Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ (2/2)
TÀI DANH TÂN NHẠC CỦA
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ
(bài 2 tiếp theo và hết)
Một thời để nhớ có sự tái ngộ của diễn viên hài Xuân Phát, một “quái kiệt” trong làng hài kịch tại Sài Gòn trước năm 1975. Anh có lối chọc cười tưng tửng nhưng rất duyên dáng, ý nhị.
Xuân Phát cùng Mai Lệ Huyền góp vui trong một nhạc cảnh hát nhép theo đĩa ghi âm trước có tên là Bún bò giò heo Mụ Rớt. Đây là loại kịch lipsing, ngày nay gọi là hát nhép, đã được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ áp dụng trên sân khấu đại nhạc hội hoặc phòng trà ca nhạc từ trước khi Sài Gòn đổi chủ.
Xuân Phát tâm sự với khán giả, đây cũng là thời điểm cần giã từ sân khấu sau bao năm chọc cười thiên hạ. Giờ cũng là lúc anh dành thì giờ cho gia đình nhiều hơn bên người vợ là diễn viên múa Mỹ Lệ của Sài Gòn gần 40 năm về trước. Có điều ít người biết là con trai anh ngày nay cũng đang hoạt động trong lãnh vực điện ảnh Hollywood mà khán giả Việt Nam được biết đến trong phim hành động Dòng máu anh hùng qua tên Dustin Nguyễn.
Lần đầu tiên gia đình Xuân Phát sẽ xuất hiện trong phim Lửa Phật (Monk on Fire) do Dustin Nguyễn biên kịch và đạo diễn, phim ra mắt khán giả trong năm 2013.
Cùng thực hiện có sự hợp tác của Jimmy Phạm Nghiêm (nhà sản xuất phim Dòng máu anh hùng), hãng phim Chánh Phương và tài tử Johnny Trí Nguyễn.
Một giọng hát nam, khỏe ở tuổi gần 70, xuất hiện sau vở kịch không mấy thành công của Xuân Phát – Mai Lệ Huyền. Đó là người ca sĩ xưa khi vẫn hằng ái mộ Elvis Presley, vua nhạc rock-n-roll, đến độ ngay từ khi vào nghề đã lấy tên thần tượng để mang tên Elvis Phương cho đến ngày nay.
Elvis Phương có một cuộc đời ca hát khá thành công bên cạnh Kiều Nga, em của anh và cũng là ca sĩ nổi danh một thời tại Việt Nam và sau này tại hải ngoại. Cuộc đời tình ái của Phương lại không thuận lợi như sự nghiệp.
Elvis Phương kết hôn với một cô gái gốc từ Đà Lạt nhưng người vợ đầu tiên lại vắn số, qua đời sau một tai nạn giao thông năm 1970. Ngày đó Phương đã để trên mộ vợ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi một câu khá tình tứ :
“Ngọc chết rồi Phương chơi với ai ?”.
Nhiều năm sau, khi định cư ở Hoa Kỳ, anh mới trả lời được câu hỏi ngày nào và tìm được người “chơi” chung:
Phan Lệ Hoa.
Trả lời một cuộc phỏng vấn của VnExpress về cuộc hôn nhân của mình, Elvis Phương tâm sự :
“Bạn có tin không, vợ chồng tôi suốt mấy chục năm nay chưa từng rời xa nhau. Chúng tôi nguyện được có nhau trọn đời.
Vợ tôi không quản ngại khó khăn cùng chồng đi lưu diễn khắp nơi.
Ngày trước Lệ Hoa là một doanh nhân nổi tiếng, chấp nhận gác bỏ công việc vì không muốn hai vợ chồng cách xa nhau quá lâu.
Nhờ vậy mà gia đình hạnh phúc, cuộc sống bình yên và tinh thần yên ổn. Đó là những xúc cảm để tôi có thể hát mãi cho người và cho đời”.
Phạm Ngọc Phương sinh năm 1945 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Anh học trường Tây nên thường hát những bản nhạc rock nước ngoài theo phong cách Elvis Presley.
Elvis Phương lần đầu xuất hiện trước khán giả năm 1962 tại trường dòng Regina Pacis với nhạc phẩn hoàn toàn Việt Nam:
Nửa đêm ngoài phố của nhạc sĩ Trúc Phương.
Phương tham gia nhiều ban như Rockin’ Stars, Les Vampires… và là một trong những ca sĩ tiên phong trong phong trào nhạc trẻ cùng ban Phượng Hoàng với Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Khi tuổi đã lớn, anh chuyển sang nhạc tình, nhạc quê hương.
Elvis Phương có rất nhiều các bài hát nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của anh. Người yêu nhạc nhớ đến anh qua Vết thù trên lưng ngựa hoang (trong đó có màn biểu diễn huýt sáo tuyệt vời), Mười năm tình cũ, Bài thánh ca buồn, Trả lại em yêu…
Nổi bật nhất phải kể đến những ca khúc của riêng nhóm Phượng Hoàng như Còn yêu em mãi, Yêu em, Tôi muốn… sáng tác bởi Nguyễn Trung Cang & Lê Hựu Hà luôn luôn được Elvis Phương trình diễn ra mắt lần đầu tiên trên sân khấu.
Trong cả hai phần 1 và 2 của live show Một thời để nhớ Elvis Phương đã chinh phục khán giả Melbourne với các nhạc phẩm Mười năm tình cũ, Đàn bà… xen lẫn nhạc ngoại quốc một thời được ưa thích như My Way, Si L’amour Existe Encore…
Anh còn làm phần trình diễn sống động hơn khi bước xuống giao lưu ở hàng ghế khán giả khiến các nhân viên bảo vệ phải hoạt động cật lực. Elvis Phương đã chiếm trọn cảm tình của khán giả, những người nghe nhạc muốn tìm lại… một thời để nhớ.
Một trong những ca sĩ được mong đợi nhất trong đêm Một thời để nhớ là Thanh Thúy.
Cô là người nữ ca sĩ miền sông Hương, núi Ngự có giọng hát một thời được giáo sư triết Nguyễn Văn Trung mệnh danh là “Tiếng hát Liêu trai” trong bài viết Ảo ảnh Thanh Thúy .
Đối với nhà văn Mai Thảo, người được mệnh danh là “Ông vua phòng trà” thời đó, Thanh Thúy là “Tiếng hát lúc 0 giờ” và nhạc sĩ Tuấn Huy lại gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.
Thanh Thúy bắt đầu đi hát từ năm 1959 khi mới tròn 16 tuổi. Giọng hát Thanh Thúy trầm ấm, hơi khàn và cô có lối phát âm nhả chữ rất đặc biệt. Tiếng hát Thanh Thúy có lúc nghẹn ngào, đôi khi lại như nức nở. Ngoại hình Thanh Thúy mảnh mai đến độ gầy guộc với mái tóc dài buông xõa trên đôi vai gầy. Thanh Thúy lúc nào cũng xuất hiện trên sân khấu với tà áo dài truyền thống giản dị màu trắng hoặc màu lam nhạt.
Ngày nay tại Việt Nam có những ca sĩ cũng mang tên Thanh Thúy nhưng đối với những người lớn tuổi thì chỉ có một Thanh Thúy của những thập niên 60-70 và một Thanh Thúy sau năm 1975 tại hải ngoại.
Người ta còn nhớ thời Thanh Thúy của phòng trà Đức Quỳnh, Anh Vũ rồi vũ trường Queen Bee, International với những bài hát trữ tình như Nửa Đêm Ngoài Phố, Kiếp Nghèo, Người Em Sầu Mộng, Ngăn Cách, Tàu Đêm Năm Cũ, Giọt Mưa Thu, Tiếng Còi Trong Sương Đêm…
Cũng không thể nào quên được tiếng hát Thanh Thúy qua làn sóng điện, đài truyền hình hoặc trên các sân khấu đại nhạc hội…
Thanh Thúy là “người yêu trong mộng” của rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, đó là chưa kể đến số đông những người “vô danh tiểu tốt”.
Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi để dành tặng Thanh Thúy, nhạc sĩ Tôn Thất Lập có Tiếng hát về khuya cũng vì Thanh Thúy còn thi sĩ Hoàng Trúc Ly ca tụng Thanh Thúy qua những vần thơ:
“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô.”
Năm 1961 khán giả Sài Gòn được xem phim Thúy đã đi rồi của tài tử điện ảnh kiêm đạo diễn Nguyễn Long, ca sĩ Minh Hiếu thủ vai Thanh Thúy.
Trong phim khán giả còn được nghe bản nhạc cùng tên của Y Vân qua tiếng hát Hùng Cường.
Y Vũ, em ruột của nhạc sỹ Y Vân, kể lại:
“…Anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh Nguyễn Long, còn gọi là Long Đất. Vào đầu thập niên 60, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy… Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình.
Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.”
(bởi thời gian này Thanh Thúy vừa lên xe hoa với Ôn Văn Tài trung tá binh chủng không quân của Quân lực VNCH – admin)
Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy.
Hát thì cứ hát nhưng con tim chẳng chút lay động vì đã yêu Trung tá Ôn Văn Tài thuộc binh chủng Không quân vào giữa thập niên 1960, họ có một cậu con trai.
Trong lần hội ngộ ở Melbourne, khán giả đã tặng Thanh Thúy bó hoa tươi nhất, đẹp nhất để thể hiện lòng ngưỡng mộ một người ca sĩ tuy đã bước vào tuổi 70 nhưng vẫn còn giữ một chỗ đứng trong lòng người yêu nhạc.
Rất nhiều giấy của khán giả yêu cầu Thanh Thúy hát những bài hát mà họ ưa thích nhưng vì chương trình có hạn nên MC Nam Lộc phải lên tiếng cáo lỗi và hẹn vào một dịp khác.
Một sự tình cờ, người bước ra sân khấu tiếp theo Thanh Thúy lại là một ca sĩ tên cũng bắt đầu bằng chữ Thanh. Phải nói cô là người đã thành công trên cả 3 lãnh vực: âm nhạc, điện ảnh và kịch nghệ.
Về âm nhạc, cô nổi tiếng với những bản nhạc tiếng Pháp, về điện ảnh cô đã xuất hiện trong rất nhiều bộ phim và về kịch nghệ cô là diễn viên trong ban kịch Vũ Đức Duy.
Người nghệ sĩ đa tài đó là Thanh Lan.
Phạm Thái Thanh Lan có khiếu văn nghệ từ khi còn là nữ sinh Marie Curie và hát trên đài phát thanh Sài Gòn trong ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức.
Thanh Lan còn tham gia ban văn nghệ sinh viên học sinh Nguồn Sống và xuất hiện trên truyền hình khi Sài Gòn bắt đầu có TV vào năm 1967.
