Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Người Do Thái thông minh như thế nào


Trong ngôi làng nọ của người Do Thái , một người nông dân do hoàn cảnh khó khăn đã mắc nợ món tiền lớn của tên trưởng giả trong làng. Tên trưởng giả, dù rất già và xấu xí, lại luôn mơ tưởng về cô con gái trẻ đẹp của người nông dân. Vì vậy, hắn ta đề nghị một cuộc trao đổi.
Hắn nói rằng sẽ sẵn sàng từ bỏ khoản nợ kia nếu cưới được cô con gái. Hắn sẽ đặt một viên sỏi màu đen và một viên sỏi màu trắng vào một túi tiền rỗng. Sau đó, cô gái sẽ phải chọn một viên sỏi, có 3 trường hợp xảy ra :

Trường hợp 1: Nếu cô chọn phải viên sỏi màu đen, cô sẽ trở thành vợ hắn và nợ của cha cô sẽ được xóa hết.

Trường hợp 2: Nếu cô chọn phải viên sỏi trắng, cô không cần phải kết hôn với hắn và nợ của cha cô vẫn sẽ được xóa hết.

Trường hợp 3: Nếu cô từ chối chọn một trong hai viên sỏi, cha cô sẽ bị ném vào tù.

Khi đó, họ đang đứng trên một con đường rải đầy sỏi cạnh khu vườn của người nông dân. Khi nói chuyện, tên trưởng giả cúi xuống nhặt hai viên sỏi, và cô gái tinh mắt nhận thấy rằng hắn ta đã bỏ vào túi cả hai viên sỏi màu đen. Sau đó, hắn yêu cầu cô gái chọn một viên từ chiếc túi này.
Đứng trước lựa chọn khó khăn đó, cô gái Do Thái đã tìm ra cách xử lý tuyệt vời vừa cứu cha mình, vừa tự giải cứu chính bản thân khỏi tên trưởng giả xảo quyệt.

Và đây là cách mà cô ấy làm:

Cô đưa tay vào chiếc túi và rút ra một viên sỏi. Không để cho mọi người kịp nhìn thấy, cô lóng ngóng làm rơi nó xuống con đường vốn rải đầy sỏi và nó ngay lập tức bị lẫn mất giữa vô số các viên sỏi khác. “Ồ, làm thế nào bây giờ, tôi vụng về quá”, cô nói. “Nhưng không sao, nếu ngài nhìn vào viên sỏi còn lại trong túi, ngài sẽ biết màu của viên sỏi mà tôi đã chọn”.

Tất nhiên, viên sỏi còn lại là màu đen, như vậy mặc nhiên viên sỏi cô gái đã chọn phải là màu trắng. Và khi đó, tên trưởng giả không thể nào thừa nhận sự ăn gian của mình và buộc phải xóa nợ cho gia đình người nông dân một cách vô điều kiện như đã hứa. Cô gái đã rất thông minh và linh hoạt xoay chuyển tình huống éo le, biến nó thành lợi thế của mình.

Câu chuyện kể trên cho thấy rằng, hầu hết các vấn đề phức tạp trong cuộc sống hay công việc hàng ngày đều có thể giải quyết bằng một giải pháp đơn giản, chỉ cần thay đổi cách suy nghĩ và cách tiếp cận vấn đề mà thôi!

Theo Trí thức trẻ/CafeBiz




GỬI VŨ.

Sau vụ Tôn Hoa Sen tuyên bố đầu tư vào dự án nghìn tỉ USD vào nhà máy thép ở Cà Ná, có nhiều ý kiến phản hồi. Đây là một trong những ý kiến của nhà văn Bùi Huy Hoi

