham gia chính trường sau ngày 01/11/1963 và lên làm thủ tướng năm 1966. Thành tích lớn nhất của ông Kỳ là xóa sổ phong trào Phật giáo miền Trung tranh đấu của ông Thích Trí Quang và đã tạo mọi cơ sở pháp lý nhằm tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống trong năm 1967.

Ông Kỳ ít chịu suy nghĩ, không thích nghiên cứu, học hành nếu so với nhiều tướng lĩnh Sài Gòn khác. Giới tướng trẻ nổi lên sau ngày đảo chính 01/11/1963 thường tốt nghiệp các trường đại học quân sự nước ngoài hay trong nước nhưng ông Kỳ thì thích ca hát nhảy múa và làm bạn với giới văn nghệ chớ không học thêm. Qua thực tiễn mấy năm tham gia chính trường người ta thấy ông Kỳ không hề có khả năng làm chính trị và cũng không thể vãn hồi tình hình an ninh quốc phòng đang rất xấu tại miền Nam.

Tình hình miền Nam bắt đầu trở nên hết sức tồi tệ sau đảo chính 01/11/1963. Người Mỹ lúc đầu thích tác phong nhanh nhẹn, khả năng nói tiếng Anh và tiếng Pháp lưu loát của ông Kỳ và hy vọng sự năng nổ của ông Kỳ sẽ làm nên việc… nhưng rồi họ khá thất vọng vì ông Kỳ ít làm việc cụ thể nhưng hay đề cập đến những kế hoạch viển vông không kết quả. Ông Kỳ hay chê bai những tướng lĩnh khác, nhất là chê bai ông Thiệu, nhưng ông cũng không làm được gì tốt hơn hay hơn những người bị ông chê bai.

Ông Kỳ cũng bị dư luận nghi ngờ trong khoảng thời gian 1963-1968 đã xử dụng các đơn vị vận tải của không quân và hải quân chuyên chở hàng cấm thông qua cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất và Cảng Sài Gòn, rồi kết hợp với bọn tài phiệt người Hoa đem hàng ra thị trường bán giá rẻ lũng đoạn nền kinh tế. Một số lớn hàng hóa nhu yếu phẩm dạng này như thuốc lá, đường, thuốc tây... được bán vào khu kháng chiến. Phía ông Kỳ sau năm 1968 khi bị mất hết quyền lợi lại tố cáo những người thận cận của ông Thiệu như tướng Đặng văn Quang và tướng Chung Tấn Cang tổ chức buôn lậu.

Ông Kỳ sau này hay cay đắng kể lại chuyện chính ông đã hoạch định cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 nhưng rồi phải làm phó cho ông Thiệu vì không được quân đội đề cử, người Mỹ không giúp và không thể cầm lòng trước sự bi lụy của ông Thiệu. Năm 1967 khi còn làm thủ tướng chính ông Kỳ đã sắp xếp tổ chức cuộc bầu cử tổng thống để lập ra nền Đệ nhị Cộng Hòa. Tuy nhiên trước cuộc bầu cử, ông Thiệu dùng mọi cách ép ông Kỳ phải đứng phó cho mình. Ông Thiệu đã thắng với sự hậu thuẫn của người Mỹ và do xử dụng các thủ thuật bầu cử, kiểm phiếu gian lận không minh bạch.

Lên làm tổng thống, ông Thiệu cần lôi kéo các tướng lĩnh có thực tài cũng như cần loại bỏ phe sĩ quan gốc Bắc hay gốc không quân thân cận với ông Kỳ. Đó là lý do vào cuối năm 1967 ông Đỗ Cao Trí được lệnh quay trở lại quân đội với chức tư lệnh quân khu Ba kiêm tư lệnh Biệt khu thủ đô thay cho ông Lê Nguyên Khang (phe ông Kỳ). Ông Khang quay trở lại nắm sư đoàn Thủy quân lục chiến.

Ông Trí nắm quân khu Ba chưa được mấy tháng thì xảy ra cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân…

Vào đợt hai của cuộc chiến trên đường phố Sài Gòn (tháng năm của năm 1968), các sĩ quan thân cận của ông Kỳ không hiểu sao tụ tập hết lại trong trường Phước Đức (cách chợ vãi Soái Kình Lâm khoảng 500 mét) để rồi trúng một quả rocket từ một máy bay Mỹ khiến nhiều người bị thương và nhiều người bị chết. Sau tai nạn bị bắn nhầm này phe ông Kỳ tan tác hết cả. Phe ông Kỳ không dám làm lớn chuyện vì trong số các sĩ quan bị thương hay bị chết có người không hề có trách nhiệm chỉ huy tác chiến như ông giám đốc Cảng Sài Gòn, ông Đô trưởng Sài Gòn, mấy ông sĩ quan quan thuế…

Nhiều suy đoán cho rằng những sĩ quan thuộc phe ông Kỳ hôm đó vào Chợ Lớn không phải để chỉ huy binh sĩ hành quân mà nhằm mục đích chính là để bảo vệ số hàng hóa nhập lậu mới bốc xếp từ Cảng Sài Gòn đem về gởi tạm trong các kho hàng của tài phiệt Chợ Lớn dịp trước và sau Tết.