Thanh Lan bắt đầu trở thành một ca sĩ nổi tiếng khi cô học năm thứ nhất Đại học Văn khoa. Sở trường của cô là những ca khúc lời Pháp như La Plus Belle Pour Aller Danser (Phạm Duy chuyển sang lời Việt Em đẹp nhất đêm nay, bản nhạc này nổi tiếng một thời tại Pháp qua giọng ca Sylvie Vartan), Bang Bang (nguyên thủy Sheila hát, bài này cũng được Phạm Duy chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Khi xưa ta bé), Come back to Sorrento (Trở về mái nhà xưa) và Mon amie la Rose do chính Thanh Lan soạn lời Việt với tựa đề Nụ Hồng Mong Manh.
Thanh Lan còn hát chung với Nhật Trường qua những tình khúc của Trần Thiện Thanh, họ là một trong những cặp song ca ăn khách nhất thời đó. Hai người còn đóng chung với nhau hai bộ phim truyền hình Trên đỉnh mùa đông và Mộng Thường do Nhật Trường viết kịch bản và đạo diễn, phát sóng trên đài truyền hình Sài Gòn.
Sự nghiệp điện ảnh của Thanh Lan bắt đầu vào năm 1970, khi cô đóng vai chính trong bộ phim Tiếng hát học trò của đạo diễn Thái Thúc Nha do hãng phim Alpha sản xuất.
Với vai diễn này, Thanh Lan đã đoạt giải nữ diễn viên nhiều triển vọng nhất của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật.
Cuối năm 1974, tại phòng khánh tiết khách sạn Continental, Thanh Lan đã nhận giải diễn viên đẹp nhất miền Nam Việt Nam do đạo diễn Lê Dân trao tặng.
Khi Sài Gòn “đứt phim”, thỉnh thoảng Thanh Lan cũng xuất hiện với các bài như Cô đi nuôi dạy trẻ, Đi qua vùng cỏ non, Phượng hồng, Em đi chùa Hương, Triệu đóa hoa hồng, Trưng Vương khung cửa mùa thu…
Đến cuối năm 1993 thì cơ hội tới qua lần đến Mỹ tham dự buổi ra mắt cuốn phim Tình người do đạo diễn gốc Việt quay cảnh tại Việt Nam và cô thủ vai chính, Thanh Lan đã xin tỵ nạn.
Thoạt đầu, phát ngôn của Thanh Lan bị cộng đồng người Việt tại hải ngoại phản đối nhưng rồi với thời gian … dư luận nguôi ngoai, Thanh Lan chiếm dần lại cảm tình của khán thính giả để tiếp tục sự nghiệp.
Ở hải ngoại, Thanh Lan diễn kịch nhiều hơn đóng phim. Cô đóng vai chính trong các vở kịch như Lá sầu riêng, Lôi vũ, Lồng đèn đỏ, Đoạn tuyệt, Sân khấu về khuya, Phù dung tự…
Những vở kịch này đã được lần lượt trình diễn tại các sân khấu Quận Cam, San Jose, Houston, Atlantic…
“Cô Bắc Kỳ nho nhỏ có nốt ruồi duyên trên môi” nay đã 65 tuổi nhưng vẫn còn trẻ trung trên sân khấu Melbourne trong đêm Một thời để nhớ. Cô hát với chất giọng như ngày nào cộng thêm với kinh nghiệm của một diễn viên từng trải khiến sân khấu sống động.
Vẫn những bài xưa:
La Plus Belle Pour Aller Danser, Bang Bang rồi Bảy ngày đợi mong…
nhưng phần trình diễn của Thanh Lan rất sống động. Để hát bài Bảy ngày đợi mong của Trần Thiện Thanh cô mời một khán giả tình nguyện lên làm… người yêu.
“Anh hẹn em cuối tuần. Chờ anh nơi cuối phố. Biết anh thích màu trời. Em đã bồi hồi chọn màu áo…” thay vì màu áo xanh như lời bài hát, Thanh Lan đã chỉ tay vào áo dài của mình rồi sửa lời… chọn màu áo… bông!!! Khán giả được dịp cười ồ vì tài ứng biến của một diễn viên kịch.
Ca sĩ cuối cùng trong đêm Một thời để nhớ và cũng là người lớn tuổi nhất xuất hiện trong chương trình. Sân khấu bỗng tối đèn và khán giả chỉ nghe tiếng hát cất lên…
“Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông, đôi cánh chim bâng khuâng rã rời, cùng mây xám về ngang lưng trời… .”
Sau đoạn đầu bài hát Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, khán giả nhận ra ngay bản nhạc đã một thời đưa tên tuổi của Bạch Yến đến với những người yêu nhạc.
Bạch Yến sinh năm 1942, mới 10 tuổi đã giành huy chương vàng cuộc thi tuyển lựa những giọng ca nhi đồng do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức,
Năm 15 tuổi, chị bắt đầu được khán giả chú ý với ca khúc Đêm đông.
Năm 21 tuổi, Bạch Yến được mời qua Mỹ biểu diễn và trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình truyền hình Mỹ vào đầu năm 1965.
Chị là người đại diện cho Việt Nam tham gia Environment Show và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc nổi tiếng như Beatles, Bob Hoge, Bing Crosby, Pat Boone, Rolling Stones…
Ngoài tiếng Việt, Bạch Yến có thể hát tốt các bản nhạc tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý và Do Thái.
Năm 1978, chị kết hôn với nhạc sĩ Trần Quang Hải, con trai của Giáo sư Trần Văn Khê.
Cùng với chồng, trong 30 năm qua, chị đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam.
Trần Quang Hải lúc đó đã ly dị vợ, sống cùng con gái 5 tuổi, còn Bạch Yến ở cái tuổi 36, đang đứng trên đỉnh vinh quang của nghề hát, có nhiều người đàn ông ngưỡng mộ nhưng…vẫn cô đơn.
Bạch Yến kể về mối tình của mình trên VnExpress:
“Gặp nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris, chưa đầy 24 giờ anh đã ngỏ lời cầu hôn tôi và sau đó gửi 400 thiệp cưới đến mọi người khiến tôi vừa xúc động, ngỡ ngàng, vừa buồn cười.
Lúc đó, tôi còn một hợp đồng biểu diễn ở Mỹ, phải 3 tháng sau mới hết hạn, nhưng anh bảo tôi không đi nữa. Và thế là tôi theo chồng”.
Trong giờ nghỉ giải lao, Bạch Yến được khán giả hâm mộ của Melbourne vây quanh. Họ là những người tuổi đời được thể hiện qua mái tóc, qua vóc dáng về chiều nhưng vẫn còn in rõ nét đam mê ca nhạc của một thời để nhớ và cũng là một thời vĩnh viễn không bao giờ trở lại.
Thời của tuổi trẻ ngày nào.
Duyên may đã đến với tôi qua lời mời đi dự Một thời để nhớ của Nguyễn Lương Năng, người bạn cùng dạy tại trường Sinh ngữ Quân đội ngày xưa.
Duyên may cũng đến với tôi để có dịp sống lại suốt 5 tiếng rưỡi ngồi nghe những tiếng hát mà mình một thời hâm mộ tại một sân khấu không phải là Việt Nam.
Và còn một duyên may cuối cùng : tấm hình trên đã được gửi đến các bạn cựu đồng sự tại trường Sinh ngữ Quân đội.
Một trong số những người đó, anh Nguyễn Phan Thanh, đã có nhã ý ghép hình 2 đứa chúng tôi vào tờ chương trình live show Một thời để nhớ.
Thành ra chương trình có tới 16 nghệ sĩ, trong đó có 2 nghệ sĩ “dzỏm”. Đó là chuyện khó quên trong đêm Một thời để nhớ.
-
Nguyễn Ngọc Chính
38 NĂM NHÌN LẠI
Nguyễn Ngọc Chính
Con gái út của tôi sinh ngày 14/2/1975. Đây là một ngày tương đối đặc biệt nếu vào thời buổi này vì nhằm ngày Lễ Tình nhân Valentine.
Bây giờ vào ngày này, những người trẻ tuổi yêu nhau thường tặng nhau hoa hồng hay kẹo chocolate có hình trái tim. Ngày con gái út ra đời, Sài Gòn chưa biết đến Valentine nên 14/2 chỉ một ngày bình thường như bao ngày khác tại miền Nam đang ngày một leo thang chiến cuộc.
Điều quan trọng mà mãi mấy tháng sau tôi mới biết, cháu sinh ra chỉ cách ngày Sài Gòn đổi chủ hơn 2 tháng. Khi đó người Sài Gòn đã cảm thấy chiến tranh đang tiến gần đến cửa nhà mình. Những người “có máu mặt” đang rục rịch tìm đường “di tản” bằng nhiều cách, miễn là thoát khỏi Sài Gòn mà mọi người biết là vòng vây ngày càng thắt chặt.
Tôi chỉ là một Trung úy quèn, làm giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội, lại vừa mới đi tu nghiệp lần thứ 2 tại Hoa Kỳ trở về. Tôi không tìm đường đi Mỹ vì một điều dễ hiểu là mới từ bên đó trở về. Nói chung, cuộc sống ở đâu cũng khó khăn về vật chất nhưng về tinh thần thì sống tại nước Mỹ giữa những người khác màu da thì làm sao thấy thoải mái bằng ở Việt Nam, nơi ta sinh ra và lớn lên. Ý nghĩ đó theo tôi mãi cho đến ngày… bước vào trại học tập cải tạo.
Ngay từ khi Ban Mê Thuột thất thủ ngày 10/3/1975 (1) tin tức chiến sự ngày một xấu đi. Các bản tin luôn nhắc đến “di tản” rồi “di tản chiến thuật” bắt đầu từ cao nguyên rồi đến miền Trung. Mọi người chạy loạn đều cố về gần Sài Gòn, phòng tuyến cuối cùng của miền Nam.
Ngày đó, người ta nghe đài VOA, BBC vào sáng sớm cũng như mỗi tối để cập nhật tin chiến sự. Sau này có người còn nói chính đài BBC đã góp phần khai tử Sài Gòn sớm hơn bằng những bản tin chiến sự nóng hổi đến độ còn đang đánh nhau đã đưa tin thua trận!
Trở lại với Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 4/1975.
Chiều ngày 28/4/1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị oanh kích. Mãi sau này tôi mới biết người dẫn đầu phi đội 5 chiếc A-37 từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) cất cánh về hướng Sài Gòn và thả bom sân bay Tân Sơn Nhất là Trung úy phi công quân lực VNCH Nguyễn Thành Trung (2).