Anh lạy #emvũtônhoasen ba vạn chín ngàn phát. Chưa có nhà đầu tư nào định làm dự án hơn 10 tỷ đô mà lại có cam kết khơi khơi, kiểu trẻ trâu như em.
Cam kết kiểu này, nghe hơi bị quen. Anh cũng biết 1 thằng, vay ngân hàng làm nhà máy thật, chả may, vỡ nợ. Nhân viên ngân hàng gọi điện đòi miết. Cuối cùng nó bảo, tiền vay của các ông, nhà máy thế chấp cho các ông rồi, là tiền của các ông, đến lấy đi, đòi đéo, rồi tắt phụt, hehe.
...
Anh cũng chóng mẹ hết cả mặt với 4 "linh tinh thần chém" vừa hiện hồn trong giờ cuối của tháng cô hồn với chương trình "đối thoại chính sách".
Biết các thánh giỏi như nào rồi. Trên thì thông tận trần nhà, dưới thì tường tận toilet, phán tuyền đúng, chém vu vơ nhưng động tác thì, hết sức đẹp. Tổ sư.
Nói thiệt nè, sau thảm họa môi trường do FMS gây ra tại Vũng Áng, giờ tin mỗi thằng ku Chu Xuân Phàm: "muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…"!
Nghe bảo em giàu có, giỏi giang lắm, nhưng anh đéo thể tin lời cam kết của em đâu vũ à. Anh đang théc méc, đéo gì lắm nữa, sao hồi này lắm bọn bán cao lừa, bọn nổ láo thế? Tiền tỉ đô cứ như tiền âm phủ. Có cứt, hehe.
Chả hiểu sao, lại vẫn có người tin.
Em nổ to quá, ồn đéo nghe thấy gì cả. Ghé tai gần anh bảo này vũ, nếu vừa nhiều tiền, vừa yêu nước, thì mang mẹ sang trung quốc mà đầu tư làm nhà máy thép. Đấy mới là tuyệt đỉnh của tuyệt chiêu.
Lừa được thằng tàu khựa tham lam, độc ác, tráo trở, dã tâm..., nhân dân sẽ đời đời ghi nhớ và tôn vinh em như anh hùng dân tộc.
Dân mình khổ lắm rồi, anh lại lạy em đủ ba vạn chín ngàn lạy lần 2, chỉ để xin em buông tha cho dân.
Trước kia, #thằngmặtlồngvõkimcự cũng từng tuyên bố đanh thép như em, cũng đôn đáo chạy vạy khắp nơi, cũng nổ láo cơ hội vàng đưa HT thoát nghèo vươn lên nọ kia..., thảm họa xảy ra mới lòi mặt chuột. Giờ thằng cự đang đòi đi nghiên cứu học tập cái đéo gì ở nước nọ nước kia. May có anh họ Vương, quách tỉnh, không đồng ý. Đèo mẹ, thằng này được đi, lặn mẹ luôn rồi quay về Đài định cư, coi như hoàn thành nhiệm vụ. Chết dở !
Nghề thép, nặng nghiệp lắm đấy vũ. Đừng đùa.
Qua tháng cô hồn rồi. Hi vọng tháng mới, vận mới.
01.01.09.

FB BÙI HUY HOI BUI



Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Sơ lược về nguồn gốc một số địa danh miền Nam

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1 Tên do địa hình, địa thế:

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre:

“Gió đưa gió đẩy,
về rẫy ăn còng,
về bưng ăn cá,
về giồng ăn dưa…”

Giồng

là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát: “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện).

Lại nhắc đến một câu hát khác:

“Ai dzìa Giồng Dứa qua truông
Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…”

Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn).

Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì?

Truông

là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

Tại sao lại có câu ca dao này?

Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

Phá

là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy, sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

Bàu

là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

Đầm

chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng giòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà Mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

Bưng

từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng.

“…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”.

Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng Trôm và Bưng Cốc.

Láng

chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Đức Hòa (giữa Long An và Sài Gòn) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng

chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hòa có Trảng Bom, Trảng Táo.

Đồng

khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hòa, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố

chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hòa có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.


2 Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hóa đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hóa một cách tài tình.

Cần Thơ

Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”. Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hóa, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”. Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hóa tiếng Khmer “kìntho”,người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

Mỹ Tho

Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng

Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt). Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên,châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu

Bãi Xàu là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách

Kế Sách cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Cửu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hóa tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác:

Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hóa của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”, là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

Cà Mau là sự Việt hóa của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.


3 Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi,người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ

Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau:

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như: Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.
– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như: chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo , chợ Bà Rịa.
– Theo vị trí của chợ, như: chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

Xóm

là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí.

Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình…

Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn: vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm lưới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ

là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như: Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương). Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến

ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam…

Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như: Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức, Bến Gỗ ở Biên Hòa.

Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như:

Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4 Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch… thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngã Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ… Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận. Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai.

“Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Kết

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thủy đã biến mất theo thời gian. Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn. Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cầu cũ ở nơi đó để gọi khu đó, như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

HỒ ĐÌNH VŨ
Source http://www.caidinh.com/trangluu/vanhoaxahoi/xahoi/soluocvenguongoc.htm

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

TỰ SỰ TRƯƠNG QUANG THI

Mình học hành cũng chẳng tới đâu, chẳng qua là lăn lộn nhiều nên va chạm và trải nghiệm được chút đỉnh những góc cạnh của cuộc sống, Nói theo ngôn ngữ của giới "hàn lâm" thì chỉ là kẻ hớt váng, theo đóm ăn tàn nên ...

Mà thôi kệ mẹ nó đi.

Facebook là trang cá nhân, nó như một cuốn "nhật kí công khai" của mỗi người, thích viết gì là tuỳ vào trạng thái tâm lý ở mỗi thời điểm.

Đọc và viết với mình là cách để rèn luyện bản thân, ý tưởng đôi khi người này thích nhưng người kia không khoái đó cũng là lẽ thường tình bởi có câu "chín người mười ý". Ông bà xưa đúc kết điều này cũng là cách tôn trọng tính đa nguyên, đa quan điểm của tổng hoà các mối quan hệ trong xã hội.
Những điều mình chia sẻ có khi là trải nghiệm bản thân, có khi đúc kết từ kinh nghiệm của người khác, và đôi khi chẳng là cái mẹ gì cả, đơn giản là thích. Vậy thôi

Cho nên mình không khoái ai đó khuyên mình phải sống thế nào.

Ba mình ngày trước thường có câu : Mỗi con người chỉ có một cuộc đời, sống lâu hay mau không quan trọng bằng sống có ý nghĩa.

Cho nên con đừng phí phạm thời gian để cố gắng làm hài lòng tất cả, điều đó chỉ khiến con mệt mỏi và đánh mất bản thân mình. Đừng cố trộn lẫn mình để mong được như ai đó vì tạo hoá đã cố tình tạo ra những cuộc đời khác nhau không phải để mình phải giống một ai.

Trả lời câu hỏi của một người bạn về quan điểm cá nhân mình cho rằng mỗi thời đại có những yêu cầu khác nhau cho nên sống, học tập theo gương một người ở thế kỷ trước là điều ngu xuẩn.
Tây họ chẳng học tập theo bố con thằng nào nhưng cứ nhìn những đóng góp của họ cho nhân loại ta vẫn phải cúi đầu.

Tại sao ta không chắt lọc cái tinh hoa mà đi dựng một hình mẫu để rồi bắt chước, há như vậy chẳng phải là tự đánh mất bản thân sao ?

Túm quần lại là bạn đừng khuyên ai đó phải sống thế nào, nếu đủ bản lãnh bạn cần dung hoà và dùng sự khác nhau đó để tạo ra một sức mạnh tổng hợp, cái này bổ trợ cho cái khác.

Còn nếu không thì hãy là chính mình và tuyệt đối tôn trọng sự khác biệt bởi có câu đồng dao : Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn.

Một quan điểm có thể đúng lúc này, hoàn cảnh này nhưng có thể sai hoàn toàn trong một thời điểm và hoàn cảnh khác. Cả tin vào chân lý mơ hồ chỉ là cách nhanh nhất để làm vùi chết não trạng của mình thôi.

FB TRƯƠNG QUANG THI /
30/8/2016


Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Alexandre de Rhodes không phải là “cha đẻ” chữ quốc ngữ?

Tại hội thảo “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 24-8 ở huyện Điện Bàn, nhiều ý kiến cho rằng giáo sĩ Francisco de Pina là người đặt nền tảng cho việc ra đời của chữ quốc ngữ.

Hội thảo thu hút hàng trăm nhà khoa học, sử học, chuyên gia trên khắp cả nước tham dự.