Ông Kỳ sau năm 1968 dù làm phó tổng thống nhưng không còn một chút binh quyền nào do các cấp dưới đầy quyền uy như tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, tướng Lê Nguyên Khang, tướng Lưu Kim Cương, giám đốc Cảng Phó Ngọc Chụ đã bị loại ra khỏi cuộc chơi hay bị hạn chế quyền lực.

Tuy bị hai đợt tấn công tập trung của Hà Nội bao gồm quân chủ lực, du kích và biệt động khá nặng nề vào đầu năm và vào tháng năm 1968, tình hình các địa phương thuộc quân khu Ba cũng như ở thủ đô Sài Gòn được tướng Trí nhanh chóng ổn định. Trong khi đó đã có những thiệt hại quá lớn về người và mất mát lãnh thổ khá lớn ở Huế và miền Trung. Miền Trung và Cao nguyên thì tình hình biến động triền miên sau năm 1968 cho tới giữa năm 1975.

Nhiều người đánh giá cao khả năng ổn định tình hình quân sự nhanh chóng của tư lệnh quân khu Ba mới lên là ông Trí so với sự lộn xộn dưới thời ông tư lệnh Lê Nguyên Khang (1965-1967) hay dưới thời tướng Nguyễn Bảo Trị (1965). Người ta cũng nhấn mạnh ông Trị và ông Khang là người của ông Kỳ. Dư luận báo chí Sài Gòn nhân chuyện này cũng muốn rõ ràng rằng người chỉ huy quân sự phải thực sự biết làm quân sự chớ không phải được phân công bổ nhiệm theo kiểu phe nhóm mang chất chính trị như ông Kỳ đã từng làm.

Tình hình quân sự sau Tổng công kích Tết Mậu thân 1968 ở quân khu Ba khá ổn định, tuy nhiên kéo dài chưa được hai năm thì vào năm 1970 tới Campuchia biến động, rồi xứ này rơi vào một cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài gần hai mươi năm mới tạm yên. Ông tướng Lonnol đảo chánh Quốc vương Sihanouk bên Miên dẫn tới việc tướng Trí đưa quân Sài Gòn từ quân khu Ba và quân khu Bốn vượt biên giới đánh vào các mật khu của Trung ương Cục R.

Nhưng thật là đột ngột, vai trò của tướng Đỗ Cao Trí trong cuộc chiến hai mươi năm 1954-1975 đã hoàn toàn chấm dứt vào ngày 23/02/1971.

Tới đầu năm 1972 người Mỹ chỉ còn giữ một quân số tượng trưng tại miền Nam là sáu mươi ngàn người bao gồm các đơn vị tác chiến bộ binh và thủy quân lục chiến, cố vấn quân sự và các đơn vị hậu cần. Nhưng lính Mỹ không được phép chiến đấu trực tiếp nữa mà chỉ hỗ trợ vận tải, phi pháo… cho các đơn vị quân lực VNCH. Người Mỹ gọi đó là Việt Nam hóa chiến tranh.

Một năm sau cái chết của tướng Trí tức vào ngày cuối của tháng ba năm 1972, phía Hà Nội đưa mười vạn quân tác chiến tinh nhuệ trang bị vũ khí tối tân và đầy đủ hơn cả quân đội Sài Gòn, có pháo hạng nặng và xe tăng hộ chiến, đồng loạt tấn công trên ba mặt trận Quảng Trị, Tây Nguyên và Bình Long.

Ngày đó tôi đang học lớp chín.

Trong ba mặt trận lớn của Mùa hè đỏ lửa năm 1972 thì mặt trận Quảng Trị kéo dài nhất, gây thương vong cho các bên tham chiến nhiều nhất. Sau bốn mươi năm xem xét lại, có thể nói về phía quân đội Sài Gòn chỉ duy nhất có một tư lệnh chiến trường đã thành công trong trận chiến mùa hè này, đó chính là tướng Ngô Quang Trưởng. Trong trận Quảng Trị, về phía Hà Nội có tướng Văn Tiến Dũng cùng tướng Trần Quí Hai chỉ huy trực tiếp.

Đối đầu với bốn mươi ngàn quân Hà Nội được bổ sung quân số liên tục băng ngang qua giới tuyến tấn công Quảng Trị, tướng Ngô Quang Trưởng (sau khi được bổ nhiệm thay thế tướng Hoàng Xuân Lãm) đã áp dụng chiến thuật “xa luân chiến” và “tao ngộ chiến” trên dãi đồng bằng miền Trung khá hẹp với các lực lượng tổng trừ bị thay phiên nhau lùi và tiến quân trên ba hướng tấn công. Hướng bắc tiến thẳng về thị xã Quảng Trị, hướng tây và hướng đông của Quốc lộ Một nhằm giải tỏa áp lực địch quân với sự yểm trợ tối đa về phi pháo của người Mỹ.

Và cuối cùng các tiểu đoàn lính thủy quân lục chiến dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông Trưởng đã lấy lại được Thành Cổ Quảng Trị vào ngày 16/09/1972.

Tuy nhiên, việc dụng binh chiếm lại Thành Cổ của ông Trưởng là thiệt hại lớn nhất về người và của mà phía Sài Gòn từng gánh chịu trong lịch sử chiến tranh 1954-1975. Sư đoàn Nhảy Dù thay máu gần hết, trên một lữ đoàn Thủy quân lục chiến bị xóa sổ, sư đoàn Ba bộ binh tan rã cùng với toàn bộ địa phương quân của tỉnh Quảng Trị. Hàng trăm xe tăng và pháo hạng nặng bị phá hủy hoàn toàn, nhiều căn cứ quân sự bị mất.