Nguyễn Thành Trung chính thức xuất hiện như một người thuộc “phía bên kia” từ ngày 8/4/1975. Vào lúc 8 giờ 30 phút sáng, Nguyễn Thành Trung xuất phát từ sân bay Biên Hòa đã lái chiếc F5E ném bom dinh Độc Lập. Lần đầu ném 2 quả bom rơi không trúng mục tiêu, lần cắt bom thứ hai có trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ (!).
Trung tiếp tục dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè, rồi lái máy bay đáp an toàn trên đường băng dã chiến 1.000m ở sân bay tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước) trong khi F5E cần một đường băng hạ cánh đến 3000m. Phước Long khi đó đã thất thủ vào tay VC.
Trong chiến tranh, những trường hợp “hai mang” như Nguyễn Thành Trung không phải là hiếm.
Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Trịnh Xuân Ẩn… (3) là những gián điệp “nằm vùng” hoạt động trước Nguyễn Thành Trung. Vai trò của họ đã và sẽ được dư luận đánh giá “có công” hay “có tội”.
Có điều tất cả họ sẽ vấp phải những nghi kỵ sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ của một cán bộ “nằm vùng”.
Lê Thành Chơn trong “Phút cô đơn và phẩm chất của người anh hùng” trên báo Sài Gòn Giải Phóng viết về Nguyễn Thành Trung như sau:
“… Đời người sĩ quan tình báo đã dấn thân tự nguyện phụng sự cho Tổ quốc thì coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Còn bây giờ, anh đang sống trong lòng đồng đội. Nhưng, một buổi chiều, Trung được yêu cầu phải báo cáo một số vấn đề thuộc về lý lịch của mình... Chẳng ai nói với anh nguyên nhân! Nhưng với giác quan của người sĩ quan tình báo lâu năm, anh hiểu đó là việc làm bình thường. Gần đây đã có một số phi công xấu lợi dụng sơ hở, cướp máy bay chạy trốn...”
Nhà tôi ở rất gần Lăng Cha Cả. Ngày 28/4, từ căn gác trên đường Bùi Thị Xuân tôi có thể nghe tiếng bom nổ ở phi trường Tân Sơn Nhất và sau đó cột khói đen bốc lên cao. Chiến tranh đã thực sự đến thật gần.
Sáng hôm sau, 29/4/1975, tôi quyết định chở gia đình vào tá túc tại Bệnh viện Sài Gòn, nơi bà xã đang làm việc.
Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu làm thế nào một gia đình gồm 6 người trong đó có một đứa trẻ sơ sinh còn ẵm ngửa có thể ngồi hết trên chiếc Honda SS50 chạy một mạch từ Lăng Cha Cả về Chợ Bến Thành. Tôi vẫn còn nhớ đường tại khu vực quận 1 khi ấy rất nhộn nhịp khác thường. Có cả phóng viên ảnh người nước ngoài đang cố gắng ghi lại những hình ảnh cuối cùng của Hòn ngọc Viễn Đông.
Đưa vợ con vào tá túc trong Bệnh viện Sài Gòn tạm ổn tôi mới tính đến bản thân mình. Lúc đó tôi đang được trường sinh ngữ biệt phái về Tổng cục Quân huấn để thành lập ban Tu thư Dịch thuật.
Tổng cục Quân huấn nằm trong Bộ Tổng tham mưu nên cuối cùng tôi quyết định vào đó “ứng chiến”.
Sáng ngày 30/4/1975 tôi rời khỏi Bộ Tổng tham mưu trong bộ đồ dân sự. Lúc đó khoảng 10g sáng, trời mưa lất phất. Ngoài đường vắng vẻ hơn ngày thường, một cơn mưa trái mùa khiến tôi có cảm tưởng như trời đang khóc cho Sài Gòn vào ngày “đổi chủ” và sau đó người Sài Gòn “đổi đời”!
Bây giờ ngồi viết lại tản mạn những suy nghĩ sau một thời kỳ kéo dài 38 năm tôi hoàn toàn không có ý tả lại những cảnh khổ. Điều này đã có quá nhiều bài viết và người viết đã làm. Mỗi người một cảnh, mỗi người một suy nghĩ khi nhìn lại quãng thời gian 38 năm.
Ông Võ Văn Kiệt khi nói về ngày 30/4/1975 đã cho rằng: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.
Nói như thế, sự kiện 30/4 được đón nhận theo cảm tính trái ngược nhau của những người sống tại miền Bắc và miền Nam vào thời điểm đó. Cũng là lẽ thường tình vì chúng ta nằm trong guồng máy chiến tranh, hoặc “bên này” hoặc “bên kia”.
Dĩ nhiên, người dân sống tại miền Bắc thấy cảm thấy “hồ hởi” trong số “hàng triệu người vui”.
Có những gia đình vui vì chồng cha, anh em sẽ không còn chịu cảnh “sinh Bắc, tử Nam”.
Có những người vui vì đất nước thống nhất, nói theo kiểu Trịnh Công Sơn, “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm…”.
Hay nói như “chú nhỏ 13 tuổi” Huy Đức trong Bên Thắng Cuộc:
“Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ:
phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối”.
Đó chỉ là ý nghĩ nông cạn của một chú bé đã lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.
Cảm nghĩ của Huy Đức sẽ thay đổi như thế nào khi đối diện với thực tế ở miền Nam những năm sau đó?
Sự vui mừng đó có còn trọn vẹn sau 38 năm đối với những người miền Bắc?
Hỏi tức là đã trả lời.
Cảm xúc của Dương Thu Huơng lại khác. Ngày mới đặt chân đến Sài Gòn khi vừa được “giải phóng”, tác giả đã bị choáng ngợp trước cuộc sống tiện nghi ở miền Nam, khác rất xa với cuộc sống khó khăn ở miền Bắc:
“Tôi đã ngồi phệt xuống vỉa hè Sài Gòn khóc, tôi biết miền Nam đã giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại...”.
Như vậy là những người từ miền Bắc vào Nam như Dương Thu Hương lại có một nỗi buồn chứ không phải nỗi vui khi nhìn tận mắt sự khác biệt giữ hai miền ngay từ năm 1975.
Nói chung, đó chỉ là những cảm nghĩ “vui – buồn” tức thời của nguời miền Bắc khi nghe tin “Sài Gòn được giải phóng”, cái mà người ta quan tâm là những thay đổi trong “tư duy” sau 38 năm.
Hàng triệu người miền Nam còn ở lại trong nước hay đã ra đi chắc chắn cũng không vui trong ngày 30/4/1975.
Có thể ai đó cũng vui khi Sài Gòn không bị “tắm máu” như lời đồn đãi.
Có thể người Sài Gòn bình thường cũng vui khi biết rằng đất nước sẽ qua đi thời chinh chiến để cùng nhau xây dựng lại quê hương theo như di chúc của ông Hồ Chí Minh:
“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”
Thực tế nhìn lại sau 38 năm thật phũ phàng. Thời điêu linh (4) kéo dài hơn 10 năm với các chính sách cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền”, cải tạo công thương nghiệp, kinh tế mới, đổi tiền, đốt sách… đã khiến hằng triệu người phải bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mong manh giữa sóng biển.
Trở lại với chuyện cô con út của tôi khi Sài Gòn sụp đổ mới chỉ chưa đầy ba tháng, hãy còn ẵm ngửa. Cô con gái này sau có biệt danh: “xúi quẩy”.
Cả nhà vẫn thường gọi đùa là vậy.
“Xúi quẩy” vì đồ đạc trong nhà cứ thay nhau ra chợ trời để lấy tiền mua gạo.
“Xúi quẩy” vì bố đi học tập mút chỉ.
Nói chung, “xúi quẩy” vì cả miền Nam đang trong thờ kỳ… “xúi quẩy”!
Tội nghiệp cho con bé hãy còn ẵm ngửa, nào có tội tình gì mà lại phải mang cái tên “xúi quẩy”.
Sau này khi biết nói, cháu bé còn giải thích vanh vách khi có người hỏi tại sao lại có tên “xúi quẩy”:
“Xúi quẩy là bán đồ đạc để lấy gạo ăn!”.
Từ đó, đối với tôi, hai chữ “xúi quẩy” vừa nghe buồn buồn của một thời điêu linh nhưng cũng lại mang ý khôi hài khi phát ra từ miệng trẻ thơ.
Cô con gái út còn ẵm ngửa ngày nào nay đã là mẹ của hai đứa trẻ.
38 năm nhìn lại tôi bỗng rùng mình như vừa qua một cơn ác mộng. Mộng và thực cứ như quyện lấy nhau đến độ không biết đâu là mộng, đâu là thực.
Trong sách Trang Tử có đoạn về Mộng hồ điệp được nhà văn Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:
“Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu”.
Chúng ta không phải là Trang Chu nhưng cơn ác mộng kéo dài 38 năm tựa như những ám ảnh trong tiếng đàn của Thúy Kiều:
“Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ điệp hay là Trang sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên”.
***
Chú Thích:
NGUYỄN THÀNH TRUNG
Nguyễn Thành Trung là một một cựu Đại tá Không quân Nhân dân Việt Nam, tên thật là Đinh Khắc Chung, sinh ngày 9/10/1947, tại Bến Tre. Cha là Đinh Văn Dậu (còn gọi là Tư Dậu), mẹ là bà Nguyễn Thị Mỹ.
Trung là người con trai thứ 4 trong gia đình có 5 anh em, vì vậy ông có có tên gọi trong gia đình là Năm Chung.
Sau năm 1954, trừ người anh cả tập kết ra Bắc, cả gia đình ông đều ở lại miền Nam.
Cha ông và người anh thứ hai đều hoạt động bí mật tại quê nhà. Riêng ông cùng người anh thứ ba và người em gái út sống công khai với mẹ để tiếp tục đi học.
Năm 1965, Trung được Ban binh vận T2 (khu 8) đưa lên Sài Gòn tiếp tục học hết bậc phổ thông, rồi vào học khoa Toán - Lý - Hóa ở Đại học Khoa học Sài Gòn (nay là Đại học Khoa học tự nhiên). Sau khi tốt nghiệp, ông được Ban Binh vận Trung ương cục Miền Nam chỉ đạo thi tuyển vào Không lực Việt Nam Cộng hòa. Ngay sau khi nhận được giấy báo trúng tuyển, ngày 31/5/1969, Nguyễn Thành Trung được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam.
Sau hơn một năm huấn luyện ở Nha Trang, Nguyễn Thành Trung được đưa đi đào tạo phi công ở các căn cứ Hoa Kỳ tại các bang bang Texas, Louisiana và Mississippi. Đến năm 1972 về nước, phục vụ tại căn cứ không quân Biên Hòa, trực thuộc Sư đoàn 3 Không quân, Phi đoàn 540 Thần Hổ.