Tại hội thảo, ông Lê Văn Thanh - phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam - cho biết những nghiên cứu của các nhà khoa học suốt gần 15 năm qua đã đưa ra những kết luận khoa học có giá trị về vai trò, công lao của Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) và Alexandre de Rhodes (người Pháp) trong sáng tạo, hoàn thiện chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17.

Theo tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn - phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, hội thảo thu hút 69 tham luận là những nghiên cứu khoa học đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục.

Trong đó nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò tiên phong của giáo sĩ Francisco de Pina trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người có công hoàn thiện chữ quốc ngữ thông qua việc tu chỉnh, biên soạn và xuất bản hai cuốn sách quan trọng là Từ điển Việt - Bồ - La và Phép giảng tám ngày vào năm 1651.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết có lẽ một thời gian rất dài chúng ta nhắc đến Alexandre de Rhodes có vai trò hết sức quan trọng trong sự đóng góp phát triển chữ quốc ngữ, và quan trọng là di cảo ông để lại.

Quả thật trong điều kiện tư liệu lúc đó, ông Rhodes là người đóng góp rất lớn. Nhưng sau này khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu nhiều hơn, những công trình đã tiếp cận các nguồn tư liệu rất khó tiếp cận thì mới thấy được ông Francisco de Pina là người không những đi trước mà còn để lại nhiều dấu ấn, bằng chứng lịch sử để thấy ông là người sớm nhất, giỏi tiếng Việt nhất thời điểm ấy. Vì thế chúng ta tôn vinh một cách công bằng nhưng không phải vì thế mà hạ thấp người này, nâng cao người khác.

“Nhưng ngay chính trong sách ông Alexandre de Rhodes viết cũng nói rất rõ là viết từ điển dựa vào thành quả của những người đi trước. Điều đó cho thấy sự hình thành, phát triển chữ quốc ngữ có sự đóng góp của nhiều thế hệ, là cả một quá trình, từ chỗ ý tưởng đầu tiên đến thử nghiệm đầu tiên, rồi có cả một công trình đi vào đời sống” - ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh.


Theo thông tin tại hội thảo, năm 1617 giáo sĩ Francisco de Pina được cử vào xứ Đàng Trong giúp đỡ Nhật kiều công giáo ở Hội An. Sau đó giáo sĩ chú tâm nghiên cứu, sáng tạo chữ quốc ngữ. Và tại Thanh Chiêm, nơi được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chọn làm dinh trấn của Quảng Nam, đã ra đời trường dạy quốc ngữ đầu tiên.

Source Tuoitreonline 25/8/2016


Nhà sử học Dương Trung Quốc trò chuyện tại hội thảo - Ảnh: Lê Trung



Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

KIẾP GÀ TRỐNG


Có con gà trống hoa mơ
Nó đi đạp mái bạc phơ cả đầu
Bạc thì bạc có sao đâu
Nếu không đạp mái sống lâu làm gì?
Cũng con gà trống hoa mơ
Nó đi đạp mái hói trơ cả đầu
Hói thì hói có sao đâu
Nếu không đạp mái tóc, râu làm gì?
Còn con gà mái hoa mơ
Nó đi tìm trống đỏ phơ cái mào
Đỏ thì đỏ kệ xác tao
Nếu không tìm trống thì tao ế à?
Ước gì anh hóa thành gà
Ngày ngày đạp mái các nhà xung quanh.
Cúm gà chỉ chết mình gà
Cúm chim thì chết cả bà... lẫn ông.
Ra đường sợ nhất cúm gà
Về nhà sợ nhất vợ già... khỏa thân?!
Mai sau về với ông bà
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân.
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm con gà trống cho đời tự do
Thả sức mà gáy o... o...
Quanh năm đạp mái không lo trả tiền
Xong rồi về với tổ tiên
Tắm qua một cái rồi lên bàn thờ
Lạc vào tiên cảnh nên thơ
Khỏa thân tạo dáng dư thừa sức trai
Cuộc đời ngẫm cũng chông gai
Thôi thì ta cứ đầu thai kiếp gà
Tha hồ ghẹo nguyệt trêu hoa
Ăn no, rửng mỡ lê la xóm làng!
Kiếp gà trống thật vẻ vang
"Đạp" xong vỗ đít gáy vang đất trời
Sướng hơn cái kiếp làm người
Sống vô tư suốt một đời... làm trai.
(st)