Dân thường thì có hơn hai vạn người chết trên đường khi di tản từ Quảng Trị về Huế, có gần năm trăm ngàn người mất nhà cửa phải tha phương vào miền Nam kiếm sống cho tới tận bây giờ.

Tới bây giờ chưa có báo cáo chính thức về những thiệt hại của phía Hà Nội. Và cũng không bên nào đứng ra nhận trách nhiệm ít nhiều về cái chết của hai vạn thường dân Quảng Trị trên con đường Quốc lộ Một khi họ di tản từ Quảng Trị về Huế.

Năm 1972 tại vùng chiến trận miền Nam có hai đại lộ kinh hoàng với xác người chất chồng thối rửa kéo dài cả chục cây số dưới sức nóng của ánh nắng mùa hè. Một là đoạn Quốc lộ Một từ Quảng Trị về Huế, hai là đoạn Quốc lộ 13 dẫn từ An Lộc về Bình Dương.

Những chuyện ấy qua đi đã bốn mươi lăm năm rồi, nay nhắc lại chắc nhiều điều sai lệch lắm. Đó gọi là lịch sử biên-hoa.

Ngày 10/03/2017.
MOMENTARY NOTE

KHI LỊCH SỬ ĐÃ LẬT LẠI

Năm 1974, tôi có một người bạn là cựu lính hải quân VNCH. Người đã từng trực tiếp tham gia cuộc hải chiến Hoàng Sa trên HQ1 (Trần Hưng Đạo) tường thuật lại trận đánh này... Lúc đó tôi đã nhìn ra trò chơi chính trị của các cường quốc... Tôi căm ghét nước Mỹ mà cụ thể là Nixon, Kissinger biết bao, dù gã bợm đó được tặng giải Nobel hòa bình cùng với Lê Đức Thọ...

Mới đây, BBC cũng vừa công bố những bút lục ngoại giao về diễn biến ngày đó. Cũng phải thôi, đã hơn 40 năm rồi.. Với thời gian lâu như thế thì lịch sử nào cũng phải hé màn mà

Giờ thì tôi không còn căm hận gì họ cũng như nước Mỹ. Là ai đi nữa thì rồi cũng phải bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc và...giai cấp của mình

Chính trị và chủ nghĩa quyền lực vẫn đang thống tri trên toàn thế giới trên cả mọi thứ chủ nghĩa tư bản hay cộng sản...vv và vv

Chính danh hay chính nghĩa gì tất thảy đều là chiêu bài cho việc tranh quyền đoạt lợi của một thiểu số trong hằng hà sa số những cư dân bình thường, thậm chí là nghèo khổ trên thế giới.

Nhớ mãi lời thầy giáo dạy sử năm học lớp đệ nhị (tương đương lớp 11 bây giờ) đã nói : Quý trò muốn thay đổi cuộc sống này ư ? Hãy ráng học cho giỏi và phấn đấu để trở thành tổng thống hay thủ tướng... Chỉ khi đó quý trò mới có đủ sức mạnh và quyền lực thay đổi xã hội...

Tôi cũng từng lập lại câu nói đó với nhiều học trò nhiều bạn trẻ trên tinh thần là phải cố gắng học và ...tham chính. Quan trọng là đến khi có quyền lực trong tay thì tâm mình có còn tốt không, có toàn tâm toàn ý lo cho dân cho nước.
Bởi vì quyền lực và những lợi lộc do nó mang lại như tiền tài, danh vọng rất dễ làm cho con người ta sa ngã và quên đi mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ban đầu

Nếu không đủ bản lĩnh để làm chuyện lớn thì cố gắng làm một công dân lương thiện để sống. Nhưng phải học phải trang bị kiến thức, đặc biệt là lịch sử và luật để không biến mình thành những con cừu để người ta dẫn dắt và sai khiến.

Do xúc động vì sự kiện hải chiến 1974 được khơi lại nên có đôi lời bộc bạch. Ai nghe được thì nghe. Tôi không muốn tranh luận lôi thôi vì tôi cho rằng mỗi người tùy thuộc hoàn cảnh mình mà có những quan điểm, nhận thức khác nhau. Dân chủ chính là chấp nhận sự khác biệt đó. Mọi thứ cực đoan đều là mầm móng của độc tài và bạo lực...

TPVŨ
10/3/2017



Ảnh Quả tre (trăm năm mới thấy)

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

ĐI VÀ ĐẾN

(from fb Hoang Hoa)