Sau 1975, vì là người duy nhất có thể lái máy bay F5 và A37 của QĐNDVN, Nguyễn Thành Trung được phân công phụ trách công tác đào tạo, huấn luyện bay và đã góp phần rất lớn gầy dựng nên Trung Đoàn Không Quân Cường Kích 937 và Trung Đoàn Không Quân Tiêm Kích 935.
Tuy nhiên sau đó đã xảy ra một số vụ vượt biên trái phép bằng máy bay tại các sân bay phía Nam mà chủ mưu thường là các sĩ quan không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trá hàng nên Nguyễn Thành Trung cũng bị vạ lây và mất tin tưởng từ cấp trên, phải 'ngồi chơi xơi nước' cho đến năm 1980 mới được bay lại, nhưng chỉ được bay 4 vòng quanh sân bay rồi xuống đất chỉ đạo tiếp.
Cuối cùng Nguyễn Thành Trung cũng được minh oan và những đóng góp to lớn của ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 20/1/1994. Sau đó ông là Phó Tổng Giám đốc Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines).
Sau khi về hưu, Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay Beechcraft King Air 350 của Bầu Đức (Đoàn Nguyên Đức, Hoàng Anh-Gia Lai), người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay riêng.
(Nguồn: Wikipedia)
Phạm Xen
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ (1/2)
TÀI DANH TÂN NHẠC CỦA
SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ
Năng mời đi xem ca nhạc vào chiều nay, đây là lời mời từ tuần trước ngày April Fools’ Day 1/4 chứ hoàn toàn không có ý gì liên quan đến… Poisson d’Avil (Cá Tháng Tư).
Gần 3g chiều Năng đến đón, từ nhà đến rạp chỉ mất độ 5 phút lái xe.
Live show Một thời để nhớ diễn tại Millenium Reception thuộc khu Sunshine, nơi tập trung khá đông người Việt.
Theo quảng cáo trên tờ Nhân Quyền, chương trình có đến “14 nghệ sĩ, 14 nhân tài, 14 viên ngọc quý với tên tuổi đã sáng chói trong vòm trời ca nhạc và kịch nghệ Việt Nam trước năm 75…
Những giọng hát đặc biệt không thể thay thế được lần đầu tiên trình diễn chung trên sân khấu”.
Rạp hát tương đối nhỏ nếu so với Nhà hát Thành phố hay rạp Hòa Bình ở Sài Gòn.
Nhận xét đầu tiên khi đến rạp là khán giả có mặt tại đây đa số là những mái đầu bạc hoặc đầu hói và nếu có tóc đen chắc hẳn phải xài thuốc nhuộm !
Cũng là điều dễ hiểu, những người già thường có chung một khung trời kỷ niệm, họ hội tụ về đây cũng vì có chung… một thời để nhớ.
Giá vé xem ra cũng không rẻ: Platinum $140,
VIP $120,
Gold $80
và Silver $60.
Năng giữ chỗ 2 vé thuộc loại oách nhất và ngồi ngay ở bàn 01, gần sân khấu, dĩ nhiên là chủ nhà đãi khách ! Theo chương trình thì live show bắt đầu lúc 3g nhưng mãi gần 4g mới khai mạc.
Thế mới biết, người Việt Nam, dù ở trong nước hay hải ngoại, đều áp dụng “giờ cao su”, ngay cả việc đi ăn đám cưới cũng như đi xem hát, bao giờ cũng tà tà.
Hình như việc không giữ đúng giờ đã trở thành thói quen khó bỏ của người Việt.
MC Nam Lộc điều khiển chương trình tối nay và chính anh cũng mở đầu live show bằng màn trình diễn bài hát Sài Gòn vĩnh biệt do chính anh sáng tác. Tài ăn nói của Nam Lộc trên Asia không thua gì Nguyễn Ngọc Ngạn trên Paris By Night.
Nam Lộc, tên thật là Nguyễn Nam Lộc, lớn hơn tôi 2 tuổi, anh sinh năm 1944. Người nhạc sĩ kiêm ca sĩ này có đến gần 50 năm là MC kể từ ngày còn đi học. Vào thời điển đó anh thường tham gia các chương trình “nhạc trẻ”.
Ngày xưa người ta không gọi người điều khiển chương trình đại nhạc hội là MC mà dùng một cái tên rất gợi hình : “hoạt náo viên”.
Còn “nhạc trẻ” trước đó được gọi là “kích động nhạc”, với các nhịp điệu nhanh, trẻ trung như twist, be-bop, limbo rock, à gogo…
Tham gia phong trào nhạc trẻ vào đầu thập niên 1960, Nam Lộc và một số nhạc sĩ như Trường Kỳ, Tùng Giang, Jo Marcel… mở lối “Việt hóa” nhiều bản nhạc ngoại quốc thịnh hành bằng cách đặt lời Việt.
Vào những năm đó, Nam Lộc có cà phê Quán Gió làm đất hoạt động, anh cũng thỉnh thoảng đứng ra tổ chức các buổi trình diễn Đại hội Nhạc trẻ ở trường Lasan Taberd rồi Sân Vận động Hoa Lư hay Thảo cầm viên Sài Gòn.
Mãi sau này tại hải ngoại mới nổi lên MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Nguyên là nhà văn, Nguyễn Ngọc Ngạn mới chỉ có 20 năm làm MC nhưng phong cách đĩnh đạc, lối nói chuyện cũng thiên về văn chương, tung hứng với Kỳ Duyên nên rất ăn khách trên Paris By Night.
Nam Lộc hợp cùng Thùy Dương, Ngọc Đan Thanh và Việt Dũng diễn trên sân khấu Trung tâm Asia có phần lép vế hơn Paris By Night.
Trước khi hát Sài Gòn vĩnh biệt, Nam Lộc cũng giải thích tại sao tối nay chỉ có mình anh làm MC cho chương trình Một thời để nhớ dành cho những người lớn tuổi. Anh nói đùa, có lần MC trẻ Thùy Dương đã giới thiệu bài hát Cho một người nằm xuống của Trịnh Công Sơn thành Cho một người nằm… sướng.
Cô MC đã bị “Mỹ hóa” đổ tội cho Nam Lộc đã viết tiếng Việt không dấu, cô còn lý luận cứ nằm là sướng rồi nên nằm xuống hay nằm sướng cũng same same ! Khán giả cười dù họ biết đó chỉ là chuyện bịa cho vui của Nam Lộc.
Không kể Nam Lộc, ca sĩ đầu tiên xuất hiện trên sân khấu Một thời để nhớ là Mai Lệ Huyền với các bài thuộc dòng “kích động nhạc” : Một trăm phần trăm,
Sáu mươi năm cuộc đời,
Anh là lính đa tình…
Tên tuổi của Mai Lệ Huyền đã một thời gắn bó với Hùng Cường,
trên sân khấu đêm nay, cô cũng nhắc lại tên của người bạn diễn đã ra đi trước khi làm nóng sân khấu với những bài nhạc trẻ.
Người biết chuyện còn nhớ và đầu thập niên 60 cô nữ sinh Nguyễn Thu Cúc học tại trường trung học Bình Long đã xuất hiện trong buổi ca nhạc gây quỹ từ thiện với sự góp mặt của ban Tân Dân Nam. Theo chương trình, đêm đó có sự hiện diện của “nữ hoàng” Yến Vỹ nhưng ca sĩ này bị bịnh đột ngột nên trong phần văn nghệ, Tân Dân Nam yêu cầu nhà trường góp vui với “cây nhà lá vườn”.
Cô bé Thu Cúc có hai giòng máu Việt-Lào, nước da bánh mật ngăm ngăm nên bạn bè thường ghẹo là Cúc “noir” đã trở thành Mai Lệ Huyền của làng ca nhạc Sài Gòn từ đó.
Chẳng bao lâu Mai Lệ Huyền trở thành một cái tên khá quen thuộc tại vũ trường Melody, càng lúc càng được chú ý nhiều hơn khi được mời trình diễn tại các Club Mỹ và cô có dịp hát chung với Trần Văn Trạch, Elvis Phương, Khánh Hà…
Nhạc Twist bùng nổ tại Sài Gòn sau khi nhóm Trịnh Lâm Ngân (gồm Trần Trịnh & Nhật Ngân) tung ra ca khúc Gặp Nhau Trên Phố do Mai Lệ Huyền lần đầu tiên hát chung với Hùng Cường mặc áo treilli bên cạnh một cô búp bê bằng… lửa.
Mai Lệ Huyền rất sexy, bộ ngực thì nửa kín nửa hở, mini jupe thì may sát mông…
Nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn gọi Hùng Cường và Mai Lệ Huyền là cặp “đệ nhất sóng thần” nhưng đối với những người khó tính thì đây là cặp chuyên hát… nhạc sến!
Sự nghiệp ca hát của Mai Lệ Huyền đã lên tới đỉnh cao khi cô chọn Đệ Nhất Khách Sạn để làm nơi trình diễn ca nhạc hàng đêm với các nghệ sĩ tên tuổi như Thanh Tuyền, Phương Dung, Carol Kim, Giao Linh, Phương Hồng Quế… Thái Châu khi mới vào nghề cũng đã may mắn được Mai Lệ Huyền mời về cộng tác tại Đệ Nhất Khách Sạn.
Ngoài việc đi hát cho các vũ trường, thu băng liên tục, nhiều người còn biết đến những tài năng đa dạng khác của Mai Lệ Huyền như đóng kịch, đóng phim...
Trong đêm Một thời để nhớ cô cũng đã diễn chung với Xuân Phát trong một vở nhạc kịch lipsing mang tựa đề: “Bún bò giò heo Mụ Rớt”. Đây là một hoạt cảnh diễn viên chỉ diễn xuất điệu bộ còn phần nhạc hát nhép theo đĩa thâu sẵn. Cô cũng là 1 trong 3 ca sĩ xuất hiện trong phần 2 của đêm live show như là một diễn viên… bao sân.
Sài Gòn xưa có ba người lính trẻ, điển trai, thuộc Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương:
Thanh Phong-
Duy Mỹ-
Phương Đại,
thành lập nhóm Sao Băng từ năm 1963 và trở thành ban tam ca nổi tiếng nhất miền Nam trong suốt hai thập niên 60 và 70.
Sao Băng đã từng xuất ngoại các nước Âu-Á và cũng đã có lần trình diễn trên Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ ngoài khơi Thái Bình Dương.
Tam ca Sao Băng thường hát nhạc của nhóm Lê-Minh-Bằng, gồm các nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng, được thành lập năm 1966 và hoạt động đến ngày Sài Gòn thất thủ.