HỌ ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO ĐẤT NƯỚC? (NGUYỄN HƯNG QUỐC)

Phát biểu tại cuộc họp báo đầu tiên sau khi được bầu làm chủ tịch Quốc hội khoá 14 vào ngày 23 tháng 7, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, một mặt, ca tụng các thành tựu của đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác, phê phán các tổ chức xã hội dân sự và những người thường xuyên phản biện lại các chính sách của đảng và nhà nước. Bà nói:
“Bảo vệ hòa bình không phải hô hào cho thật to, kích động thế này thế khác là có được chủ quyền, không có đâu. Một số tổ chức, cá nhân lên tiếng hô hào thế này thế nọ nhưng những người đó, tổ chức đó làm gì cho đất nước? Chưa làm gì cả, chỉ có nói, kích động các phần tử để làm rối tình hình.”
Phát biểu của bà Nguyễn Thị Kim Ngân rất giống với các luận điệu thường nghe của các dư luận viên của đảng. Trên các mạng lưới truyền thông xã hội, đặc biệt facebook, để chống chế lại những sự phê phán đối với các chính sách sai lầm cũng như những việc làm sai trái của giới lãnh đạo Việt Nam, các dư luận viên cũng thường nói: Các người chỉ biết nói suông chứ đã thực sự làm được điều gì cho đất nước?
Sự giống nhau trong các lời phát biểu trên cho thấy hai điều: Một, đó là quan điểm chung của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay; và hai, quan điểm ấy chỉ là một sự nguỵ biện vừa sai lầm vừa hời hợt. Sai lầm một cách hời hợt.
Trong một chế độ dân chủ, khi người dân được quyền tự do phản biện và hành động, người ta có thể khuyên, giống như lời khuyên của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy trước đây, “đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn mà hãy tự hỏi bạn đã làm được gì cho đất nước”. Nhưng dưới một chế độ độc tài thì khác. Ở Việt Nam hiện nay, việc hình thành các tổ chức xã hội dân sự bị cấm đoán. Một số tổ chức xã hội dân sự được ra đời một cách tự phát thì bị ngăn chặn mọi hoạt động, ngay cả những hoạt động được thừa nhận trong hiến pháp: biểu tình, dù là biểu tình với một lý do hoàn toàn chính đáng là chống lại các việc gây hấn ngang ngược của Trung Quốc. Xuống đường biểu tình: bị bắt. Thậm chí chỉ lên tiếng phản biện lại chính phủ cũng bị trù dập. Trong hoàn cảnh như thế, hỏi những người yêu nước đã làm được gì cho đất nước cũng giống như việc trói chân trói tay một người rồi trách mắng là họ không làm được điều gì cả.
Trong lúc chính quyền Việt Nam tìm mọi cách để phủ nhận ý nghĩa của các tổ chức xã hội dân sự, hầu hết các nhà nghiên cứu về chính trị học trên thế giới đều cho xã hội dân sự là một trong những nền tảng chính của dân chủ. Với họ, xã hội dân sự còn quan trọng hơn cả thế chế. Có nhiều nước có thể chế dân chủ, nghĩa là có bầu cử tự do và có tam quyền phân lập nhưng vẫn không có dân chủ hoặc nếu có, tính chất dân chủ ấy cũng rất bấp bênh. Kinh nghiệm tại các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi sau cuộc cách mạng mùa xuân Ả Rập vào năm 2011 là ví dụ. Sau khi chế độ độc tài bị lật đổ, dân chúng được tự do bầu cử, nhưng các chính phủ mới được dựng lên từ các cuộc bầu cử ấy không hẳn là dân chủ thật. Lý do? Có nhiều, nhưng lý do quan trọng nhất là ở đó chưa có các tổ chức xã hội dân sự, hoặc có, chỉ có một cách èo uột. Sự khác nhau trong tiến trình dân chủ hoá tại các quốc gia Đông Âu sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ cũng vậy: ở đâu xã hội dân sự mạnh, ở đó dân chủ được xây dựng vững chắc, ngược lại, ở đâu xã hội dân sự còn manh nha và rời rạc, ở đó, nguy cơ quay lại độc tài rất cao.