Đến châu Âu mới biết đi shopping không sợ hàng giả
Đến Bắc Âu mới biết mặt trời cũng thích ngủ nướng
Đến Hong Kong mới biết minh tinh nào cũng đeo khẩu trang
Đến Hà Lan mới biết mực nước biển cao hơn mặt đất
Đến Thái Lan mới biết thì ra con cú cũng có gai
Đến Pháp quốc mới biết trêu hoa ghẹo nguyệt cũng cực kỳ có phong cách
Đến Nga mới biết Vodka chỉ là một loại nước giải khát
Đến Hawaii mới biết phụ nữ không cần phải mua áo dzú nga mi
Đến Hàn Quốc mới biết phụ nữ đẹp không phải do bẩm sinh
Đến Brazil mới biết mặc đồ thiếu vải cũng chẳng có gì phải thẹn thùng
Đến Anh quốc mới biết kết cục hạnh phúc mãi mãi về sau trong truyện cổ tích đều là hư cấu
Đến Nhật Bản mới biết ngay cả tội phạm cũng vô cùng lịch sự lễ độ
Đến Mexico mới biết có thể đi Mỹ bằng đường hầm
Đến Canada mới biết diện tích lãnh thổ lớn hơn Trung Quốc nhưng dân số còn kém Bắc Kinh
Đến Trung Quốc mới biết mười người hết chín người lừa đảo, người còn lại đang luyện tập ngày đêm
Đến Mỹ mới biết bất kể là ai, bạn đều có thể kiện họ ra toà
Đến Úc mới biết chuột túi và các loại động vật khác nhiều như quân Nguyên Mông dễ khiến con người phát điên
Đến Thuỵ Sĩ mới biết mở tài khoản ngân hàng, nếu có ít hơn 1 triệu USD sẽ bị cười thúi mũi
Đến Ý mới biết Gucci & Prada còn ít hơn Trung Quốc
Đến Áo mới biết người ăn xin nào cũng có thể đàn ít nhất một bản nhạc
Đến Vatican mới biết dù đứng ở bất kỳ vị trí nào trong nước cũng có thể bắn chết chim ở tận nước Ý.

Còn đến VIỆT NAM thì mới biết giữa nói và làm cách nhau chỉ có một trời một vực thôi! 🤣🤣🤣

(Vừa chôm ben tường nhà fb Nguyễn Trưởng)

QUÊ HƯƠNG...CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM?!

Tôi tìm gì ở ngoài kia, nơi mà mọi người vẫn dùng những mỹ từ tuyệt nhất để gọi? Quê hương.

Quê hương có gì lạ không em?

Trong số hàng trăm email tôi nhận mỗi tuần, một câu hỏi nhẹ nhàng chợt làm tôi liên tưởng đến chuyện ngày xưa của mình:
“Em có nên về quê hương?”. Người viết là một sinh viên Việt Nam sắp tốt nghiệp MBA vào tháng 6 tới, có cơ hội để ở lại Mỹ, nhưng phân vân vì nghĩ là quê hương đang cần bàn tay khối óc của mình. Anh cũng nhận xét là cơ hội để tỏa sáng ở một ao hồ như Việt Nam cao và hấp dẫn hơn là làm một nhân viên trung bình tại biển lớn như xứ Mỹ.

Cuối năm 1967, giữa khi đất nước đang còn chiến tranh mù mịt, tôi lửng thửng từ Mỹ quay về Sài Gòn.
Gia đình, bạn bè đều ngạc nhiên và khuyên tôi lên bệnh viện Biên Hòa khám tâm thần. Nhưng thời thế đẩy đưa, họ lại còn ngạc nhiên hơn nữa, khi vài năm sau, tôi làm chủ 5 xí nghiệp với hơn 12 ngàn công nhân. Dù sự thành công phần lớn là do may mắn, nhưng quyết định về Việt Nam của tôi đã đem cho tôi những trải nghiệm tuyệt vời, kỳ thú, dù cũng lắm lúc đầy đau thương cay đắng.

Sự quyến luyến với quê hương cũng là những cảm xúc không thể lý giải rõ ràng. Tôi rời quê nhà lúc 18 tuổi, khi trái tim vừa biết mật ngọt của tình yêu, khi giao cảm với cuộc sống còn đượm màu thiên nhiên của cây xanh hoa trái trong mưa nắng hai mùa. Tiềm thức vẫn còn in đậm nét của những kỹ niệm, dù có buồn có vui nhưng nhìn lại thì lúc nào cũng đẹp, nên quyết định quay về có lẽ vẫn là một lực đẩy tiềm ẩn trong tâm hồn, bén rễ sâu hơn lý trí.

Nhưng khi trả lời email cho người bạn trẻ của tôi, tôi phải làm một phân tích theo góc nhìn của một người thứ ba, khách quan và trung thực.
Với một người trẻ vừa ra khỏi trường đại học, nói tổng quan, xứ Mỹ là một thiên đường của cơ hội, một sân chơi bằng phẵng và một lò huấn luyện cho các doanh nhân những kỹ năng chuyên sâu và hợp thời nhất.
Mỗi thành công là một bước tiến kỳ diệu, mỗi thất bại là một bài học vô giá cho sự nghiệp về sau. Thêm vào đó, khắp thế giới, không có một thị trường nào lớn, năng động và đồng nhất như Mỹ. Về những ngành nghề đòi hỏi công nghệ cao như IT, tài chánh, y khoa, giải trí, quốc phòng…, các quốc gia mới nỗi như Trung Quốc, Brasil…hay già cỗi như Âu Châu Nhật Bản, còn cần đến nhiều thập niên mới bắt kịp. Thu nhập trung bình hàng năm của một chuyên gia trong các ngành nghề sáng tạo này khoảng $137,000 USD vẫn cao hơn lợi nhuận của rất nhiều doanh nghiệp cỡ trung ở Việt Nam. Do đó, nếu chỉ nghĩ đến tương lai sự nghiệp lâu dài và bền vững, thì các bạn trẻ mới tốt nghiệp đại học sẽ khó tìm một nơi nào “ngon lành” hơn nước Mỹ.