Quả là có một sự trùng hợp ngẫu nhiên trong mối liên lạc giữ hai nhóm bộ ba nhạc sĩ và ca sĩ trong nền âm nhạc Việt Nam trước năm 1975.
Định mệnh của hai nhóm cũng có những điểm giống nhau đến kỳ lạ. Ca sĩ Duy Mỹ và nhạc sĩ Minh Kỳ ở lại Việt Nam và “băng” khi tuổi đời còn trẻ;
nhạc sĩ Anh Bằng và Phương Đại đến Hoa Kỳ còn Lê Dinh và Thanh Phong định cư tại Pháp.
Tuy nhiên, chỉ có một trong 3 thành viên Sao Băng có mặt trong đêm Một thời để nhớ được MC Nam Lộc mô tả là người ca sĩ có “khuôn mặt mũm mĩn, dễ thương” y như ngày nào.
Trên sân khấu, Thanh Phong tâm tình cùng khán giả, tam ca Sao Băng có ngôi sao Duy Mỹ đã “băng”, ngôi sao Phương Đại còn đang lơ lửng chờ băng nên chỉ còn lại mình anh gặp gỡ đồng hương tại Melbourne.
Thanh Phong trông còn rất trẻ, vẫn nét thư sinh ngày nào và anh đã thành công trong việc chinh phục lớp khán giả đầu bạc với giọng ca điêu luyện, phong phú.
Mở màn phần trình diễn của minh, Thanh Phong đã khiến một số người ngạc nhiên với một loạt 3 bài Hòn Vọng Phu của Lê Thương và trong số 3 nhạc phẩm trình diễn, Ly cà phê cuối cùng của nhóm Lê-Minh-Bằng đã gieo vào lòng người nghe những cảm xúc y nguyên từ thời son trẻ…
Ngày xưa, “lò” Nguyễn Đức đào tạo khá nhiều ca sĩ nổi tiếng qua ban Việt Nhi, trong đó phải kể đến một loạt các ca sĩ có tên Phương Hồng như:
Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm…
và những tên tuổi đã đi vào lòng người yêu nhạc của Sài Gòn xưa như Thanh Phong, Thanh Lan, Hoàng Oanh…
Vốn sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, Huỳnh Kim Chi được thân phụ huấn luyện kỹ thuật ca ngâm từ năm 5 tuổi và đến 8 tuổi đã bước lên sân khấu với bài Hương lúa miền Nam.
Kim Chi có biệt tài ca hát, ngâm thơ từ nhỏ, khi còn học tại trường Gia Long vẫn thường xuyên đi thu âm và biểu diễn. Người ta đã bắt đầu làm quen với người nghệ sĩ mang tên Hoàng Oanh từ đó.
Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn với bằng Cử nhân văn chương nhưng Hoàng Oanh tạm gác ước mơ làm cô giáo để bước vào con đường ca hát chuyên nghiệp qua các chương trình Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng, Tiếng Hát Đôi Mươi của Nhật Trường, Trường Sơn của Duy Khánh, Nhạc Vàng của Phó Quốc Lân, Tiếng Thùy Dương của Châu Kỳ…
Hoàng Oanh cũng góp giọng ngâm thơ qua chương trình Tao Đàn của Đinh Hùng, Tiếng Thơ của Thanh Nam, Ly Tao của Thái Thủy trên đài phát thanh.
Đặc điểm đáng lưu ý là trong sự nghiệp trình diễn của mình, Hoàng Oanh không xuất hiện tại các vũ trường hay phòng trà mà chỉ thỉnh thoảng hát tại đại nhạc hội vì gia đình rất nghiêm khắc.
Riêng trong hoạt động thu âm, Hoàng Oanh được đánh giá là một trong những nữ ca sĩ được mời thâu dĩa nhiều nhất thời bấy giờ với khoảng 200 đĩa hát của các hãng Asia, Sóng Nhạc, Việt Nam, Sơn Ca, Thiên Thai, Continental…
Tại Melbourne, Hoàng Oanh ra mắt khán giả bằng Chuyến đò vĩ tuyến của Lam Phương và, dĩ nhiên, có phần ngâm thơ dạo đầu. Trong bài tiếp theo, người nghe nhạc có gốc miền Trung chắc phải xúc động với Chuyện một chiếc cầu đã gãy của Trầm Tử Thiêng, chuyện kể sau biến cố Tết Mậu Thân ở Huế. Cô nữ sinh Gia Long ngày nào vẫn sống mãi trong lòng người yêu nhạc dù đã ở vào tuổi 63.
Thật tình, nếu Hoàng Oanh vẫn chiếm được sự ngưỡng mộ của khán giả thì người ca sĩ tiếp đó đã làm người xem thấy tiếc và buồn cho cuộc đời cầm ca. Để trụ vững trên sân khấu, người nữ ca sĩ cần 2 yếu tố: Tài và Sắc.
Có Sắc nhưng thiếu Tài cũng có thể được khán giả thuộc loại dễ tính chấp nhận khi bước lên sân khấu. Tuy nhiên, nếu có Tài nhưng thiếu Sắc chắc chỉ có con đường duy nhất dẫn đến thành công là hát trên đài phát thanh, trên làn sóng điện để không ai có thể chiêm ngưỡng được sở đoản của mình.
Điều đáng buồn là Trúc Mai không nằm trong trường hợp nào đã nói ở trên. Hồi cuối thập niên 1950 Trúc Mai đã vào nghề ca hát với thể điệu boléro tại phòng trà Hòa Bình với Bạch Yến, Bích Chiêu… Trúc Mai nổi tiếng với bài Bambino mà danh ca Dalida thường hát nhưng phải nói thành công nhất là bài Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh. Đó cũng là lý do Trúc Mai gắn bó với loại nhạc được nhiều người cho là… rẻ tiền.
Với tuổi tác và sức khỏe, Trúc Mai trở lại với khán giả ngày nay không được như kỳ vọng của cả người hát lẫn người nghe.
Đó là sự thật, một sự thật đáng buồn nhưng có lẽ đành phải chấp nhận. Người ta thường nói “lực bất tòng tâm” cho nên nhiều nghệ sĩ đã chọn con đường giải nghệ khi cảm thấy mình không còn đủ sức đứng trên sân khấu.
Trường hợp của Giang Tử cũng không khác Tuyết Mai là mấy. Giang Tử là ca sĩ nổi lên từ những thập niên 60-70 với sở trường là các ca khúc bolero mùi mẫn.
Tuy nhiên, anh có cái dũng cảm của một người ca sĩ đã thẳng thắn tuyên bố trong đêm Một thời để nhớ:
anh sẽ rời ánh đèn sân khấu sau đêm diễn tại Melbourne. Và cũng để chia sẻ với quyết định giải nghệ của anh,
Melbourne đưa một ca sĩ trẻ, “cây nhà lá vườn”, hát chung với Giang Tử và được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.
Giang Tử tên thật là Nguyễn Văn Giang, theo anh giải thích, vì ưa thích phiêu bạt “giang hồ lãng tử” nên anh mới ghép tên thành Giang Tử.
Năm 2009 anh được con gái bảo lãnh qua Mỹ và trung tâm ca nhạc đầu tiên anh cộng tác tại hải ngoại là Asia với bài Giọt buồn không tên hát chung với Phương Hồng Quế, người anh coi là em gái và cũng là người giới thiệu anh với Asia.
Năm 1958 Giang Tử theo học nhạc sĩ Y Vân,
năm 1960 bắt đầu bước vào lãnh vực ca nhạc và năm 1963 nhập ngũ, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến. Ngoài ca hát, Giang Tử còn là một diễn viên trong ban kịch Gió Nam và anh cũng có tài ngâm thơ.
Hiện nay Giang Tử đang định cư tại thành phố Houston, Texas.
(Bài này viết trước khi Giang tử mất)
Ca nhạc Sài Gòn xưa có Ban tạp lục của Tùng Lâm được phát sóng hàng tuần trên Đài phát thanh. Chương trình luôn kết thúc với câu hát quen thuộc:
“Tới đây chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm…”
và câu nói đó đã đi vào cuộc sống hàng ngày của người Sài Gòn khi muốn nói đến việc chấm dứt.
Tùng Lâm tên thật là Lâm Ngươn Phẩm, sinh năm 1934 tại Biên Hòa.
Con đường nghệ thuật bắt đầu mở ra vào năm 1948 khi Tùng Lâm đoạt thủ khoa cuộc thi hát của Đài Phát thanh Pháp – Á qua ca khúc An Phú Đông của nhạc sĩ Lê Bình, sau đó ông lại chiếm thủ khoa cuộc thi hát do Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức năm 1952 – 1953 với bài Tiếng dân chài của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
Phải nói Tùng Lâm có ngoại hình không mấy ăn khách, ông chỉ cao 1m54, nặng 49kg, nhưng bù lại có tài diễn hài rất tinh tế và duyên dáng nên được báo chí gọi là “Tiểu Quái Kiệt”, sau “Quái Kiệt” Trần Văn Trạch, em trai của Giáo sư Trần Văn Khê.
Tùng Lâm còn mở lớp dạy đàn, luyện thanh và nhạc lý tại tư gia trên đường Trần Văn Thạch,
cạnh chợ Tân Định, đối diện rạp hát Modern.
Cũng như “lò” Nguyễn Đức với các ca sĩ có tên bắt đầu bằng Phương Hồng, những ca sĩ xuất xứ từ “lò” Tùng Lâm đều mang họ Trang như:
Trang Thanh Lan,
Trang Kim Yến,
Trang Kim Phụng
và Trang Mỹ Dung.
Trang Mỹ Dung là ca sĩ duy nhất trong đêm Một thời để nhớ đến từ Việt Nam và được khán giả vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.
Trang Mỹ Dung ra đĩa hát đầu tiên khi mới 17 tuổi với nhạc phẩm Hai mùa mưa của Lê-Minh-Bằng qua hãng đĩa Sóng Nhạc và bây giờ ở Việt Nam chị chỉ hát cho các chương trình từ thiện.
Trang Mỹ Dung thuộc thế hệ ca sĩ của thập niên 1960 cùng với Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Giao Linh, Phương Dung…
Chị đã góp phần định hình nên một dòng nhạc có cách hát khác hẳn với các ca sĩ thuộc dòng nhạc tiền chiến và Trang Mỹ Dung đã trở thành một trong những huyền thoại của nền ca nhạc trước năm 1975.