Được hiểu là một tập hợp tự nguyện của một số công dân nhắm đến việc phục vụ cho một lý tưởng chung, xã hội dân sự có tác dụng củng cố ba đặc điểm vốn được xem là nền tảng của mọi tiến trình dân chủ hoá: ý thức về quyền của mỗi cá nhân; ý thức về trách nhiệm của cá nhân đối với tập thể; và ý thức về sự hợp tác giữa các cá nhân với nhau vì một mục đích chung của cả tập thể. Không thể có dân chủ nếu không có ba loại ý thức ấy.
May, mặc dù bị chính phủ cấm đoán, các tổ chức xã hội dân sự đang dần dần hình thành tại Việt Nam. Họ đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình với những mục tiêu khác nhau tại Việt Nam, từ việc chống Trung Quốc đến việc bảo vệ cây xanh tại Hà Nội cũng như việc yêu cầu sự minh bạch trong vấn đề môi trường ở miền Trung. Tuy nhiên, việc làm đáng kể nhất của họ, cho đến nay, là lên tiếng phản biện lại các chính sách của nhà cầm quyền. Trên các mạng lưới truyền thông xã hội, nhiều người trong họ không ngừng phát hiện những sai trái trong phát biểu cũng như hành động của chính phủ.
Những sự phản biện của họ có hiệu quả hay không?
Tôi nghĩ là có.
Trước đây, mỗi lần nhắc đến hiện tượng ngư dân Việt Nam bị các tàu hải giám của Trung Quốc đâm chìm hay cướp bóc, truyền thông Việt Nam chỉ dám dùng chữ “tàu lạ”. Chữ “tàu lạ” ấy bị mỉa mai và phê phán gay gắt chủ yếu trên các mạng lưới truyền thông xã hội vốn được xem là thuộc “lề trái”. Sự mỉa mai và phê phán ấy khiến nhà cầm quyền chột dạ. Gần đây, mỗi lần nhắc đến các sự cố tương tự, báo chí chính thống đều nhất loạt gọi đích danh Trung Quốc. Sự thay đổi ấy sẽ không thể có nếu không có sự đóng góp của những người phản biện.
Mới đây, vào ngày 8 tháng 8, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đoàn tuỳ tùng ghé thăm khu Phố cổ Hội An. Chuyến viếng thăm sẽ không có điều gì đáng nói nếu đoàn xe hơi của phái đoàn do ông dẫn đầu không chạy vào con đường đi bộ dành cho du khách. Không có tờ báo chính thống nào ở Việt Nam đề cập đến chi tiết ấy. Nhưng nó không thoát khỏi mắt của dân chúng. Nhiều người chụp hình đoàn xe và đưa lên facebook. Các bức hình ấy được phát tán nhanh chóng và thu hút sự chú ý của quần chúng, làm rộ lên những sự phê phán gay gắt đối với việc lộng quyền của thủ tướng. Cuối cùng, chưa tới mười ngày sau, trong cuộc hội nghị về công tác cải cách hành chính, ông Nguyễn Xuân Phúc công khai xin lỗi; sau đó, chính quyền tỉnh Quảng Nam cũng công khai xin lỗi về việc để đoàn xe của thủ tướng đi vào khu phố cổ.
Những lời xin lỗi ấy không thể có nếu không có những sự phê phán của quần chúng trên các phương tiện truyền thông xã hội.
Nhìn từ góc độ ấy, những người “chỉ biết nói”, theo lời của bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đã có đóng góp, dù nhỏ, vào tiến trình dân chủ hoá cũng như việc xây dựng đất nước. Chính họ, chứ không phải ai khác, là những kẻ gieo mầm dân chủ cho Việt Nam.
NGUYỄN HƯNG QUỐC