Tuy nhiên, tôi cũng hiểu là đời sống thường nhật của một người Mỹ thường chịu nhiều áp lực về công việc, gia đình, nợ nần (do sự vay mượn quá dễ dàng) và thói quen tiêu xài. Những áp lực về lâu về dài sẽ gây ra những căn bệnh như tim mạch, ung thư…

Sự chăm chú vào sự nghiệp làm xao lãng những liên hệ gia đình và bạn bè, nên rất nhiều người Mỹ phải than phiền về sự cô đơn trong cuộc sống.

Tóm lại, cái giá phải trả cho một sự nghiệp tốt và bền vững có thể là hạnh phúc của cá nhân và gia đình.

So sánh với Mỹ, thì cơ hội để tìm một việc làm thích hợp và hứng thú tại Việt Nam cho một sinh viên vừa tốt nghiệp không có nhiều. Những kỹ năng gì mà trường đại học Mỹ đã đào tạo cho các bạn trẻ sẽ chóng bị lãng quên vì môi trường làm việc và sự thăng tiến của sự nghiệp không đặt trên căn bản “tài năng” hay “sáng tạo”.

Sau nhiều năm làm việc ở Việt Nam, một chuyên gia có thể bị tụt hậu rất xa về thu nhập cũng như về kinh nghiệm so với các đồng nghiệp tại Âu Mỹ.

Tuy nhiên, đời sống ở Việt Nam tương đối thư giãn và nhẹ nhàng. Người Việt Nam được xếp hạng là dân xài sang nhất Á Châu (từ tiêu dùng đến giải trí) nói rõ hiện tượng vui hưởng tận cùng, không cần biết đến ngày mai. Gia đình và bạn bè lúc nào cũng bao quanh, chia sẻ cho nhau những tiếng cười lẫn nước mắt, những giúp đỡ lẫn đòi hỏi. Mặc cho một môi trường tệ hại về khói bụi và ô nhiễm, căn bệnh thường thấy ở nước ta là bệnh về gan, mật (vì nhậu quá nhiều) và phổi, ung thư cổ họng (vì hút thuốc, không phải bụi khói).

Riêng về kinh doanh, đúng như bạn sinh viên MBA đã nói, khả năng thành công ở một sân chơi nhỏ như VN sẽ dễ dàng hơn, nhất là nếu may mắn sinh ra trong một gia đình có nhiều quan hệ với các “nhân vật” của xã hội. Tuy vậy, sự thành công này thường giới hạn ở lãnh thổ nước ta: tôi chưa thấy một doanh nghiệp Việt Nam nào thành công rực rỡ khi ra biển lớn. Trong khi đó, không thiếu những doanh nhân Việt kiều tại Mỹ, Âu Châu và Úc đã đạt những thành tích làm mọi người chúng ta hãnh diện.

Do đó, nếu có một lời khuyên cho các bạn trẻ đang bước vào đời từ đại học, tôi sẽ phải nói là nên tìm cách ở lại Âu Mỹ để tìm thêm kinh nghiệm, kiếm thêm ít tiền tiết kiệm, và tạo thêm những mối quan hệ cần thiết tại xứ người. Sau đó, nếu thực sự muốn về quê hương đóng góp trí tuệ và tâm sức, thì nước ta vẫn còn đây và nhu cầu về nhân lực cấp cao vẫn sẽ rất nhiều, trong 5 hay 10 năm tới. Lúc đó, bạn đã có một số vốn khá tốt về kỹ năng, kinh nghiệm cũng như khả năng giao tiếp với quốc tế.
Như bố tôi vẫn thường nói khi sinh tiền:
“Con muốn giúp một người nghèo, thì đừng bao giờ làm một người nghèo. Thế giới này hơi dư người nghèo rồi”

Nói theo lý trí thì vậy, nhưng trong lòng tôi vẫn còn những gắn bó không sao lý giải với quê hương. Gần đây, tôi thường về lại Sài Gòn ngay trong những ngày đang bận rộn công việc.

Tôi về đây không phải để kinh doanh:
Trong một hội thảo của doanh nhân người Việt ở San Jose tháng rồi, tôi nói là các bạn muốn làm ăn thành công ở Việt Nam phải thay đổi và làm theo cái tư duy của người Việt Nam.

Giống như lái xe trên các đường phố ở Hà Nội hay Saigon bạn sẽ gây ra không biết bao nhiêu tai nạn nếu bạn khăng khăng giữ cái tư duy của người Mỹ về luật lệ hay phản ứng của các tài xế xe khác.

Tôi cũng không về để ăn chơi:
Tôi không thích ăn nhậu vì sức khỏe không cho phép; và ở tuổi 66, với bệnh đãng trí, tôi thường quên không biết phải làm gì khi đối diện với một cô gái đẹp.

Tôi cũng không mơ mộng để mà tưởng tượng “quê hương là chùm khế ngọt”. Tôi không ăn khế và luôn nghĩ là rau quả ở Thái Lan ngon ngọt và tươi mát hơn.

Còn đi tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì thực sự dòng đời dâu biển và văn hóa mới đã cuốn trôi theo chiều gió những dấu vết của quá khứ. Những con đường lá me đầy bóng mát khu đại học đã bị chặt trụi và hè đường là một bãi đậu xe mênh mông, chen lẫn những quán cóc dơ dáy, đầy rác rưởi. Những tà áo tím e ấp bên dòng sông Hương đã đi về đâu, chỉ còn những bộ âu phục lỗi thời, quê mùa và lạc giọng.