Một lần nữa, trên sân khấu Melbourne, bản nhạc Hai mùa mưa lại vang lên trong khán phòng với tiếng hát trầm buồn của Trang Mỹ Dung. Người nghe như chùng xuống để thấy lòng trở về những ngày xa xưa của Một thời để nhớ…
“Mùa mưa lần trước anh về đây ghé thăm tôi
Tình xưa bạn cũ gặp nhau đêm ấy mưa rơi.
Tách cà-phê ấm môi,
Mình ngồi ôn lại những phút vui trôi qua mất rồi
…
Mùa mưa lại đến tôi mừng vui đón tin anh
Đèn khuya một bóng nhìn mưa rơi suốt năm canh.
Nghĩ rằng tôi vắng anh…
Vì nghiệp trai còn đi giữ quê hương cho chúng mình…
Vào cuối thập niên 60, Sài Gòn có khá nhiều đào kép nổi danh trong giới nghệ thuật trình diễn.
Đây cũng là thời hoàng kim của báo giới với nhiều ký giả chuyên đưa những thông tin giật gân về giới văn nghệ sĩ đang được khán giả ái mộ. Những vụ scandal về tình ái, ghen tuông, cặp bồ, bỏ nhau… bao giờ cũng được người đọc các báo lá cải quan tâm bên cạnh những tin chiến sự hàng ngày diễn ra trên toàn miền Nam.
Nổi bật nhất là scandal giữa một “Tông Tông” và một cô ca sĩ có giọng hát khàn khàn, kiểu như nghẹt mũi.
Cô lại có một nhan sắc dễ nhìn, phải nói là ai nhìn cũng thấy thích. Người ta đồn cô là “phòng nhì” của Tonton nên phu nhân Tonton mới dàn xếp để cô sang sống tại Tây Đức vào năm 1969. Thậm chí người ta còn đồn khi đó cô đang có bầu… ?!
Trong đêm nhạc hội Một thời để nhớ MC Nam Lộc giới thiệu với khán giả người ca sĩ đó. Anh nói là cô “được mọi người ưu ái trong đó có cả một Tonton”. Điều này khiến tôi ngỡ ngàng khi nghe một MC có cách giới thiệu như vậy.
Không ngờ Nam Lộc lại có thể nhắc đến vụ scandal tai tiếng theo tin đồn xa xưa về một người ca sĩ sắp sửa lên hát. Tôi nghĩ, Nam Lộc đã phạm một sai lầm trên sân khấu vì những chuyện đó thuộc về đời tư, không nên tuyên bố công khai trước khán giả cho dù người có liên quan đồng ý hay không. Lương tâm của một MC không cho phép làm như vậy vì phạm đến nguyên tắc “fair play”…
Sau lời giới thiệu của MC Nam Lộc, ca sĩ Kim Loan xuất hiện trên sân khấu. Cô bây giờ có phần đẫy đà hơn xưa với chiếc áo dài màu vàng-đen, đi kèm là chiếc khăn choàng màu hồng khoác bên ngoài.
Tóc Kim Loan nhuộm nâu theo phong cách phương Tây và khi cất tiếng hát người ta vẫn nghe giọng khàn khàn như nghẹt mũi từ thuở nào.
Tuy vậy, phần đông những người yêu nhạc trước 1975 đều nhìn nhận Kim Loan ngày nay khác xưa rất nhiều, khác cả về “thanh” lẫn “sắc”.
Ít ai có thể chinh phục được thời gian, nhất là những người chọn con đường ca hát một khi tuổi tác đã đè nặng trên vai.
Kim Loan xuất thân từ “lò” Nguyễn Đức qua ban Việt Nhi từ khi lên 9 tuổi.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức được coi như một “phù thủy” đào tạo ra những nghệ sĩ, ca sĩ nổi danh với các nghệ danh Phương Hồng như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Ngọc… (trước đó là Quốc Thắng, Kim Chi, Hoàng Oanh, ban Trio Sao Băng và ngoài ra lò này còn sản sinh ra 2 danh hề là Thanh Hoài xưa có tên Thanh Bằng và Trần Tỷ – admin)
Kim Loan chính thức bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình năm 1966 khi đó cô đúng 17 tuổi rưỡi qua nhạc phẩm Căn nhà ngoại ô của nhạc sĩ Anh Bằng. Bản nhạc này ngày nay vẫn được các hãng đĩa hòa âm, phối khí theo phong cách mới tại hải ngoại.
Năm 2006, Kim Loan đã có lần trả lời một cuộc phỏng vấn của Tạp chí Văn Hóa tại Hoa Kỳ về vụ scandal với Tonton. Xin được trích nguyên văn như sau:
“…Người ta nói đến ông T…, người ta nói rằng Loan vào hát trong Dinh Độc Lập… Thực sự tới bây giờ Loan chưa biết Dinh Độc Lập ra làm sao. Còn cái chuyện đồn đại thì Loan nhớ là Loan sang Đức năm 1969, Loan lập gia đình ở Đức năm 1970, đến năm 1972 hay 1973, con trai của Loan bị bịnh, Loan cứ ra vào nhà thương lo cho con. Cùng lúc ấy, Loan được thư bà dì của Loan viết từ Việt Nam gửi sang, bà kể bà rất tức vì ở Sài Gòn người ta đồn bậy về đời tư của Loan. Loan không cho là quan trọng. Nhưng những người thân trong gia đình Loan, như Mẹ của Loan, những bà dì, bà thím của Loan, thì tức lắm. Còn anh Minh chồng Loan thì anh nói cái chuyện đó không có ảnh hưởng một tí nào đến hạnh phúc vợ chồng của anh và Loan…”
Tác giả bài viết này không bình luận gì thêm và dành quyền xét đoán cho người đọc, những người đã quan tâm đến diễn biến của tin đồn tai tiếng và những lời trần tình của người có liên quan vì bây giờ ông T… đã mất.
- Nguyễn Ngọc Chính
(còn 1 kỳ nữa)
Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017
LỊCH SỬ QUẢNG BÌNH Và NAM TIẾN QUÊ TÔI.
Quảng Bình thời Bắc thuộc là một phần phiá nam Quận Nhật Nam, từ năm 192-605 dân bản xứ nổi lên đánh đuổi quan cai trị người Hán , chiếm một vùng Huế đến núi Bạch Mả, Thành Lồi (Nguyệt Biều) mà lập nên Vương Quốc Độc Lập Lâm Ấp trong thời gian đó Đại Việt còn bị Bắc thuộc ). Lâm Ấp là tiền thân của Vương Quốc Champa , Năm 605 Lâm Ấp bị nhà Hán đời nhà Tùy đánh bại và Và Vương Quốc Champa luôn có chiến tranh với người Hán , với người Việt và Vương quốc Kmer.
Vương quốc Champa có thời cực thịnh Chế Bồng Nga ( Che Bunga) 1360-1390) vị vua thứ 39 của Vương Quốc Champa ( vị vua thứ 3 , triều đại thứ 12 ) mà lảnh thổ trải dài từ Đèo Ngang, Hoành Sơn đến Bình Thuận thủ đô là Đồ Bàn nay thuộc xả AnNhơn tỉnh Bình Định ( thời Nguyễn Nhạc làm vua nhàTây Sơn
cũng xây đô trên Đồ Bàn củ di tích còn lại làa Thành Hoàng Đế )
Bây giờ lần thứ 3 Chế Bồng Nga tiến đánh Thăng long Vua Trần VN rất sợ hải , trong trận chiến tại Sông Hải Triều ( Sông Luộc thuộc tỉnh Thái Bình bây giờ, Chế Bồng Nga bị pháo tử thương 1390, quân Chàm cướp được xác không đầu cuả CBN đem về cố quốc. Ít năm sau Nhà Trần cũng mất ngôi về tay Nhiếp chính Hồ Qúy Ly, ông này giết cháu ngoại là Vua Trần Thiếu Đế và Lập ra nhà Hô 1400 , quốc hiệu đổi tư Đại Việt thành Đại Ngu đến đời con Hồ Hán thương đánh Chiêm chiếm Chiêm Động và Cổ Lủy ( Quảng Nam và Quảng Ngải ngày nay) bị .Nhà Hồ caó chung 1407 khi nhà Hán chiếm.
Vào thời đại Nhà Lý , năm 1069 chiến tranh Chiêm Việt xảy ra Nguyên Soái Lý Thương Kiệt bắt được Vua Chiêm Chế Củ về Thăng Long , Chế củ phải dâng 3 châu đễ được thả về là Điạ Lý, Malinh và Bố Chánh, năm sau LTK nam tiến bất thành và cho di dân đến lập nghiệp và đối Điạ Lý thàng Bình Tiên, Ma Linh thành Minh Linh và Bố chánh thành Nam Bố Chánh.9 Nay là Quảng Bình, Quảng Trị và một phần Thưà Thiên )
Dùng hôn nhân đễ mở rộng bờ cỏi : Năm 1306 , vâng lời thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, Vua Trần Anh Tông gả em gái Huyền Trân Công Chuá cho Vua Chàm Chế mân , sinh lể là Châu Ô, Châu Rí (Lý)tức Huế, Thừa Thiên bây giờ)
Thời Hậu Lê ( Lê Trung Hưng ).
Năm 1568 Vua Lê Thánh Tông ( Lê Duy Ninh) lập thừa Tuyên thuận Hoá và cử Nguyễn Hoàng vào trân giử : Thừa Tuyên Thuận Hoá gồm một phủ Tân Bình còn gọi là Tiên Bình với 2 huyện Khương Lộc và Lệ thủy. 2 châu là Minh Linh vàBố Chánh.
Bắc Nam Trịnh Nguyễn Phân Tranh :
Năm 1558 Chuá Nguyễn Hoàng đảm nhận thừa tuyên Thuận Hoá sau đổi Thừa tuyên Thuận Hoá thành Phủ Quảng Bình rồi Dinh Quảng Bình.
Đời chuá Sải Nguyễn phúc Nguyên Châu Bố Chánh bị chia hai lấy Sông Gianh làm giới tuyến :
Bố Chánh Ngoại Châu thuộc nhà Lê và Bố Chánh Nôi Châu nam Sông Gianh thuộc Chuá nguyễn.
Đời Vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhập hai Châu Bố Chánh thành Châu Thuận Chánh,.
Năm 1801 Nguyễn Ánh ( Vua Gia Long ) lại chia hai Bố Chánh như củ sau đổi thành Dinh Quảng Bình rối Trực Lệ Quảng Bình.
Đến đời Vua Minh Mạng lại đổi Bố Chánh Nội Châu thành Huyện Bố Chánh và đổi Bố Chánh ngoại châu thành Châu Bó Chánh rôi huyện Bố Chánh.
Năm 1831 Vua Minh Mạng đổi Dinh Quảng Bình thành Tỉnh Quảng Bình,
Đến đời Vua Tự Đức Tỉnh Quảng Bình gồm có 2 phủ và mỗi phủ có 3 huyện:
Phủ Quảng Trạch với 3 huyện Bình Chánh, Minh Chánh và Bố Trạch .
Phủ Quảng Ninh với 3 huyện Phong Lộc, Phong Đăng và Lệ Thủy.
Sau khi thống nhất Việt Nam 1975.
1976 hợp nhất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên làm Bình-Trị-Thiên và cia lại như củ 1990.
Nay Tỉnh Quảng Bình gồm một Thành phố Đồng Hới và 6 huyện :
H. Bố Trạch với thị xã Hoàn Lảo ( có Di Sản Thế Giới Phong Nha - Kẻ Bàng National Park).
H. Lệ Thủy.
H.Minh Hoá.
H.Quảng Ninh,
H.Quảng Trạch với thị xả Ba Đồn.
H. Tuyên Hoá.
( Theo Từ Điển Nhà Nguyễn cuả Hương An Vỏ văn Dật xuất bản 2912 tại Nhà Sách Nam Việt.)
Theo nhà cổ sử học Trần Quốc Vượng và theo sách Tan Thư Quận Chí cuả Trung Quốc:
Bắc Quảng Bình 1700 năm trước Lâm Ấp ( đời Đường và Chiêm Thành đời Tống ), tiền thân của Vương Quốc Champa:
Năm 1069 Quảng Bình chính thức thuộc Đại Việt, Chế Củ bị bắt và phaỉ chuộc tự do băng 3 châu Điạ Lý, Minh Linh và Bố Chánh., Champa chỉ còn từ Quảng Nam đến Bình Thuận.
Đến đời nhà Hô , Hồ Hán năm 1402 chiếm Chiêm Động và Cổ Lủy ( là Quảng Nam, Quảng Ngải bây giờ. Đất chót của chiêm thành là Trấn Thành tự trị trong Tỉnh Bình Thuận Năm 1692 cũng bị Chuá Nguyễn Phúc Chu xoá sổ. )
Năm 1471 Vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm mở rông biên giới đến phiá nam Núi Đá1 Bia ( Thạch Bi Sơn )tức nam Phú Yên bây giờvà đặt ra thừa tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghiã, Hoài Nhơn, Từ Nghiã. tư Nghiã chính là tiền thân Quảng Ngải ngày nay.
Chuá Sải Nguyễn Phúc Nguyên ( 1613-1635) gả Công Chuá Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp tạo thuân lợi cho di dân Việt về nam vùng Bà Rịa rối giúp Dương Ngạn Địch và tùy tùng định cư ở Mỷ Tho, Trần Thượng Xuyên ở Nông Nai ( Đồng Nai ) khai thác, buôn bán và lập các làng Minh Hương khắp nơi.
Chuá Nguyễn Thứ 7 Nguyễn Phúc Chu cử Ông Nguyễn Hửu Cảnh làm Kinh Lược Sứ đất Chân Lạp.
Mac Cửu và con là Mạc thiên Tứ khai thác Hà Tiên vào thời Vỏ Vương Nguyễn Phúc Khoát ( chuá thư 8). Lập hai đạo kiên Giang, Long Xuyên, chấm dứt Nam Tiến : đến Mủi Cà Mau, Về phiá tây gồm Châu Đốc, An Giang rồi Gò Công , Tân An ( Tầm Bôn, Lôi Lạc ).
1700 năm trước Quân Kim Linh gồm bắc Quảng Bình , đến thời Vua Minh Mạng kỵ húy đổi chử Kim thành chử Thọ : Tho Linh .
Thọ Linh liên xã thành hìnhgồm Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương và Thổ Ngoạ và ngày nay Thọ linh chỉ còn là một thôn ( làng ) thu nhỏ.
Quảng Bình đau thương từ Trịnh Nguyễn Phân Tranh đến Chiến Tranh ủy nhiệm nội chiến Quốc Cọng trong đó Quảng Bình gần như bị san bằng vì B52 trải thảm trừ 20 Km DMZ Vùng Phi Quân Sự ngang vỉ tuyến 17..
Dân Quảng Bình điạ Linh nhân kiệt ( Ngô Đình Diệm, Vỏ Nguyên Giáp, Đinh Xuân Quảng ( Wikipedia)..."Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn Vỏ Cổ Kim ", cuộc sống dân chúng đang từ từ phục hồi .
THỌ LINH QUÊ TÔI
( Cám ơn ông Phan Văn Khuyến , tác giả Một Thuả Vui Buồn đã cho nhiều chi tiết thân thương vê Thọ Linh.ĐXD.)
Quê tôi dưới Dảy Trường Sơn,
Kim Linh tên củ sử còn rỏ ghi:
Một ngàn bảy trăm niên kỳ.
Quận KIM LINH bắc Quảng Bình ngày nay.
Thời Vua Minh Mạng đổi thay:
Kim Linh quốc húy sửa thành THỌ LINH.
Thọ Linh liên xã thành hình:
La, Hà, Cảnh, Thổ, hửu tình Lệ Sơn.
Nhân kiệt phát , điạ linh còn .
Tho Linh nay chỉ là thôn thu mình:
Một thôn năm xóm hồi sinh:
Tây Trường, Đông Tự, Trung Đình, Bắc Lang.
Bên Sông có xóm Nam Hà,
Rào Nan uốn khúc chảy qua xóm làng.
Thọ Linh phong thủy nhịp nhàng:
Tây lên Cao Mại phong hàn gió sương.
Đông xuống Thọ Hạ, Diên Trường.
Nam phường Cây lim, Nam Trang, Kẻ Bàng.
Bắc Lâm Xuân giáp xóm Làng.
Đất đai một giải sơn hà vấn vương.
Động Cao, Rú Cấm, ruộng nương.
Rào Nan Đập nước dẩn mương đến làng.
Tương Trần Nu, Miểu Thành Hoàng
Dẹp Chiêm ,mở nước, dựng làng di dân.
Mai, Trần, Phan, Nguyễn, Đinh Xuân.
Yêu thương đùm bọc như dân họ hàng.
Chợ Thọ Linh cạnh Rào Nan,
Với hai bến nước tây nam bốn mùa.
Trường Thọ Linh có từ xưa ( 1922)
Bên đường xe lửa xuyên qua xóm Chuà.
Xa quê mới thấy nhớ nhà,
Nhớ nước Giếng Mả, nhớ Bà Nội xưa.
Nhớ nền nhà củ Xóm Chuà.
Nhớ cây khế ngọt đến mùa đơm bông.
Thao thức giá buốt đêm đông .
Gió heo may thổi như Ông Mệ về.
Rú Thông lăng mộ chỉnh tề.
Đêm nghe tiếng vạc nhớ về quê cha.
Quảng Thuận
Đinh Xuân Dũng.
Thung Lủng Hoa Vàng 10/8/2017.
NÓI THÊM VỀ NGHIỆP BỆNH
Stt của nhà văn Phạm Lưu Vũ:
Ở đời có câu: “cái sảy nảy cái ung”, lại có câu “giậu đổ bìm leo”… chính là những câu nói về lẽ nhân quả. Bởi vì “cải sảy” là nhân, mà “cái ung” là quả, cũng như “giậu đổ” là nhân, mà “bìm leo” là quả vậy…
Ai cũng hiểu đó là chuyện ngoài đời (ngoại thân). Nhưng ít người biết rằng cả hai câu trên chính là nói chuyện bên trong con người (nội thân) mà cụ thể là nói về bệnh… ung thư. Khối u nó cố thủ sẵn ở đâu đó, nhỏ như cái “sảy”, nhưng hễ có dịp là nó nảy ngay thành cái “ung”. Cho nên “cái sảy nảy cái ung” là nói về khối u. Ban đầu có thể chỉ là cái u lành, song một khi hội đủ “duyên”, thì nó sẽ phát tác, sẽ “di căn”… Cho nên “giậu đổ bìm leo” là nói về bệnh ung thư khi bắt đầu di căn vậy.
Mình đã có lần viết, đại khái tuyệt đại đa số bệnh tật, nhẹ thì ngứa ngáy, nặng thì đau đớn… chủ yếu đều do những “nghiệp” (dữ) nó sinh ra. Riêng bệnh ung thư thì chắc chắn do “nghiệp”.
Chả cứ bệnh tật trong người, ngay cả chuyện làm ăn ngoài đời cũng do “nghiệp quả” nó can thiệp ngấm ngầm mà rất… hiệu quả. Người có nghiệp lành thì đầu tư 1 vốn 4 lời… cứ như thể tiền nó tự biết “đẻ”, đẻ nhiều đến nỗi… ung thư cả túi. Kẻ mang nghiệp dữ thì làm đâu lỗ đấy, lãi mẹ đẻ lãi con… cứ như thể tiền nó tự biết “cháy”, cháy nhiều đến nỗi… cháy cả túi.
Tất cả nghiệp lành và dữ nói đến ở đây, đều không phải do tạo ở đời này, mà do tạo từ những kiếp trước, người phàm không thể nào biết được.
Như trong 1 bài viết trước đã nói. Bệnh tật vì là nghiệp, cho nên hình dáng (tướng) của nó gọi là “chứng bệnh”, nguồn cơn (gốc) của nó gọi là “tâm bệnh” và bản chất (thể) của nó gọi là “nghiệp bệnh”.
Bệnh ung thư chính là như thế. Chẳng khác nào chủ nợ nó dẫn xã hội đen mang dao vào trong nhà mà ngồi lì, mà dọa giết…
Tây y chỉ chữa “chứng bệnh”, giống như gọi công an tới can thiệp. Ban đầu có thể làm cho bọn kia sợ mà tạm thời bỏ đi. Song sau đó chúng lại quay lại. Lại báo công an, nhưng lần này công an phải dùng tới lựu đạn cay để đuổi (giống như dùng hóa chất, phóng xạ…). Chỉ đuổi thôi, chứ không diệt được nó. Vì thế rốt cuộc nó vẫn quay lại đòi cho kì được (thân mạng) mới thôi.
Đông y (cùng lắm) chỉ chữa đến “tâm bệnh”, giống như mời người có uy tín đến nịnh nọt, năn nỉ bọn kia. Nịnh khéo thì nó đồng ý cho khất nợ vài tháng, vài năm… Khéo nữa thì có thể khất được chục năm… Thậm chí thầy giỏi, cực giỏi thì có thể khất nợ cho đến tận… kiếp sau. Thế là mừng húm, cứ tưởng khỏi bệnh, song nghiệp đâu còn đó, trước sau gì cũng phải trả.