Những mẫu chuyện cười nhỏ bé dễ thương của tuổi trẻ trong quán café đã được thay thế bằng những lời chào mua bán dự án hay các khẩu hiệu khó khăn rỗng tuếch.

Vậy tại sao tôi vẫn hay về đây? Tôi tìm gì ở ngoài kia, nơi mà mọi người vẫn dùng những mỹ từ tuyệt nhất để gọi? “Quê hương”.

Cái âu yếm êm đềm khi thả hồn vào những đêm thao thức?
Hay cái hoang tưởng thơ mộng về những con người hiền hòa bên ruộng lúa tre xanh?

Cho đến khi tôi đọc lại bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan về những nghịch lý của cuộc đời, tôi mới thấu hiểu là mỗi người trong chúng ta đều có những tâm hồn tơi tả như những chiếc áo rách vai của anh lính trẻ, luôn đi tìm một nơi hay một người để khâu vá lại.

Sau cùng, tôi muốn nói với người bạn trẻ vừa quen qua Email:

“Hãy quên đi những phân tích, lý luận, biện giải về quê hương. Em cứ nhìn vào tận đáy thẳm của tâm hồn và tự hỏi mình, trong những buổi chiều mưa xa xứ, có lúc nào em như người lính trẻ, nhớ về một hình bóng nào đó, và muốn hát trong màu hoa tím của ngày xưa:
“Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớm. mẹ già chưa khâu

Alan Phan

FB Phạm Xen chia sẻ 5/3/2017

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

CHUYẾN TÀU ĐÊM (1).

Chuyến tàu đêm cuối năm con gà đưa tôi từ vùng đất văn chương nghệ thuật bay bướm nhưng hết sức lè phè của Paris trở về với nước Đức triết học kỷ luật chặt chẽ lý luận thâm sâu. Văn chương bay bướm hay triết học khô khan vốn từ lâu không thích hợp với những người Sài Gòn xuề xòa đơn giản thích ca vọng cổ: Thương em chẳng biết để đâu, để trong khẩu súng lâu lâu anh bóp cò.

Tàu chạy êm ru nhưng không thể ngủ được vì còn nhớ cảnh bạn bè cũ kỷ già chát chia tay lưu luyến run rẩy vì lạnh giá trên sân Gare de l’Est. Không thể ngủ được cũng vì khách đang ngồi tại băng ghế phía đối diện là hai anh chàng “rệp” mà xem ra dáng vẻ cũng chẳng được đàng hoàng. Mắt họ cứ láo liên nhìn lén tôi. Nhớ hôm còn ở Paris một người trong đoàn khi đi chơi phố một mình đã bị lấy mất chiếc điện thoại tại một trạm metro, người này kể lại có mấy người da màu làm bộ chen lấn lên tàu rồi ra tay móc túi. Cũng may không mất hộ chiếu, người này tự an ủi mà mặt buồn xo.

Một con mắt của tôi lim dim nhớ về những ngày xưa cũ, một con mắt lim dim để ý tới hai con “rệp” ngồi đối diện. Tôi rơi vào trạng thái triết học “song nhãn, nhị trùng”.

Nhìn mặt người mà bắt hình dong rồi suy ra tâm địa con người là không nên, nhưng biết làm sao bây giờ. Mấy người nhập cư da màu lúc này tung hoành làm ăn dữ lắm từ Pháp sang Đức. Tiếng Pháp của bọn chúng tôi khá lơ mơ, tiếng Đức thì mù tịt, còn tiếng Anh đủ để nghe và nói chớ viết thì hơi mệt. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì mà phải trình báo với cảnh sát bằng văn bản tiếng Anh thì sẽ rất lôi thôi vì có khi làm cho cảnh sát hiểu nhầm: Mình bị móc túi mà cảnh sát tưởng mình là thằng móc túi.

Nhìn hai con “rệp” rồi nhớ lại hồi nhỏ còn đi học ở Sài Gòn tôi cũng không được bạn bè tôn trọng lắm do cái dáng vẻ bên ngoài không hay. Thuở ấu thơ nghịch ngợm bị té nên lưng tôi gù. Tự an ủi: Coi lù đù vậy chớ lớn lên thường vác lu chạy tới chạy lui.

Năm lớp tám lớp chín bạn bè đọc được cuốn tiểu thuyết Pháp dịch ra tiếng Việt của nhà văn Victor Hugo nên trêu chọc tôi là “thằng gù ở nhà thờ Đức Bà Paris”. Mấy chục năm sau tình cờ có dịp gặp lại họ vẫn đùa như vậy nhưng tôi chẳng hề buồn, lại thấy nó hay hay. Dễ gì giống được một nhân vật trong tiểu thuyết Pháp suốt mấy chục năm dài như vậy?

Lên lớp 12 được học môn triết tôi có thêm cái tên khác là “Kant”. Kant một triết gia người Đức. Không phải tôi học giỏi môn triết như ông Kant, chẳng qua họ thấy hình dáng lúc đang tuổi dậy thì của tôi giống con Căng-gu-ru bên xứ Úc Châu, nên gọi tắt là Kant. Tôi cũng chẳng biết giận hờn, cũng chẳng thèm buồn. Ai muốn gọi tôi là “Thằng gù” cũng được mà gọi “Kant” cũng được.

Chương trình lớp 12 trung học ở Sài Gòn trước năm 1975 có dạy môn triết học (tư sản), đến sau năm 1975 thì chính quyền mới đã loại bỏ các môn học đó. Tùy theo từng ban A (sinh hóa), B (toán lý), C (văn chương), D (cổ ngữ)… mà số giờ triết học được dạy nhiều hay ít. Triết học hồi đó được phân ra các môn: đạo đức học, lý luận học, tâm lý học, siêu hình học. Hai thầy dạy triết năm 1974- 1975 tại trường VTT là thầy Nguyễn Phúc Lộc dạy lý luận và đạo đức, thầy Nguyễn Đình Sinh dạy tâm lý.

Môn siêu hình học chỉ dành cho học sinh lớp 12 ban C và ban D nhưng trường VTT vào niên khóa 1974- 1975 không đào tạo ban D, chỉ còn một lớp ban C rất ít học trò (khoảng mười lăm người). Mỗi lần tới giờ siêu hình học thì trường VTT gởi học trò ban C sang trường Petrus Ký (trường Lê Hồng Phong bây giờ) học nhờ vì tại trường VTT không có thầy dạy môn này.

Thú thực hồi trước 1975 học triết thì học cho sang vậy chớ chẳng học trò nào cùng lớp với tôi hiểu được gì. Hình như chương trình triết học lớp 12 là rập khuôn theo đúng chương trình của người Pháp để lại sau năm 1954 nên thuật ngữ triết học bằng tiếng Việt không được quen thuộc dễ nghe lắm với học trò trung học người Việt, nó lai giữa Tàu và Pháp. Học trò Pháp có tư tưởng triết học từ lâu, còn học trò Việt như bọn tôi hồi đó chắc chưa có.

Các thuật ngữ như: Bản ngã, tha nhân, nguyên nhân đệ nhất, hiện sinh, nhị trùng, siêu hình, phản đề, chính đề, tam đoạn luận… được đưa vào các đoạn văn dài lê thê rất khó nuốt. Nhà in in sai cũng nhiều chắc do thợ sắp chữ cũng không quen với mấy chữ lạ này.

Nếu để dành mớ sách vở triết học in trước năm 1975 cho tới tuổi bốn mươi chăm chú đọc lại thì may ra có thể hiểu được chút chút. Nhưng mà sau năm 1975 sách vở triết học in ở Sài Gòn bị coi như bất hợp pháp nên chắc chẳng học trò Sài Gòn nào dám giữ lại. Mà giữ lại chắc cũng chẳng ích lợi gì, chẳng thể hiểu thêm gì. Nhất là với hoàn cảnh cơm áo gạo tiền khó khăn sau năm 1975 thì việc đọc sách quả là xa xỉ.

Niên khóa 1974- 1975 trong chương trình lớp 12 còn có thêm được hai giờ Việt văn, trong khi ở các niên khóa trước thì lớp 12 chưa được học Việt văn. Thầy dạy môn Việt văn năm đó là thầy Lý Đức Cửu. Việt văn lớp 12 của niên khóa 1974- 1975 khác với các lớp dưới, có thể tạm gọi là “văn-triết”, tức pha giữa văn chương và triết học. Khổ nỗi, văn chương Việt vốn nghèo nàn còn triết học Việt thì coi như chưa bao giờ có, nên chương trình “văn-triết” là cái chi chi thì không trò nào hiểu được, mà chắc các thầy cũng bối rối chẳng biết phải dạy cái chi. Nhưng học trò phải ráng mà học gạo, vì cuối năm lớp 12 phải đi thi Tú tài, mà trước năm 1975 hễ thi cử thì phải thi đủ các môn chớ không phải chỉ thi ba hay bốn môn chính như thời bây giờ.

Ba thầy Lộc, Sinh, Cửu đều là người Bắc di cư đã tốt nghiệp trường Đại học Văn khoa và trường Đại học sư phạm tại Sài Gòn. Họ ăn nói rất lưu loát (người Bắc nhiều lý luận mà), trình độ sư phạm khá cao nhưng nói chung không thể nhét các thuật ngữ triết học hay văn triết lạ hoắc nửa Tàu nửa Tây vào đầu học trò được.

Sau năm 1975 tôi thấy chương trình triết học Mác-Lê và các chương trình lịch sử, kinh tế chính trị được dạy trong các trường đại học cũng vấp phải các khó khăn tương tự, do nguyên nhân và kết quả khá giống nhau: Cả thầy lẫn trò chắc chẳng ai hiểu được con mẹ gì hết để mà dạy và học!

Với lại... tại các nước khác như bên Nga hay bên các nước Đông Âu người ta đã từ bỏ hết, đoạn tuyệt hết với các môn học cà chớn kiểu đó lâu rồi, chỉ có nước mình là thích làm chuyện khác người ráng mà giữ lại. Nhiều người nói do đã mấy chục năm đào tạo ra quá nhiều giáo viên dạy mấy môn đó, nay bỏ đi thì số người dư dôi này biết nhét vô đâu?