Còn một cách chữa nữa, không phải thầy thuốc, mà là “thầy bà”. Đây là cách chữa “nghiệp bệnh” của các loại tà ma, ngoại đạo. Cách này giống như họ mang “tín dụng đen” đến giúp người bệnh trả nợ. Bọn kia đòi được nợ, bằng lòng rút đi hẳn. Song người bệnh lại mắc nợ “tín dụng đen”, phải chấp nhận đời đời kiếp kiếp phụ thuộc vào họ, mãi mãi làm “đồ chúng”, “quyến thuộc”… của ma.
Những “thầy bà…” cực kì cao tay mà bất lương, thì thậm chí còn có thể ứng trước “nghiệp” của con cháu người bệnh đem ra trả nợ thay. Thế là họ vừa chả mất gì, lại vừa tạo được vô số đồ chúng, quyến thuộc…
Cho nên bệnh càng nặng thì (trước đó) càng cần phải tỉnh táo, sáng suốt. Tốt nhất là tự mình trả nghiệp. Trả như thế nào? Xin đợi đến... hồi sau.
Fb Oanh Bùi chia sẻ
TỰ SỰ NGOẠI TÌNH
Quen nhau trên group, buổi hẹn đầu tiên hai đứa vào bar uống đâu dăm ly, ôm nhau nhảy say sưa. Một lúc hắn ghé tai thì thầm “Đêm nay anh đưa em về nhé!” Mình vờ vịt hỏi về đâu ạ! Nhíu mắt rất gian, hắn bảo: “Em có muốn vào cái nhà mà có chữ nghỉ không?”
Lúc ấy hơi phê phê, nhưng mình vẫn tỉnh lắm, nói, nhưng vào đó anh phải hứa không được làm gì em nha. Hứa đi! Hắn gật, nói rồi rồi, chỉ ôm nhau ngủ trong sáng thôi.
Vào nhà nghỉ, hắn với tay tắt đèn. Mình ú ớ hỏi, ơ anh hứa chỉ ôm nhau trong sáng mà! Cởi cái quần đùi hoa ra, hắn cười he he nói: "ừ, ôm nhau trong sáng, còn phang nhau thì trong tối". Thế là xong 5 năm "thủ tiết" với chồng.
Trên đường về hắn dặn: “Cấm để thằng chồng đụng vào người em nghe chưa”. Mình nói: "Nhưng nó cứ đòi đụng thì làm thế nào"! Hắn nghiêm mặt: “Thì nhét đôi bít tất vào chỗ đó, nói em đang đèn đỏ”. Mình tát vào mặt hắn, bảo: "Anh đồ lưu manh". Hắn nói: "công nhận".
Tối lão chồng đòi làm tí. Mình ôm riết lấy thằng con, vùng vằng gắt: “Thằng này nó tỉnh ngủ lắm đấy”. Chồng véo cái vào mông bảo, thì sang phòng khách ta "chiến". Mình lấy tay lão dí vào chỗ đó, xì môi: “Nhưng lò lại đang bận sốt cà chua”. Lão tiu nghỉu bỏ ra phòng khách, vừa đi vừa lầm bầm: “Sốt sốt cái đéooo gì mà sốt lâu thế”. Nhìn mặt lão thộn thộn thấy cũng tội nhưng thôi kệ, vì mình không thích. hi hi.
Trưa nói chuyện điện thoại. Đang anh anh, em em ngọt xớt tự nhiên nghe hắn chuyển giọng: “Dạ, cám ơn chú, bố cháu vẫn khỏe ạ. Dạo này chú có hay đi đánh cờ tướng không? Dạ, dạ, cám ơn chú nhiều”. Mình gắt: "Anh điên à. Tự nhiên lảm nhảm chú chú, cháu cháu cái gì thế"? Lát sau hắn gọi lại bảo đang nói với em thì con ngan già xách phích nước sôi đi xuống, may thấy anh xưng chú chú, cháu cháu nên nó tưởng gọi điện chúc tết ông chú họ, hú hồn. Mình nói anh là đồ gian manh. Hắn cười hé hé hỏi em thấy anh tỉnh không? Mình bảo tỉnh.
Đi chùa về, hẹn nhau nhà nghỉ. Mình chơi nguyên combo áo chống nắng, khẩu trang, kính đen… cưỡi Lead vàng 2 gương phi tới. Một lát sau hắn đi con Morning đến. Thằng lễ tân hỏi cô chú qua đêm hay nghỉ giờ ạ? Hắn quát: “Anh chị thôi, cô chú cái đéooo gì. Ra lấy giấy báo bọc biển số xe .lại cái”. Mình hỏi bọc làm gì. Hắn bảo: "Bọc kẻo người quen chúng nó trông thấy. Có hôm xong việc quên béng, chạy ra ngã tư có đứa đi sau nháy nháy đèn mới biết chưa gỡ tờ báo che biển số. Mẹ, muối hết cả mặt, may chưa về đến nhà".
Lúc ôm nhau mình hỏi dạo này con ngan già nhà anh nó có bắt nhúng trym vào bát nước ấm nữa không? Hắn bảo à không, nó bắt trả bài đầy đủ thôi. Nhưng ngày xưa thì 3, 5, 7 - tuần ba chiếc. Giờ anh kêu áp lực công việc, xì chét xì chiếc, lại có tý tuổi nên tính theo quý rồi. Một quý một lần, lễ tết khuyến mại thêm chiếc nữa là vui vẻ hát bolero cả ngày luôn. Mình hỏi thế nó không nghi à? Hắn bảo không, khi triển khai anh toàn nghĩ đến em. Nghe xong sôi hết cả máu, mình chửi anh là thằng đểu. Hắn nhếch mép thủng thẳng bảo đứa nào ăn vụng chả đểu.
Sáng nay dậy sớm. Lúc đang đánh răng chồng bảo “Em dạo này có ai à?” Mình nguýt cho cái, bảo anh đừng nói linh tinh ảnh hưởng đến danh dự em. Lão sợ mình cáu, líu cả lưỡi xin lỗi rối rít, rồi nói anh đùa, tại anh thấy em sốt cà chua lâu quá !!! (Song Hà)
Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017
BÀI HỌC...NGÀN VÀNG
Ngày xửa ngày xưa ở vương quốc nọ có một đức vua trên đường vi hành tình cờ đã nghe được từ một ông lão rao bán rằng:
"Có một bài học đáng giá nghìn vàng”, ai bỏ ra một ngàn lượng vàng thì ông ta sẽ bán cho cái đạo lý đó…
Nhiều người nghe thấy lạ thì tò mò đi theo dò hỏi, tuy nhiên gạn hỏi thế nào ông lão cũng chỉ nói:
-Ai trả đủ một ngàn lượng vàng thì kẻ đó mới được biết bí mật của “bài học”.
Bởi vậy nhiều người cho là lão bị điên vì họ nghĩ chẳng có bài học nào đắt đến như vậy.
Ngày ngày ông lão cần mẫn đi như một người bán rong và rồi tiếng rao của lão cũng đến tai nhà vua.
Vua ngạc nhiên vội cho cận thần theo dõi và được mật báo rằng ông lão có hành tung như một vị hiền triết – cốt cách khoan thai, đời sống chuẩn mực, đàng hoàng, lời ăn tiếng nói không thừa một chữ, biểu hiện của người siêu phàm, thoát tục…
Nhà vua cả mừng bèn giả dạng thường dân đến gặp và hỏi ông lão rằng bài học gì mà lão rao bán đến một nghìn lượng vàng?
Ông lão nói:
-Đây là bài học mà có thể làm cho người ta thoát khỏi những đau khổ của cuộc đời, vượt qua khỏi những lầm lỗi và có thể đạt tới tột đỉnh vinh
quang…
Nghe xong, nhà vua vẫn còn bán tín bán nghi nên bỏ về, nhưng lòng cứ ray rứt bởi sức hấp dẫn của ý nghĩa bí ẩn của bài học đáng giá ngàn vàng ấy.
Rồi nhà vua quyết định mở ngân khố lấy ra một nghìn lượng vàng rồi hạ chỉ mời ông lão vào hoàng cung.
Ông lão cả mừng vì nhận ra đức vua chính là người hôm trước đã gặp và hỏi lão về bí mật của bài học đáng già ngàn vàng.
Vua nói:
-Ta chấp nhận hoặc bị lừa mất một nghìn lượng vàng hoặc thật sự sẽ được một bài học vô giá.
Nói đoạn, nhà vua truyền cho quan Thủ ngân chất đủ một ngàn lượng vàng trước mặt ông lão.
Nhân đủ số vàng, ông lão cung kính dâng lên đức vua một vuông lụa viết vỏn vẹn 10 chữ:
"Phàm làm việc gì, suy nghĩ đến hậu quả của nó”.
Đọc xong 10 chữ ấy, đức vua có cảm giác như mình đã bị lừa, nhưng lời vua nặng tựa Thái Sơn, nên không kịp rút lại, đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Còn ông lão thì lặng lẽ chất vàng vào túi vải, cung kính vái tạ vua rồi rời khỏi kinh thành.
Từ đó nhà vua cứ bị ám ảnh bởi 10 chữ:
"Phàm làm việc gì phải suy nghĩ đến hậu quả”
và nếu nhà vua chỉ mua câu nói này với một lượng vàng thì chắc hẳn Người đã quên bài học này từ lâu. Nhưng đằng này, mỗi chữ trị giá tới 100 lượng vàng. Nghĩ vậy, đức vua vừa tức giận, vừa tiếc công quỹ và câu nói nặng ngàn vàng đó đã nhập vào tâm nhà vua tự bao giờ để rồi mỗi khi nhà vua làm việc gì đều suy nghĩ đến hậu quả của nó.
Tới khi đức vua mua “bài học ngàn vàng” thì cả triều đình nhận ra nhà vua thay đổi từng ngày.
Đức vua trầm tĩnh hơn, khôn ngoan hơn, công tư phân minh, phân định mọi việc sáng suốt, ngồi trên ngai vàng trong hoàng cung mà đoán định tình hình ở biên cương như thần…
Đất nước từ đó bắt đầu cường thịnh.
Thần dân thì mừng vui vì đời sống được an lành, thịnh vượng.
Nhưng chính nhà vua lại không nhận ra điều đó, ông chỉ bị ám ảnh bởi bài học ngàn vàng và Người luôn tự nhủ:
"Phàm làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến hậu quả của nó!"
Nhờ vậy mà nhân cách nhà vua được tu chỉnh, đức vua không còn là một vì Vương tầm thường kế vị ngai vàng, thích hưởng thụ như ngày xưa mà giờ đây làm việc gì Người cũng suy nghĩ cho dân, cho nước.