Hồi học đại học sau năm 1975 mỗi lần thi các môn triết Mác-Lê hay lịch sử mới, kinh tế chính trị… bọn sinh viên chỉ mong được năm điểm, thầy giáo thường coi mặt mà bắt hình dong chấm điểm, thằng nào vào lớp chăm chỉ và tính tình dễ thương thì cho ngay năm điểm. Có thầy còn chấm điểm chữ đẹp và viết sạch nữa. Việc quay cóp viết bài thi y như trong sách cũng khá bình thường, các thầy biết hết nhưng làm lơ. Có thầy còn nói: Phải viết cho giống trong sách, đứa nào tự sáng tác mà sai quan điểm là coi chừng!

Bốn chục năm qua đường đời trắc trở, bọn học trò VTT niên khóa 1974- 1975 chỉ còn một ít ở lại Sài Gòn, số nhiều đã tìm cách qua Mỹ và Châu Âu sống. Cả thầy lẫn trò cũng có người hát “Ok, mình chia tay” với trần thế từ lâu lắm rồi, nhất là chết chìm ngoài biển trong thời gian có phong trào vượt biên. Thầy Lộc mất sớm vì ung thư, thầy Sinh và thầy Cửu hình như còn tiếp tục đi dạy nhưng xuống làm giáo viên cấp hai. Tôi cũng không gặp lại các thầy ấy sau năm 1975 vì phải bỏ Sài Gòn đi lao động kiếm cơm ở vùng xa khá sớm.

Học triết suốt một năm lớp 12 mà tới giờ tôi chỉ nhớ được một hai câu dễ nhớ. Đó là: “Triết học là môn học để đi tìm nguyên nhân đệ nhất” và “Chẳng ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”. Năm 1985 bắt đầu làm nghề sông nước, ngày nào cũng chuổng cời tắm sông, có khi tôi tắm trên cùng một dòng sông tới mấy chục lần, nên chẳng hiểu tại sao người xưa dạy học trò cái câu chi mà lạ vậy?

Câu hỏi “nguyên nhân đệ nhất” hay những câu hỏi “tại sao” đeo bám cuộc đời của mỗi người học trò cho tới chết: Mình là ai? Là người hay là con Căng-gu-ru? Tại sao trên cuộc đời này lại hiện hữu cái mặt mốc xấu quéc của mình? Mình có thể thay đổi số phận và nhan sắc được không? Khi chết đi thì mình sẽ thành cái con gì? Trí thức có linh hồn thiêng liêng cao quí hay nói như Mao: Trí thức là cục cứt?

Năm nay đã sáu mươi rồi, những câu hỏi đó mình không thể tự trả lời mà cũng chẳng ai trả lời giùm, nên cứ thắc mắc và chắc chắn là thắc mắc cho tới chết. Lim dim nhìn hai con “rệp” lại tự hỏi: Ta sao ta với mi rất khác nhau? Tại sao ta nghi ngờ mi sẽ móc túi ta trong khi ta với mi cũng cùng là con người?

Những câu hỏi đó quả thực là những câu hỏi triết học, nó cùng với những câu hỏi đời thường chẳng ai giải thích được hay đã từng được giải thích nhiều lần rồi mà chẳng ai đồng ý với ai.

28/02/2018.
Momentatary

RẤT HAY... VỀ CHIẾC ĐIỆN THOẠI

Có thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị kẹt chìa khoá ở trong xe , mất chìa khoá xe vẫn lái xe đươc , hết pin vẫn sử dụng điện thoại được..v.v.v.

Chiếc điện thoại di động (ĐTDĐ) ngày nay đã trở thành một điều cần thiết cho mỗi người chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày. Thế nhưng, khi sở hữu một chiếc ĐTDĐ người ta chỉ biết 2 chức năng chính là nhận cuộc gọi hoặc gọi đi, cùng lắm là “lướt” Web, chơi game, chat với bạn bè…


Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu cho hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ.




Trường hợp phổ biến nhất là lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin. ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó.


Đơn giản thôi, chỉ cần bấm: 3370#  và bạn sẽ thấy pin của bạn lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng!


50% là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là "Third Hidden Battery Power" để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book... Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy.




Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn.


Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó. Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn!




Trường hợp xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo.


Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau:


-      Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn.


-      Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe.


-      Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa.


Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường. Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ!




Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím #06# (xin nhắc lại: hoa thị (), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau. Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra.


Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng. Ở Việt Nam có các công ty như Mobifone, Vinaphone, Viettel, FPT… Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng.


Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Việt Nam thì không biết như thế nào nhưng ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử.


Nhiều trường hợp người đang sử dụng đã mua của một kẻ khác nên cảnh sát đã phanh phui được cả một đường dây tội phạm trộm cắp điện thoại. Nếu bạn đi ra Chợ Trời (Flea Market) để mua lại ĐTDĐ đã qua sử dụng, hãy nhớ bấm phím #06# để lấy ra hàng 15 con số. Yêu cầu người bán ký nhận có bán cho bạn cái máy điện thoại với hàng số đó để nhỡ có ai đi truy tìm thì bạn không phải là người ăn cắp!




Làm thế nào để biết nguồn gốc nơi sản xuất ĐTDĐ của bạn? Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng:


- Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm!


- Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt.


- Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt.


- Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Để tránh những trường hợp này, nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua!


- Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất.


*


Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không bạn!!!

Vinh Diệp

Translate

Có nhiều comment cho biết đây có thể là thông tin giả vì nhiều người thử mà ko được